THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label KinhTe - TaiChinh. Show all posts
Showing posts with label KinhTe - TaiChinh. Show all posts

11 December 2013

KINH TẾ VIỆT NAM SẼ ĐI NGANG BAO LÂU !

Công nhân đang xây tường cho một công trường xây dựng khách sạn ở thành phố du lịch, Đà Nẵng.
Công nhân đang xây tường cho một công trường xây dựng khách sạn ở thành phố du lịch, Đà Nẵng.
AFP
RFA - 10/12/2013
Một báo cáo mới đây của ngân hàng HSBC về kinh tế Việt Nam cho rằng nền kinh tế đang dần đi vào ổn định, thế nhưng nếu những vấn đề cơ bản của Việt Nam như tái cơ cấu không được thực hiện rốt ráo, thì kinh tế Việt Nam sẽ có nguy cơ “đi ngang” trong nhiều năm. Liệu điều này sẽ sớm được giải quyết, tìm hiểu vấn đề, Vũ Hoàng trình bày trong phần sau.
Tiến trình cải cách diễn ra chậm chạp
Hôm 2/12 vừa qua, ngân hàng HSBC phổ biến bản báo cáo với quan điểm khá tương đồng với kết quả của kỳ họp Quốc hội vừa kết thúc rằng “tiến trình cải cách diễn ra chậm chạp” theo đó khu vực quốc doanh hiện vẫn chiếm 2/3 nền kinh tế, những điểm nóng cơ bản như: cơ sở hạ tầng đô thị, chất lượng sản xuất nông nghiệp, thị trường tài chính…vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Đặc biệt, báo cáo của HSBC nhận định thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân là chìa khóa tạo ra nhu cầu mạnh hơn và tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn cho Việt Nam, tuy nhiên, kỳ họp Quốc hội kết thúc mà không đưa ra tín hiệu cụ thể nào về thay đổi vai trò của các doanh nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế.
Riêng về mặt con số, nhìn chung, kết luận của cả Quốc hội Việt Nam hay của Ngân hàng Thế giới (WB) đều dự đoán, kinh tế Việt Nam trong 2 năm tiếp theo vẫn xoay quanh mức 5,4% đến 5,5% với không nhiều đột biến và tầm nhìn trong trung hạn ở mức độ ổn định xét về mặt cán cân thanh toán. Theo lời bà Victoria Kwakwa nhận xét trong bản phúc trình hôm 3/12 cho hay Việt Nam cần “tập trung quan tâm tới tốc độ cải cách cấu trúc, đang diễn ra khá chậm, để lập lại vị trí của mình trong lộ trình tăng trưởng cao hơn”. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới còn chỉ rõ Việt Nam cần phải cố gắng cân bằng mục tiêu kép là tăng trưởng nhanh và ổn định kinh tế vĩ mô.
Việt Nam cần “tập trung quan tâm tới tốc độ cải cách cấu trúc, đang diễn ra khá chậm, để lập lại vị trí của mình trong lộ trình tăng trưởng cao hơn”
bà Victoria Kwakwa
Ngoài ra, báo cáo của cũng đề cập tới một số rủi ro chính mà VN đang đối mặt là dự trữ ngoại tệ thấp; cầu của khu vực kinh tế tư nhân còn mong manh; nguy cơ không giữ được kỷ cương tài khóa và tiền tệ; tiến bộ trong các cải cách cơ cấu chậm chạp; và việc mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Nhận xét chung về kinh tế Việt Nam trong năm 2013, T.S Nguyễn Minh Phong, Chuyên gia kinh tế, nguyên cán bộ Viện Nghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Hà Nội đưa ra quan điểm của ông:
Nền kinh tế Việt Nam năm 2013 cũng giống bức tranh chung của kinh tế thế giới, đó là năm khó khăn nhất từ năm 2008 cho đến nay, thể hiện của nó là những dự báo của các tổ chức thế giới và trong nước là mỗi lần điều chỉnh mới lại có sự sụt giảm so với lần điều chỉnh trước, điển hình là của IMF khi nhận định về tình hình kinh tế thế giới chung, sau 4 lần điều chỉnh giảm từ 3,6% xuống còn 2,9% và kinh tế Việt Nam cũng có sự suy giảm. Mặc dù là năm khó khăn nhất nhưng nó đã kiên định những điều kiện quan trọng để năm sau có những lực tốt hơn. Trên thực tế, Việt Nam cũng đặt ra các mục tiêu tăng trưởng năm sau nhích hơn năm 2013 này và thế giới cũng nhìn nhận Việt Nam trong năm 2014 sẽ có sự phát triển cao hơn.
Thêm vào đó, T.S Nguyễn Minh Phong cho biết rằng, trong số 15 chỉ tiêu Chính phủ đề xuất thì đến thời điểm hiện tại đã có 12 chỉ tiêu đạt được mục tiêu, cụ thể là một số tiêu chí như: đầu tư FDI, ODA, xuất khẩu, thăng hạng đầu tư, lạm phát, ổn định đồng tiền nội tệ… mặc dù vậy, theo ông thì vẫn còn 3 chỉ tiêu là nợ xấu, hàng tồn kho vẫn còn cao và nhất là tái cấu trúc nền kinh tế vẫn là những thách thức còn đeo bám.
Những trở ngại vừa được nhắc tới cũng trùng hợp với bản báo cáo của HSBC rằng nếu Việt Nam không có những tiến bộ đáng kể với cơ cấu nền kinh tế, Việt Nam có nhiều nguy cơ chỉ có thể dịch chuyển ngang trong nhiều năm tới.
“Nền kinh tế có thể chạm đáy, nhưng vẫn chưa chạm đáy “tồn kho thể chế”, đáy rủi ro, đáy lòng tin, chưa đụng đến mô hình và khả năng tiếp tục vẫn “thủng đáy”
T.S Trần Đình Thiên
Kinh tế VN tăng trưởng tốt hay trong lộ trình “xuống đáy”?
Cùng nhận định của T.S Nguyễn Minh Phong rằng kinh tế Việt Nam năm 2013 là khó khăn nhất trong vòng 5 năm qua, điều này cũng được T.S Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế VN chia sẻ với truyền thông trong nước.
Theo đó, ông Thiên phân tích mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã đi qua, nhìn chung, các nước bước vào quỹ đạo phục hồi nhưng Việt Nam không nằm trong quỹ đạo đó. Vị viện trưởng này chỉ rõ rằng nền kinh tế Việt Nam đang trong lộ trình “xuống đáy” hiện tại kinh tế đang bị “nghẽn mạch tăng trưởng” nặng nề. Hơn nữa, ông Thiên còn ví von: “nền kinh tế có thể chạm đáy, nhưng vẫn chưa chạm đáy “tồn kho thể chế”, đáy rủi ro, đáy lòng tin, chưa đụng đến mô hình và khả năng tiếp tục vẫn “thủng đáy””
Tôi hy vọng và rất là mong đợi những lời tuyên bố của Thủ tướng sẽ thành hiện thực vì điều ấy sẽ tốt cho người dân và nền kinh tế Việt Nam. Tuy vậy điều ấy có biến thành hiện thực hay không thì vẫn có nhiều câu hỏi
T.S Lê Đăng Doanh
Mặc dù, giới chuyên gia và ngân hàng quốc tế nhìn nhận nền kinh tế nội địa còn khá khó khăn, nhưng người đứng đầu chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại tỏ ra lạc quan khi mới đây cho rằng năm tới, tốc độ tăng trưởng năm tới có thể là 5,8%, 2015 và những năm tiếp sau là 6% và cao hơn. Nhận xét về lời tuyên bố trên, T.S Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện quản lý Kinh tế Trung ương đưa ra quan điểm của ông với đài chúng tôi:
Tôi hy vọng và rất là mong đợi những lời tuyên bố của Thủ tướng sẽ thành hiện thực vì điều ấy sẽ tốt cho người dân và nền kinh tế Việt Nam. Tuy vậy điều ấy có biến thành hiện thực hay không thì vẫn có nhiều câu hỏi. Bởi vì những khó khăn và những vấn đề của kinh tế Việt Nam thì vẫn đang còn ở phía trước chưa giải quyết được.
Thí dụ như vấn đề tái cấu trúc đầu tư công cũng chưa giải quyết được, rồi vấn đề tái cấu trúc các Tập đoàn và Doanh nghiệp Nhà nước cũng chưa giải quyết được. Con số gần đây cho thấy là các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước có món nợ tổng cộng lên đến một triệu năm trăm tám mươi tám ngàn tỷ đồng, tức là một con số cực lớn và chưa biết số nợ đó sẽ được giải quyết như thế nào. Ngoài ra ngân sách Nhà nước cũng gặp khó khăn rất lớn và có lẽ cũng phải điều chỉnh lại. Và Nông nghiệp Nông dân Nông thôn Việt Nam cũng đang rất cần cuộc cải tổ và điều chỉnh để bơm thêm tín dụng vào cho nông nghiệp và nông dân có thể phát triển được mạnh mẽ hơn.
Quay lại với bản báo cáo của Ngân hàng Thế giới rằng về tăng trưởng dài hạn, năng lực cạnh tranh đang là vấn đề Việt Nam cần cải thiện vì các chỉ số báo cáo môi trường kinh doanh của Việt Nam cho thấy các chỉ số chính giúp Việt Nam cạnh tranh đang bị tụt hậu, đặc biệt, thể chế tài chính quốc tế này nhấn mạnh tham nhũng từ lâu vẫn được coi là vấn đề nghiêm trọng, làm suy yếu sức tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.
Có thể nhận thấy, quan điểm nền kinh tế Việt Nam có thể đang nằm đáy, sẽ đi ngang hoặc có thể sẽ bứt phá trong tương lai vẫn chỉ là những dự đoán mang tính chất tham khảo. Mặc dù vậy, mấu chốt cơ bản đều được các chuyên gia đồng nhất là chỉ khi Việt Nam giải quyết được vấn đề then chốt tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế thì lúc đó hướng chuyển dịch thực sự của nền kinh tế mới được xác định rõ ràng.

10 December 2013

KHÁI NIỆM KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

state-entreprise
Mẫu số kinh tế quốc dân càng lớn, tỉ trọng DNNN càng nhỏ
Courtesy of phatthinhvt.vnn.vn

RFA- 09/12/2013

Kinh tế Nhà nước bao hàm khu vực DNNN

T.S Nguyễn Minh Phong: Ở Việt Nam, khái niệm “kinh tế Nhà nước” và “doanh nghiệp Nhà nước” (DNNN) cũng được hiểu không chính xác lắm ở nhiều nhóm đối tượng hay ở nhiều quãng thời gian khác nhau. Trên nguyên tắc, mặc dù, kinh tế Nhà nước và DNNN đều phản ánh những tài sản vật chất và phi vật chất thuộc về sở hữu toàn dân mà do Nhà nước đại diện sở hữu và thống nhất quản lý theo như pháp luật trước đây và được tái khẳng định lại trong Hiến pháp 1992 sửa đổi mới được thông qua cách đây vài hôm.
Trước đổi mới, 2 khái niệm này được sử dụng khá gần nhau vì hồi đó chỉ có một thành phần kinh tế là Nhà nước, cho nên kinh tế NN, DNNN khá gần nhau và dùng trùng hợp, không có gì sai biệt lớn. Nhưng kể từ khi đổi mới đến nay, đã có sự phân biệt ngày càng rõ hơn và điều này đã được thể hiện trong thống kê nhà nước, đã có sự phân định nội hàm của kinh tế Nhà nước và DNNN theo 3 giai đoạn, trong đó, ngày càng khẳng định rõ hơn kinh tế NN là một tổ hợp bao trùm tổng thể, là tất cả tài sản của DNNN, tất cả các tài sản thuộc về các công ty hoạt động theo Luật DN mà do nhà nước có sở hữu. Bên cạnh đấy, kinh tế nhà nước gồm cả những phần tài sản liên quan tới tài nguyên thiên nhiên, đất đai, tài nguyên trên trời cũng như dưới lòng lãnh hải của Việt Nam, ngoài ra, còn bao gồm tất cả các đơn vị sự nghiệp, kể cả các tổ chức chính trị, chính trị xã hội mà ăn lương ngân sách. Về mặt phạm trù, đây là một phạm trù rất rộng, nếu về mặt giá trị thì bao gồm những giá trị không tính hết bằng tiền. Nếu xét về mặt tỷ trọng tuyệt đối của kinh tế mặt lượng và chất, thì không một khu vực kinh tế khác nào có thể so sánh được.
Về nguyên tắc, DNNN ngày càng có sự phân định rõ hơn.  Trước đây, đó là những DNNN hoạt động theo Luật DNNN, nhưng đến khi Luật DNNN bỏ vào năm 2010 để cam kết hội nhập, tất cả các DN hoạt động chung theo Luật DN, thì lúc này, DNNN bao gồm: Một là, những DN do Nhà nước sở hữu 100% và chuyển đổi hoạt động thành công ty TNHH một hoặc hai thành viên do NN sở hữu 100%. Thứ hai, phần vốn và tài sản của các DNNN đã cổ phần hóa mà vẫn còn ở những DN hoạt động theo luật DN. Thứ ba, một số phần vốn nằm trong các DN do các tổ chức chính trị xã hội khác nắm giữ và hoạt động theo luật DN, đó là khái niệm DNNN.

DNNN không thể 'chỉ đạo'

Vũ Hoàng: Vậy theo như giải thích của T.S thì điều này có nghĩa rằng DNNN chỉ là một bộ phận của KTNN và không thể “đánh đồng” giữa 2 khái niệm này?
T.S Nguyễn Minh Phong: Trong so sánh như vậy, có thể thấy rõ ràng DNNN chỉ là một bộ phận của Kinh tế NN, vì thế, khi mà Hiến pháp đưa ra khẳng định “kinh tế NN là chủ đạo” thì điều đó hoàn toàn hợp lý xét theo cách hiểu về nội hàm như đã nói ở trên. DNNN rất khó có thể đóng một vai trò chủ đạo mãi mãi được, về nguyên tắc, nó càng ngày càng bị thu hẹp cả về quy mô lẫn tỷ trọng, cũng như lĩnh vực tham gia. Theo chủ trương của Đảng và NN Việt Nam thì trong thời gian tới, DNNN sẽ tập trung nhiều hơn vào lĩnh vực hạ tầng, phúc lợi xã hội, những lĩnh vực tạo điều kiện cho các DN khác hoạt động chứ không còn trong lĩnh vực kinh doanh thuần túy đặc biệt là về lợi nhuận nữa.
Hiện nay, có tới 50% số các tỉnh của VN (tức là trên 30 tỉnh) không còn các DNNN hoạt động vì lợi nhuận, mà chỉ còn hoạt động vì công ích. Điều này cho thấy, vai trò chủ đạo của kinh tế NN là đương nhiên, nhưng nó không che lấn, không ngăn cản các hoạt động của các DN khác mà nó hoàn toàn bình đẳng với các DN khác theo nghĩa mọi DN đều được làm những việc mà pháp luật không cấm, tiếp cận với các nguồn vốn, các nguồn lực đầu tư là như nhau. Những thời kỳ bao cấp, tín chấp dành cho DNNN dường như đã giảm thiểu rất nhiều và càng ngày càng không còn nữa. Đặc biệt, trong thời gian tới đây, VN chính thức tuân thủ và được công nhận kinh tế thị trường thì chắc chắn sự bình đẳng đó là theo đúng các cam kết hội nhập, vì thế, nếu ai đó hiểu rằng Kinh tế Nhà nước chủ đạo đồng nghĩa với DNNN chủ đạo là không đúng.

Mẫu số kinh tế càng to, tỉ trọng DNNN càng nhỏ

Vũ Hoàng: Theo T.S, trong thời gian tới, VN cần làm gì để nâng cao hơn nữa hiệu quả của khu vực KTNN cũng như DNNN ạ?
state-entreprise
Mẫu số kinh tế quốc dân càng lớn, tỉ trọng DNNN càng nhỏ
T.S Nguyễn Minh Phong: Có một ngộ nhận là dường như có một số ai đó hiểu rằng cải cách nhà nước có nghĩa là làm cho Kinh tế NN cũng như DNNN ngày càng bé đi, yếu đi và thậm chí xóa bỏ. Chúng tôi cho rằng đây là một ngộ nhận cực đoan, bởi trên thực tế của tất cả các nước trên thế giới, kể cả Mỹ, Nhật, Anh, Đức…thì nước nào cũng còn ít hay nhiều các tỷ trọng trong nền kinh tế của khu vực kinh tế nhà nước cũng như của DNNN. Thường các tỷ trọng này chiếm từ 5% đến 20%, hiện nay, DNNN Việt Nam đang chiếm khoảng 30% GDP.
Vì thế, trong rất nhiều chủ trương của Đảng và NN, được nhiều chuyên gia VN phát biểu và được ghi nhận thì xu hướng tới đây, Kinh tế NN có thể giảm chậm hơn vì nó bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên, rồi lãnh hải…sẽ giảm chậm trừ khi chúng ta thay đổi quan niệm nội hàm thì sẽ khác. Nhưng DNNN sẽ giảm nhanh hơn về tỷ trọng bởi 2 lý do: Thứ nhất, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, mẫu số càng to, DNNN trên mẫu số càng to thì tỷ trọng càng nhỏ đi. Thứ hai, chúng ta tiếp tục cổ phần hóa mạnh hơn nữa, đặc biệt là giảm thiểu những loại doanh nghiệp nào mà không cần thiết nắm giữ 100%, cũng như không cần thiết nắm giữ các tỷ lệ cổ phần tuyệt đối khống chế, thì rõ ràng sẽ khiến tỷ trọng của DNNN giảm xuống.
Để nâng cao hiệu quả DNNN, sắp tới sẽ có những cải cách khá mạnh về mặt thể chế, đặc biệt là luật Đầu Tư Công ra đời, trong đó sẽ có điều chỉnh một phần những hoạt động của kinh tế Nhà nước, của đầu tư công. Đáng tiếc là chưa đưa vào đó các hoạt động của DNNN sẽ được điều chỉnh bởi một nghị định liên quan đến kinh doanh vốn NN, cũng như quản lý vốn tài sản NN ở các DN sắp tới cũng sẽ được Chính phủ xem xét thông qua và sẽ được nâng lên thành pháp luật. Dù là dưới hình thức nào, xu hướng chung của lãnh đạo VN là ngày càng bình đẳng hóa với các DN khác theo luật DN chung cũng như theo cam kết hội nhập. Thứ hai nữa, ngay cả các hoạt động công ích cũng cần phải mở rộng, không đóng gói, kín mít chỉ giữa DNNN với nhau mà mở ra để thực hiện đấu thầu.
Bên cạnh đó, trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm quy trình quản lý hoạt động kinh doanh và giám sát xã hội, đồng thời các chế tài cũng sẽ được làm tốt hơn, minh bạch hơn, cụ thể hơn. Tất cả những điều đó, sẽ giúp cho DNNN trở nên minh bạch hơn và việc quản lý khác cũng sẽ tốt hơn.
Vũ Hoàng: Xin cám ơn T.S rất nhiều đã dành thời gian cho đài chúng tôi.

09 December 2013

Tiếp tục siết cho vay ngoại tệ

09/12/2013 09:17 (GMT + 7)
TTO - Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa ban hành Thông tư 29 quy định cho vay bằng ngoại tệ. Thông tư mới vẫn giữ nguyên quy định về đối tượng vay nhưng gia hạn thời hạn cho vay thêm một năm so với quy định cũ.

Theo thông tư mới ban hành, NHNN sẽ kiểm soát chặt hơn việc cho vay bằng ngoại tệ - Ảnh: T.Đạm

Cụ thể, việc cho vay ngắn hạn ngoại tệ đối với DN đầu mối nhập khẩu xăng dầu và cho vay ngắn hạn ngoại tệ đáp ứng các nhu cầu vốn ở trong nước nhằm thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu biên giới được tiếp tục thực hiện đến hết 31-12-2014 thay vì 31-12-2013 như trước.
Tuy nhiên, theo thông tư mới ban hành NHNN kiểm soát chặt hơn việc cho vay bằng ngoại tệ bằng cách yêu cầu các NH phải báo cáo cụ thể về tình hình tài chính, hoạt động sản xuất, kinh doanh, nguồn trả nợ vay của khách.
Bên cạnh đó, các NH còn phải báo cáo cụ thể về nguồn vốn bằng ngoại tệ để thực hiện cho vay, đồng thời cam kết và đảm bảo cân đối được nguồn vốn bằng ngoại tệ phù hợp với thời hạn và mức vốn cho vay trong khi trước đây các NH chỉ cần đảm bảo cân đối được nguồn vốn bằng ngoại tệ để cho vay.
A.H.

08 December 2013

Nợ công của TP.HCM hơn 12.000 tỉ đồng


Nợ công của TP.HCM hơn 12.000 tỉ đồng

08/12/2013 08:27 (GMT + 7)
TT - UBND TP.HCM vừa báo cáo cấp thẩm quyền tình hình nợ công của ngân sách TP năm 2013.
Theo đó, đến cuối năm nay dự kiến tổng nợ công của ngân sách TP hơn 12.000 tỉ đồng, trong đó trái phiếu chính quyền địa phương là hơn 10.000 tỉ đồng và tạm ứng vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước hơn 2.000 tỉ đồng. UBND TP khẳng định nợ này chưa vượt tỉ lệ 100% quy định của Chính phủ.
Tuy nhiên, theo UBND TP, năm 2014 dự toán chi đầu tư phát triển từ nguồn cân đối ngân sách được bố trí hơn 7.700 tỉ đồng, giảm gần 19% so với dự toán năm 2013 do chỉ tiêu thu ngân sách của năm 2014 giảm so với năm 2013. Theo báo cáo của UBND TP, năm 2014 phải thanh toán các khoản nợ vay đến hạn gồm nợ gốc và lãi là hơn 3.300 tỉ đồng.
GIÁNG HƯƠNG

04 December 2013

Bán bớt doanh nghiệp nhà nước lấy tiền tiêu!

-  Việc bán 1 phần các DNNN sẽ giúp bù đắp ngân sách trong giai đoạn khó khăn hiện nay, thay vì giảm lương tối thiểu hay tận thu từ các nguồn khác.

Tại Diễn đàn DN Việt Nam (VBF) cuối kỳ, với chủ đề "Từ chương trình tới hành động", diễn ra tại Hà Nội ngày 3/12/2013, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đặt câu hỏi về quyết tâm trong cải cách doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) khi thấy tiến độ quá chậm.
Hiệu quả thấp, nợ cao
Đại diện Phòng Thương mại châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) cho rằng, các thống kê cho thấy, DNNN đang chiếm tới 40% toàn bộ nền kinh tế và đang được hưởng ưu đãi, đối xử đặc biệt của Nhà nước về tiếp cận nguồn vốn, đất đai so với DN tư nhân và DN có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng thường có lợi nhuận thấp, hoạt động không hiệu quả, thua lỗ lớn...
Theo số liệu, dư nợ của các DNNN hiện lên tới trên 1,35 triệu tỷ đồng, trong đó 20%-30% là nợ không thể trả được. Nhiều tập đoàn, tổng công ty hiện không tự chủ được về tài chính, đang hoạt động phụ thuộc vào nguồn vốn vay nên chi phí tài chính lớn. Một số tập đoàn, tổng công ty đang có nợ quá hạn lớn, kinh doanh thua lỗ, âm vốn chủ sở hữu...
Đến nay, các DNNN phần lớn không có sản phẩm, dịch vụ tốt, đã làm giảm khả năng cạnh tranh của DN Việt Nam nói chung khi gia nhập thị trường khu vực cũng như quốc tế và kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế.
DNNN, thua-lỗ, bình-đẳng, cạnh-tranh, kinh-tế, ưu-đãi, tư-nhân, nước-ngoài, đầu-tư, Chính-phủ.
Nhiều dự án xi măng của DNNN được ưu đãi lớn từ Chính phủ nhưng kinh doanh thiếu hiệu quả
DNNN được hưởng nhiều ưu đãi sẽ có khả năng kiểm soát, chi phối thị trường, từ đó ảnh hưởng đến cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN với DN tư nhân, hạn chế khả năng phát triển của khối tư nhân.
Trong khi đó, tham nhũng và xung đột lợi ích đã trở thành những vấn đề đáng lo ngại trong khu vực DNNN. Dư luận đang băn khoăn, lo lắng liệu tập đoàn Nhà nước nào tiếp theo sẽ thất bại từ việc mở rộng hoạt động quá mức hay tập đoàn nào sẽ phải kê các tài sản xấu vào bảng cân đối kế toán?
Mạnh dạn bán
Trong khi đó, ngân sách Nhà nước ngày càng hạn hẹp, nhu cầu chi tiêu, đầu tư công rất lớn, nguồn thu từ thuế giảm, do kinh tế khó khăn. Đây là thời điểm Việt Nam cần có những quyết định sáng suốt hơn về chi tiêu nguồn vốn và chiến lược kinh doanh, ông Steven Winkelman, Phó chủ tịch Phòng Thương mại Mỹ tại Việt Nam nhận định.
Ước tính, tổng giá trị thị trường của phần vốn Nhà nước tại 11DN trong nhóm 20 DN lớn nhất niêm yết trên thị trường chứng khoán tp Hồ Chí Minh là 14,8 tỷ USD. Việc bán 1 phần các DN này dễ dàng bù đắp ngân sách trong giai đoạn khó khăn hiện nay, thay vì giảm lương tối thiểu hay tận thu từ các nguồn khác. Nhiều ngành nghề Nhà nước nắm giữ tỷ lệ lớn như sản xuất hàng tiêu dùng, phân bón... không phải là ngành nhạy cảm.
DNNN, thua-lỗ, bình-đẳng, cạnh-tranh, kinh-tế, ưu-đãi, tư-nhân, nước-ngoài, đầu-tư, Chính-phủ.
Tuy nhiên tiến độ cải cách DNNN đang diễn ra hết sức chậm. Tốc độ cổ phần hóa từ 800 DN trong năm 2004-2005, giảm xuống còn hơn 30 DN năm 2012 và khoảng 100 DN trong năm 2013, thấp xa so với kế hoạch đề ra.
Không những thế, nhiều DNNN đã được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, hoặc công ty cổ phần với việc Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối, lại chưa có quy chế về quản trị và giám sát đặc thù trong điều hành hoạt động.
Việt Nam hiện còn thiếu, hoặc chưa thực thi đầy đủ những quy trình, cơ chế đảm bảo DNNN chịu trách nhiệm trước cổ đông, tình trạng này có thể tiếp tục dẫn đến hoạt động thiếu hiệu quả, sử dụng vốn Nhà nước sai mục đích, ông Seck Yee Chung, Phó Chủ tịch Hiệp hội DN Singapore cho biết.
Các nhà đầu tư nước ngoài hối thúc Chính phủ phải đẩy nhanh tiến trình cải cách DNNN. Chính phủ cần rà soát lại, những DN nào thua lỗ kéo dài, không thể cứu vãn thì nên cho giải thể, DN có tiềm năng thì có thể bán, đừng cổ phần hóa theo kiểu giữ cổ phần chi phối. Cần giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước trong các DN không thuộc diện nhạy cảm và tăng tỷ lệ của nhà đầu tư bên ngoài.
Ngoài ra, với những DNNN đang tồn tại, để hoạt động, cạnh tranh hiệu quả, cần phải tuân thủ các quy luật thị trường, cạnh tranh bình đẳng với các DN tư nhân.
Cần xóa bỏ sự phân biệt giữa DNNN và DN tư nhân trong mọi lĩnh vực. Đừng nên để tình trạng như trong sản xuất xi măng vừa qua, các DNNN được hưởng quá nhiều ưu đãi, như tiếp cận vốn lớn, được Chính phủ bảo lãnh, thậm chí có DNNN còn được phép hạ giá bán xuống thấp hơn chi phí để tạo ra dòng tiền, nhưng kết quả là thua lỗ và dư thừa nguồn cung, đại diện EuroCham, ông Preben Hjortlund cho biết.
Theo ông Seck Yee Chung, để đảm bảo cạnh tranh bình đẳng, Chính phủ cần phân biệt rõ vai trò hoạch định chính sách và chủ sở hữu DN của mình.
"Là người hoạch định chính sách Chính phủ cần phải điều tiết thị trường theo hướng không phân biệt đối xử giữa DNNN với DN tư nhân. Còn là chủ sở hữu Chính phủ phải đảm bảo DNNN hoạt động hiệu quả bền vững", ông Seck Yee Chung nhấn mạnh.
Còn kéo dài tình trạng như hiện nay, DNNN được cấp tiền để làm ăn, nhưng thua lỗ, rồi lại được cấp tiếp, rồi thua lỗ... khi các khoản nợ không trả nổi, được khoanh lại, rồi được xóa nợ, sau đó các ngân hàng của Nhà nước lại cho vay tiếp thì không những không có hiệu quả mà còn trở thành gánh nặng.
Trần Thủy

Kinh tế Việt Nam lệ thuộc nặng vào nước ngoài


HÀ NỘI (NV)
 -03/12/2013 --  Xuất cảng của Việt Nam đang lệ thuộc vào sự tăng trưởng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Còn sản xuất thì phụ thuộc nguyên liệu, vật liệu của Trung Quốc.

Trò chuyện với tờ Thanh Niên, ông Trần Ðình Thiên, viện trưởng Viện Kinh Tế Việt Nam, dẫn trường hợp của các nhà máy Samsung tại Việt Nam để chứng minh cho thực trạng, xuất cảng của Việt Nam đang lệ thuộc vào sự tăng trưởng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Theo đó, kim ngạch xuất cảng của các nhà máy Samsung ở Việt Nam hiện chiếm tới 20% tổng kim ngạch xuất cảng hàng hóa của Việt Nam và bằng kim ngạch xuất cảng của tất cả các sản phẩm nông nghiệp cộng lại.



Thu hoạch thanh long xuất cảng, kim ngạch xuất cảng của toàn bộ sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam chỉ bằng kim ngạch xuất cảng của các nhà máy Samsung tại Việt Nam. (Hình: Thanh Niên)
Nếu tính trên tổng kim ngạch, xuất cảng của Việt Nam lệ thuộc gần như hoàn toàn vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Dẫn báo cáo của Tổng Cục Thống Kê, theo đó, kim ngạch xuất cảng của 10 tháng năm 2013 đạt 108 tỉ USD, tờ Thanh Niên cho biết, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt 72.1 tỉ USD, chiếm khoảng 60% tổng kim ngạch trong khi các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đạt 35.9 tỉ USD.
Trong khi chính quyền Việt Nam hoan hỉ với việc xuất cảng của Việt Nam vẫn tăng trưởng đều đặn thì khoảng cách giữa giá trị hàng hóa xuất cảng của các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam không ngừng mở rộng.

Năm 2012, kim ngạch xuất cảng đạt 114.6 tỉ USD nhưng các doanh nghiệp Việt Nam chỉ chiếm 42.3 tỉ USD, phần lớn còn lại là của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.
Nếu trong hai năm 2009 và 2010, tăng trưởng xuất cảng của các doanh nghiệp Việt Nam và của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài gần như ngang nhau thì ba năm gần đây, do các doanh nghiệp Việt Nam chết hàng loạt, tăng trưởng xuất cảng từ 22.7% hồi 2011 tụt xuống chỉ còn 1.3% năm 2012, rồi lên lại một chút, đạt mức 3% trong 10 tháng đầu năm nay.

Cách nay 15 năm, do có lợi thế vì giá nhân công trẻ, rẻ, đông, Việt Nam từng bày tỏ tham vọng sẽ sớm trở thành quốc gia có tên tuổi trong lĩnh vực cung cấp nhu liệu cho thế giới. Song đến nay, chưa doanh nghiệp nào thoát khỏi thân phận gia công.

Năm 2012, xuất khẩu sản phẩm công nghệ thông tin của Việt Nam đạt 22.9 tỉ USD, cao hơn nhập khẩu 3.5 triệu USD nhưng những người trong cuộc thừa nhận, ở lĩnh vực này, Việt Nam chỉ được hưởng xương.
Ông Nguyễn Hữu Thái Hòa, giám đốc chiến lược của Tập đoàn FPT, tập đoàn sản xuất nhu liệu lớn nhất Việt Nam, thừa nhận, IBM và Oracle đã thu 60% số tiền FPT kiếm được.

Kim ngạch xuất cảng của Việt Nam được nhận định là vẫn phụ thuộc vào các ngành xuất cảng chuyên gia công vì đông lao động như dệt may, da giày và giá gia công càng ngày càng rẻ. Ông Lê Quang Hùng, chủ tịch công ty May Sài Gòn (Garmex) cho biết, mười năm qua, giá gia công hàng may mặc chỉ tăng khoảng 20%-30%, trong khi lương công nhân và các chi phí (điện, nước, xăng dầu) tăng hơn 100% thành ra khó có lãi.
Sau vài thập niên gia công, cơ cấu ngành may vẫn như trước, 70% là gia công cắt ráp thuần túy (CMT), 25% là FOB (mua nguyên liệu về sản xuất rồi bán thành phẩm thay vì làm hàng gia công), 70% nguyên phụ liệu ngành may phải nhập khẩu.

Trong khi kim ngạch xuất cảng của Việt Nam lệ thuộc vào sự tăng trưởng của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài thì các cơ sở sản xuất của Việt Nam phụ thuộc ngày càng lớn vào nguyên liệu và vật liệu của Trung Quốc.

Theo Bộ Công Thương Việt Nam, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng từ 210 triệu đô la vào năm 2010 lên 19.6 tỉ đô la trong năm nay. Nói cách khác, chỉ trong ba năm từ 2010 đến 2013, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng hơn 93 lần.

Bà Nguyễn Việt Chi, vụ phó Vụ Thị Trường Châu Á-Thái Bình Dương, thuộc Bộ Công Thương, nói thêm rằng, việc nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu từ Trung Quốc hiện chiếm từ 70% đến 80% kim ngạch nhập khẩu. Do sản xuất tại Việt Nam càng ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu, vật liệu do Trung Quốc sản xuất, Bộ Công Thương Việt Nam chỉ hạn chế nhập khẩu những loại nguyên liệu, vật liệu mà Việt Nam đã sản xuất được. Bộ này thú nhận, nhập siêu từ Trung Quốc rất đáng báo động. Năm ngoái, mức nhập siêu từ Trung Quốc là 16,7 tỉ đô la. Trong 10 tháng đầu năm nay con số này đã lên đến 19.6 tỉ USD. Bộ Công Thương của Việt Nam cho rằng, nếu công nghiệp hỗ trợ, cách gọi ngành công nghiệp chuyên sản xuất và cung cấp nguyên liệu, vật liệu không phát triển, Việt Nam không thể giảm nhập siêu từ Trung Quốc. 

NỢ XẤU NGÀY CÀNG XẤU

SỐNG MỚI- 03/12/2013

Kể từ khi công cuộc “trảm nợ” được triển khai rầm rộ, thì nợ xấu thực chất đến nay vẫn không hề mất đi, mà chỉ chuyển từ “két sắt” của ngân hàng sang “chiếc túi” của VAMC, ít nhất là trên phương diện sổ sách. Tiêu hóa chưa xong, thì một số ngân hàng lại cho biết “bong bóng nợ” đang phình thêm ra.


Việc mua nợ của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đang được thực hiện khá xuôi lọt sau 2 tháng hoạt động, khiến nhiều ngân hàng mừng ra mặt vì đẩy được cục nợ to đùng đi và thu được khoản tiền hời về nhờ bán nợ theo giá trị sổ sách (60 - 70% giá trị nợ xấu). Tuy nhiên, trong khi một số chuyên gia đánh giá cao vai trò của VAMC trong việc nỗ lực làm thanh sạch nợ xấu ngân hàng, thì TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng VAMC lại chỉ là một công cụ không có động cơ để xử lý nợ một cách triệt để. Việc VAMC mua nợ không theo giá trị thị trường mà theo giá trị sổ sách và trả NHTM bằng loại trái phiếu không lãi suất, không thời gian đáo hạn cấp từ NHNN chính là lý giải cho nhận định trên. Nợ xấu trong nền kinh tế chẳng chạy đi đâu hết, nó chỉ quẩn quanh “du hí” từ túi NHTM sang hầu bao của VAMC và NHNN mà thôi. Thành ra, nền kinh tế vẫn cứ ì ạch mãi do không có dòng tiền thực được tạo ra từ con nợ, mà là dòng tiền ảo từ một bên thứ cấp khác.
 
Thoạt nhìn, NHTM bán được nợ xấu là bên hưởng lợi lớn nhất. Tuy nhiên, theo TS Trần Du Lịch, việc bán nợ xấu chưa hẳn đã giúp các ngân hàng trút được gánh nặng nợ xấu, mà trước mắt chỉ có thể đưa được nợ xấu ra ngoài bảng cân đối kế toán. Cái lợi của 20 NHTM đã và sẽ bán được nợ xấu cho VAMC là trong ngắn hạn, do cất nhờ được quả bom nổ chậm vào kho ký gửi của VAMC. Về lâu dài, sau khi Thông tư 02 quy định về lộ trình phân loại nợ theo chuẩn quốc tế và trích lập dự phòng được ban hành vào khoảng tháng 6/2014, thì những ngân hàng này lại yếu thế và gặp bất lợi, do tâm lý ỷ lại và thiếu chuẩn bị đón đầu Thông tư.
 
Việc Thông tư 02 rục rịch ban hành cũng là nguyên nhân chính gây nên tình trạng nợ xấu ngày càng xấu hơn đối với nhiều ngân hàng. Trong khi báo cáo tài chính quý III/2013 của một số ngân hàng “lành mạnh” và “đẹp mã” hơn nhờ chuyển nợ cho VAMC, thì báo cáo của một số ngân hàng khác lại ghi nhận một mức nợ xấu và dự phòng cao hơn hẳn. Theo số liệu mới nhất thì tỷ lệ nợ xấu của nhiều ngân hàng đã tăng vọt sau 9 tháng đầu năm, trong đó có những ngân hàng có nợ xấu hơn 9% như PGBank, SCB hay trên dưới 8% như SHB. Đây có thể chưa phải là con số thực trong bối cảnh hệ thống ngân hàng có quá nhiều thống kê ảo, song việc tăng nợ xấu lên vài % và đồng thời tăng dự phòng sẽ giúp bảng cân đối kế toán trước và sau Thông tư 02 bớt “sốc”, lợi nhuận hiện tại giảm nhưng vẫn hơn là xuống dốc đột ngột. Hơn thế nữa, động thái này cũng kéo những con số báo cáo trên về gần số liệu thực hơn và đẩy ít nhiều ảo ảnh ra khỏi hệ thống ngân hàng.
 
Nợ xấu 34 NHTM sau 9 tháng đầu năm 2013
 
Theo số liệu mới nhất, tính đến hết tháng 11, tín dụng của toàn hệ thống đã tăng trưởng 9%. Tuy nhiên, báo cáo tài chính cập nhật đến hết quý 3 năm nay (tức tháng 9/2013) thì cho thấy vẫn còn nhiều ngân hàng còn tăng trưởng tín dụng âm, điển hình như MaritimeBank, OCB, VietABank, Navibank... Đối chiếu sang tình hình của các doanh nghiệp cũng sẽ dễ dàng nhận thấy sự phản chiếu tương xứng. Theo báo cáo của Chính phủ, 127 tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, công ty mẹ - công ty con có tổng số nợ phải trả là 1.348.752 tỷ đồng, tăng 6% so với 2011, chiếm 56% tổng nguồn vốn. Trong đó, những con nợ lớn nhất vẫn là những cái tên quen thuộc: Tập đoàn Dầu khí (PVN) 124.499 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực (EVN) 103.194 tỷ, Tổng công ty Hàng hải (Vinalines) 31.681 tỷ… Còn các công ty TNHH một thành viên độc lập trực thuộc bộ quản lý ngành, ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng không khá gì hơn khi so với năm 2011, nợ phải trả tăng 7,9%, còn lãi giảm 7%.
 

DOANH NGHIỆP VN TIẾP TỤC CHẾT HÀNG LOẠT

Luật phá sản (minh họa)
Luật phá sản (minh họa)
Files photos
RFA - 03/12/2013

Khu vực kinh tế tư nhân của Việt Nam vẫn đang trong tình trạng khó khăn với số lượng doanh nghiệp đóng cửa tăng hơn cùng thời gian năm trước.
Nhiều hệ lụy khi doanh nghiệp chết hàng loạt
Khu vực kinh tế tư nhân đóng góp hơn 2/3 tổng sản phẩm nội địa (GDP), 3/4 giá trị sản xuất công nghiệp và tạo 100% việc làm mới cho nền kinh tế. Như vậy sức khỏe của khu vực này có thể xem là thước đo của nền kinh tế, nhất là trong 11 tháng vừa qua đã có khoảng 55.000 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động. Nếu cộng chung với số liệu tồng hợp 2011-2012 thì trong vòng 35 tháng vừa qua đã có 155.000 doanh nghiệp phá sản, giải thể hoặc ngừng hoạt động. Điểm đáng nói là số lượng này nhiều hơn con số gộp các doanh nghiệp đóng cửa trong vòng 20 năm qua.
Theo ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia tài chính hiện sống và làm việc ở Hà Nội, tác động của việc doanh nghiệp chết hàng loạt gây ra nhiều hệ lụy. Ông nói:
“ Nếu mà hàng chục ngàn doanh nghiệp mà phải giải thể như thế thì tất nhiên số lao động bị mất việc rất nhiều. Thị trường là gì, thị trường là sức mua của người lao động có thu nhập. Người lao động bị mất việc thì tất nhiên không có sức mua nữa, hàng hóa trên thị trường không có chỗ tiêu thụ. Vì vậy bây giờ phải cố gắng làm sao cho doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, phát triển lại, hồi phục lại thì mới có công ăn việc làm thì lúc đó mới có nguồn tiêu thụ được, ngược lại không thể trông đợi sức mua tăng lên được.”
Ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chính
Ông Bùi Kiến Thành chuyên gia tài chính

Nhận định về nguyên nhân của tình trạng doanh nghiệp chết hàng loạt trong thời gian qua, chuyên gia Bùi Kiến Thành phát biểu:
“Trong những năm qua các doanh nghiệp đã vay tiền ngân hàng và không có khả năng hoàn trả nợ. Những nợ đó biến thành nợ khó đòi nợ xấu rất nhiều và cho tới năm nay chưa giải quyết được. Vừa rồi Ngân hàng Nhà nước tổ chức ra công ty mua bán nợ xấu (VAMC) để mua lại những nợ xấu đó làm sạch kế toán của ngân hàng vướng vào nợ xấu, cũng như làm sạch kế toán của một số doanh nghiệp có nợ xấu. Mục đích để cho ngân hàng và doanh nghiệp tiếp tục một bên thì cho vay một bên thì đi vay. Nó mở ra được khả năng cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay để hoạt động. Những chuyện này mới bắt đầu thôi và dầu sao đi nữa các doanh nghiệp cũng chưa tiếp cận được nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý, cho nên rất nhiều doanh nghiệp khó khăn không giải quyết được nhu cầu về tài chính thì phải đi đến chỗ giải thể ngưng hoạt động thôi.”
Nếu mà hàng chục ngàn doanh nghiệp mà phải giải thể như thế thì tất nhiên số lao động bị mất việc rất nhiều. Thị trường là gì, thị trường là sức mua của người lao động có thu nhập. Người lao động bị mất việc thì tất nhiên không có sức mua nữa
ông Bùi Kiến Thành
Trong khi đó TS Lê Đăng Doanh, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đặt ra nhiều câu hỏi về tương lai hoạt động của VAMC với nguồn vốn rất giới hạn là 400 tỷ đồng.
“VAMC có thể mua nợ xấu ào ạt như một phó Tổng giám Đốc VAMC nói là có thể mua tất cả nợ xấu trong một thời gian ngắn. Thế nhưng vấn đề là các món nợ xấu mà VAMC mua là nợ xấu có bảo đảm,  VAMC sẽ bán tài sản bảo đảm ấy như thế nào để thu hồi lại vốn. Nếu như không giải quyết được nợ xấu thì sau 5 năm VAMC sẽ giải quyết nợ xấu ấy như thế nào? Hay lại bàn giao lại cho Ngân hàng Nhà nước? Như vậy tức là thay vì giải quyết thực chất về nợ xấu thì đấy chỉ là một thủ thuật bút toán. Tức là chuyển nợ xấu từ sổ kế toán của ngân hàng thương mại có nợ xấu sang sổ kế toán ghi nợ của VAMC và sau một thời gian sẽ hoàn lại, tất cả những câu hỏi đó hiện nay đang còn ở trước mặt và  chúng ta đang chờ xem VAMC sẽ giải quyết thế nào.”
Nhiểu công trình xây dựng phải bỏ dở dang vì cụt vốn
Nhiểu công trình xây dựng phải bỏ dở dang vì cụt vốn. RFA

Doanh nghiệp tư nhân là nòng cốt của kinh tế thị trường
Theo Bộ Công thương, số doanh nghiệp mới đăng ký thành lập trong 11 tháng vừa qua là 71.000 doanh nghiệp so với 55.000 đơn vị đóng cửa, nhưng vốn đăng ký lại giảm 15% so với cùng kỳ năm ngoái. Điều này cho thấy những doanh nghiệp mới đa số có qui mô nhỏ hơn những doanh nghiệp đã chết. Theo các chuyên gia, không loại trừ những doanh nghiệp mới thành lập có dính dáng tới những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động.
Trước ý kiến cho rằng, sự tái cấu trúc nền kinh tế không rõ nét và chậm chạp là nguyên nhân của việc chậm hồi phục khu vực kinh tế tư nhân. Ông Bùi Kiến Thành nhận định rằng hệ thống ngân hàng ở Việt Nam không hoạt động như ở các nước có cơ chế chính sách tiền tệ rõ ràng. Ông nói:
“ Ở Việt Nam hiện còn lại 39 ngân hàng, trong đó chừng 10 ngân hàng hoạt động có qui củ, 5 ngân hàng hoạt động chừng chừng, còn lại là những ngân hàng nhỏ thực chất không phải là ngân hàng mà chỉ là những tổ chức cho vay thôi. Cho vay như hình thức tiệm cầm đồ, có tài sản thế chấp thì vay không thì thôi, một phần lớn các ngân hàng ấy không phục vụ cho doanh nghiệp mà chỉ phục vụ chính ông chủ những ngân hàng ấy, phục vụ sân sau những nhóm quyền lợi. Người ta lợi dụng giấy phép ngân hàng để huy động vốn và tài trợ cho những dự án riêng tư của những người chủ ngân hàng ấy mà thôi.
Cần tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân phát triển vì nó là nòng cốt của nền kinh tế thị trường...Nhà nước cần có chính sách tiền tệ thích hợp để khu vực kinh tế tư nhân có thể tiếp cận nguồn vốn với lãi suất hợp lý và phục hồi hoạt động
Như vậy rất nguy hiểm, Nhà nước Việt Nam cũng biết nhưng chưa thể giải quyết được vấn đề  sở hữu chéo sở hữu ngân hàng, dẫn đến việc phục vụ cho những người có cổ phần lớn trong ngân hàng. Việc này chưa làm sạch được để đưa hệ thống ngân hàng vào hoạt động có qui củ.”
Hiến pháp sửa đổi vừa được thông qua ngày 28/11/2013 vẫn duy trì vai trò chủ đạo nền kinh tế của khu vực kinh tế Nhà nước, tuy vậy cũng xác định mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật. Công luận luôn tranh cãi về việc đã có một thành phần gọi là chủ đạo thì không thể có bình đẳng với các thành phần khác. Theo số liệu chính thức, trong giai đoạn 2006-2010, khu vực doanh nghiệp nhà nước được phân bổ 45% tổng đầu tư nhưng chỉ tạo ra 28% GDP, trong khi đó khu vực tư nhân chỉ chiếm 28% tổng đầu tư nhưng lại tạo ra 46% GDP. Hiện nay khu vực kinh tế ngoài nhà nước gồm cả doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và tư nhân nội địa được cho là đang đóng góp tới 2/3 GDP.
Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định, doanh nghiệp nhà nước nói là chủ đạo nhưng chẳng chủ đạo được gì, hiệu suất đầu tư không có, sản phẩm làm ra không thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Cần tạo mọi điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân phát triển vì nó là nòng cốt của nền kinh tế thị trường. Ông Bùi Kiến Thành kiến nghị Nhà nước cần có chính sách tiền tệ thích hợp để khu vực kinh tế tư nhân có thể tiếp cận nguồn vốn với lãi suất hợp lý và phục hồi hoạt động.

03 December 2013

Không còn nhiều đám cưới rình rang !


KTĐT - Từ khi có Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 3/10/2012 của Thành ủy Hà Nội về "Tiếp tục thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang trên địa bàn TP Hà Nội", các đám cưới tại Mỹ Đức được tổ chức trang trọng, lành mạnh, tiết kiệm; đám tang văn minh, nghĩa tình, phù hợp thực tiễn cuộc sống và thuần phong mỹ tục đã và đang lan rộng các gia đình
 
"Từ khi có Chỉ thị số 11-CT/TU ngày 3/10/2012 của Thành ủy Hà Nội về "Tiếp tục thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, việc tang trên địa bàn TP Hà Nội", các đám cưới  tại Mỹ Đức được tổ chức trang trọng, lành mạnh, tiết kiệm; đám tang văn minh, nghĩa tình, phù hợp thực tiễn cuộc sống và thuần phong mỹ tục đã và đang lan rộng các gia đình" - Trưởng phòng VH&TT huyện Mỹ Đức Hoàng Mạnh Tấn cho biết.
  Trước đây, xu hướng chung ở huyện là tổ chức đám cưới linh đình cỗ bàn từ 100 đến 150 mâm. Nay đã khác, vì huyện quy định cụ thể việc tổ chức đám cưới tiết kiệm, phù hợp với điều kiện kinh tế, số lượng cỗ không quá 50 mâm. Nếu cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật nên việc tổ chức ăn cỗ cưới gần như chỉ còn trong phạm vi nội tộc gia đình và bạn bè thân hữu, gói gọn trong một ngày. Ông Tấn phấn khởi cho biết, từ đầu năm đến nay, toàn huyện có 1.036 đám cưới, hầu hết đều tổ chức theo nếp sống văn minh, mừng nhất là không có cán bộ, đảng viên nào vi phạm. Chẳng nói đâu xa, ông Tấn dẫn chứng, đám cưới con trai Phó Chủ tịch UBND huyện Nguyễn Văn Hậu năm ngoái chỉ làm khoảng 30 mâm cỗ mời họ hàng và bạn bè thân hữu; hay đám cưới nhà Phó Bí thư Huyện ủy cũng chỉ khoảng 40 mâm.

Phải nói rằng đây là một nỗ lực để thay đổi cách nghĩ, tập quán của người ở thôn làng. Tuy nhiên, ở Mỹ Đức không phải đã hết những đám cưới mời quá mức quy định. Vì thế, người làm văn hóa huyện đang ra sức tuyên truyền, vận động để đưa Chỉ thị 11 vào cuộc sống một cách hiệu quả. Riêng Phòng VH&TT đang nghiên cứu mô hình tổ chức đám cưới tập thể ở Nhà văn hóa huyện hồi những năm 2000 và hình thức tổ chức đám cưới tập thể của quận Hà Đông để tham mưu cho UBND huyện áp dụng trong thời gian tới.

Đối với việc tang, Mỹ Đức cũng đã tích cực vận động cán bộ, nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, tổ chức lễ tang tiết kiệm, bỏ các hủ tục lạc hậu, vận động người dân thực hiện hình thức hỏa táng. Tình trạng tổ chức tang lễ rườm rà, kéo dài nhiều ngày, ăn uống tràn lan được khắc phục nhiều, các hủ tục trong tang lễ hầu như không còn. Để thực hiện tốt Chỉ thị 11, huyện đã đưa nội dung thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang vào tiêu chuẩn bình xét các danh hiệu Gia đình văn hóa, Làng văn hóa, đơn vị văn hóa... Vì thế, ngày càng có nhiều gia đình hỏa táng khi có người nhà mất, tiêu biểu là các xã Đồng Tâm, Phúc Lâm, Hương Sơn, Đại Hưng... Chị Bùi Thị Mai, xã Hương Sơn cho rằng: "Văn minh trong tang lễ vừa có lợi cho gia đình tang chủ, vừa tốt cho môi trường, tiết kiệm chi phí nên các gia đình trong xã đều có xu hướng hỏa táng".

Những chuyển biến tích cực trong việc cưới, việc tang ở Mỹ Đức sẽ góp phần đẩy nhanh việc thực hiện Chương trình 04 - CTr/TU của Thành ủy Hà Nội về "Phát triển văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Thủ đô, xây dựng người Hà Nội thanh lịch, văn minh giai đoạn 2011 - 2015".
Hồng Hạnh

09 November 2013

Sếp Tổng công ty XD Hà Nội nhận lương tiền tỷ/năm

VNN- 8/11/2013  --  Trong khi công nhân thất nghiệp, bị HANCORP chậm lương , “quỵt” bảo hiểm…thì Tổng giám đốc vẫn vô tư nhận lương, thưởng hàng tỷ đồng mỗi năm.

Thời gian gần đây, dư luận vô cùng bức xúc trước thông tin công nhân của Tổng công ty Xây dựng Hà Nội (HANCORP) đang phải chật vật mưu sinh vì bị công ty chậm lương, “quỵt” bảo hiểm và các chế độ cho người lao động, thậm chí hàng trăm người rơi vào cảnh thất nghiệp do nhà máy đột ngột đóng cửa. Trong khi đó, Tổng giám đốc HANCORP vẫn vô tư nhận lương, thưởng tiền tỷ mỗi năm.
Cuối tháng 10/2013, nhiều công nhân Nhà máy gạch K2 Đông Văn thuộc Công ty HANCORP.2 (Công ty thành viên của HANCORP) đã kéo nhau đến “bao vây” trụ sở HANCORP.2 ở xã Quảng Thịnh, thành phố Thanh Hóa, chăng băng rôn, khẩu hiệu yêu cầu giải quyết việc làm, trả lương, đóng bảo hiểm (BH) xã hội, BH y tế cho người lao động.
doanh nghiệp, tổng công ty xây dựng Hà Nội, hancorp, đầu tư, xây dựng, bất động sản, kinh doanh,
Công nhân Nhà máy gạch K2 tập trung đòi quyền lợi. Ảnh: Thanhtra. 
Theo những công nhân này, Nhà máy gạch K2 Đông Văn bỗng dừng hoạt động bất thường khoảng 3 tháng nay khiến gần 150 công nhân rơi vào tình trạng thất nghiệp. Bên cạnh đó, việc công ty không trả lương, không đóng BH và chi trả các chế độ cho người lao động khiến công nhân bức xúc, gửi đơn tố cáo lên các cơ quan chức năng.
Cụ thể, hơn 1 năm qua, từ tháng 2/2012 tới nay, công nhân nhà máy đều nộp BH đầy đủ nhưng HANCORP.2 không chịu đóng BH xã hội với số tiền nợ lên tới 8 tỷ đồng. Cũng từ tháng 2/2012, các chế độ của người lao động như nghỉ ốm, thai sản không được chi trả. Thẻ BH y tế hết hạn từ tháng 7/2013 nhưng chưa được cấp lại. Lương công nhân từ 7/2013 vẫn chưa được chi trả. Vì điều kiện quá khó khăn công nhân đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đã báo trước 45 ngày nhưng HANCORP.2 vẫn không chi trả một năm nửa tháng lương theo khoản 1, Điều 48 Bộ luật Lao động. Công nhân sản xuất vật liệu xây dựng ở bảng lương A1 nhóm 2 nhưng công ty cũng không trả 14 ngày phép và không đăng ký với BH xã hội nghề độc hại cho công nhân để được khấu trừ 5 năm khi về hưu.
Bức xúc hơn, kể từ khi Nhà máy gạch K2 đóng cửa, công nhân mất việc làm nhưng HANCORP.2 không có bất cứ thông báo nào về việc công nhân được chế độ ra sao, ai chi trả khiến hàng trăng công nhân hoang mang, trong khi các công nhân làm việc tại nhà máy đều có đóng cổ phần từ 1 đến 15 triệu đồng.
Trong khi công nhân rơi vào cảnh thất nghiệp, “sống dở, chết dở” vì không có lương nuôi sống gia đình thì mới đây,nhiều người không khỏi choáng váng khi biết Tổng giám đốc HANCORP hàng năm vẫn vô tư nhận chế độ lương, thưởng với số tiền lên tới hàng tỷ đồng.
Theo công bố của ông Phạm Tử Linh – Trưởng phòng Tổ chức lao động HANCORP vào ngày 22/10, trước sự chứng kiến của Thứ trưởng Bộ Xây dựng Trần Văn Sơn cùng nhiều lãnh đạo của Bộ Xây dựng và các lãnh đạo HANCORP, lương, thưởng và thù lao của ông Nghiêm Sĩ Minh – Bí thư Đảng ủy, quyền Chủ tịch Hội đồng thành viên (Nguyên Tổng giám đốc HANCORP) trong các năm 2011 và 2012 lên tới hơn 1 tỷ đồng mỗi năm.
Không chỉ việc lãnh đạo nhận lương “khủng” trong khi công ty “quỵt” nhiều chế độ của người lao động khiến dư luận bức xúc, ngay tại HANCORP còn để xảy ra nhiều sai phạm trong công tác Đảng, bổ nhiệm cán bộ, buông lỏng quản lý…
Mới đây, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng đã ra văn bản chỉ đạo xác minh những sai phạm tại HANCORP. Thực hiện chỉ đạo này, Tiến sỹ Phạm Gia Yên - Chánh Thanh tra Bộ Xây dựng, đã ký Quyết định kiểm tra, xác minh các nội dung phản ánh những sai phạm của lãnh đạo HANCORP mà dư luận nhiều lần lên tiếng.
Thông tin từ Bộ Xây dựng cho biết, các đơn vị thành viên của HANCORP nằm trong diện thanh tra gồm có: Công ty cổ phần Hancorp 2; Công ty cổ phần Thiết bị và Vật liệu xây dựng Hancorp; Công ty cổ phần Đầu tư phát triển nhà và Xây dựng Tây Hồ; Công ty cổ phần Đầu tư Đèo Cả; Công ty cổ phần bê tông xây dựng Hà Nội; Công ty cổ phần Đầu tư bất động sản Hancorp sẽ là đối tượng chính của cuộc kiểm tra. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Phó Chánh Thanh tra Bộ, làm Trưởng đoàn cùng 6 thành viên, bắt đầu thực hiện nhiệm vụ từ ngày 29/10 vừa qua.
(Theo Kiến thức)

08 November 2013

Lãnh đạo bất ổn, người lao động lãnh đủ!

TPO –7/11/2013  --   Nội bộ Ban Thường vụ Đảng ủy và Hội đồng thành viên Tổng Cty Xây dựng Hà Nội thiếu sự thống nhất làm ảnh hưởng đến tâm lý, tư tưởng của cán bộ đảng viên và kết quả sản xuất kinh doanh.
Trụ sở Tổng Cty Xây dựng Hà Nội tại
Trụ sở Tổng Cty Xây dựng Hà Nội tại. Ảnh: MINH ĐỨC
Đó là một phần nội dung văn bản của Thành uỷ Hà Nội gửi Cán sự Đảng, Bộ Xây dựng, chỉ rõ những bất ổn đang diễn ra tại Tổng Cty Xây dựng Hà Nội, ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị và đời sống cán bộ công nhân viên.
Như đã phản ánh, thời gian vừa qua nhiều công nhân Nhà máy gạch K2 Đông Văn thuộc Cty HANCORP.2 – đơn vị thành viên của Tổng Cty Xây dựng Hà Nội (tại xã Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa) đã kéo đến trụ sở Cty HANCORP.2 mang theo khẩu hiệu yêu cầu Cty giải quyết việc làm, trả lương, đóng bảo hiểm (BH) xã hội, BH y tế cho người lao động.
Trước đời sống lao đao của người lao động thuộc Tổng Cty xây dựng Hà Nội, Bộ Xây dựng đã nhiều lần gửi văn bản chỉ đạo Tổng Cty Xây dựng Hà Nội, nhằm hoàn thiện bộ máy lãnh đạo để ổn định việc làm và đời sống cho cán bộ công nhân viên.
Cụ thể ngày 29/10/2012; Ngày 27/10/2012 và Ngày 17/1/2013, Bộ Xây dựng đã gửi văn bản yêu cầu Hội đồng thành viên Tổng Cty Xây dựng Hà Nội khẩn trương tiến hành quy trình bổ nhiệm cán bộ giữ chức vụ thành viên Hội đồng thành viên; Chủ tịch Hội đồng thành viên và Hội đồng kiêm Tổng giám đốc Tổng Cty Xây dựng Hà Nội. Tuy nhiên cho tới nay, Tổng Cty Xây dựng Hà Nội vẫn chưa hoàn thiện ý kiến chỉ đạo của Bộ Xây dựng.
Tại văn bản số 981 ngày 29/5/2013 nếu rõ: Việc không thực hiện ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Bộ đã làm ảnh đến kết quả sản xuất kinh doanh, công tác đổi mới sắp xếp doanh nghiệp và công tác khác của doanh nghiệp. Việc không triển khai các văn bản chỉ đạo của lãnh đạo Bộ, trước hết thuộc trách nhiệm của đồng chí Nghiêm Sỹ Minh, Bí thư Đảng ủy – Quyền Chủ tịch Hội đồng thành viên – Tổng Giám đốc, Tổng Cty Xây dựng Hà Nội.
Bộ Xây dựng cũng yêu cầu Ban thường vụ Đảng ủy Tổng Cty và ông Nghiêm Sỹ Minh, Bí thư Đảng ủy, Quyền Chủ tịch Hội đồng thành viên, khẩn trương tiến hành trình phương án nhân sự đủ điều kiện để bộ nhiệm 5 thành viên Hội đồng thành viên gồm: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Thành viên Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc và 3 thành viên Hội đồng thành viên xong trước ngày 30/6/2013. Nếu không hoàn thành thì ông Nghiêm Sỹ Minh sẽ phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Ngày 26/7/2013, Bộ Xây dựng đã có Quyết Định số 697 Giao nhiệm vụ đối với ông Nghiêm Sỹ Minh, Quyền Chủ tịch Hội đồng thanh viên – Tổng Giám đốc Tổng Cty Xây dựng Hà Nội thôi giữ chức vụ Tổng Giám đốc để thực hiện nhiệm vụ Quyền Chủ tịch Hội đồng thành viên kể từ ngày 1/8/2013. Cùng thời điểm, Bộ Xây dựng đã có Quyết định Giao nhiệm vụ đối với ông Bùi Xuân Dũng, thôi giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc thay vào đó là Quyền Tổng Giám đốc, Tổng Cty Xây dựng Hà Nội kể từ ngày 1/8/2013.
Ngày 8/8/2013, Thảnh ủy Hà Nội có văn bản số 648 gửi Cán sự Đảng, Bộ Xây dựng. Văn bản nêu: Trong thời gian qua, Ban Thường vụ Đảng ủy và đồng chí Nghiêm Sỹ Minh, Bí thư Đảng ủy Tổng Cty Xây dựng Hà Nội thiếu quan tâm đến công tác xây dựng đảng nói chung, công tác quy hoạch, bồi dưỡng và bổ nhiệm cán bộ nói riêng, chính vì thế đã tạo ra sự hẫng hụt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Nội bộ Ban Thường vụ Đảng ủy và Hội đồng thành viên thiếu sự thống nhất làm ảnh hưởng đến tâm lý, tư tưởng của cán bộ đảng viên và kết quả sản xuất kinh doanh.
Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đề nghị Ban Cán sự Đảng, Bộ Xây dựng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác cán bộ của Tổng Cty Xây dựng Hà Nội.
MINH ĐỨC

07 November 2013

Người dân vẫn được nhận ngoại tệ từ kiều hối!

NLĐO -  Thứ Tư, 06/11/2013

Các cá nhân ở Việt Nam không được phép cho, tặng ngoại tệ lẫn nhau.


Hiện nay Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang lấy ý kiến góp ý trước khi trình Chính phủ dự thảo nghị định thay thế Nghị định 160/2006 hướng dẫn Pháp lệnh Ngoại hối. Dự thảo có sửa đổi một số điều, trong đó có điểm đáng chú ý nếu muốn cho, biếu, tặng bằng ngoại tệ thì người tặng sẽ phải chuyển đổi sang VND thay vì được phép như hiện nay.
 
Được nhận ngoại tệ từ người Việt ở nước ngoài
 
Thực tế, chúng ta đang từng bước nâng cao tính chuyển đổi của VND và từng bước hạn chế đô la hóa. Vấn đề này đã được Chính phủ và NHNN tiến hành thực thi trong 10 năm trở lại đây. Những vấn đề đó đã được minh định trong những văn bản quy phạm pháp luật như Pháp lệnh Ngoại hối, Nghị định 160/2006 nên việc hạn chế hiện tượng đôla hóa và chỉ sử dụng đồng VND trên lãnh thổ Việt Nam là chủ trương nhất quán chứ không phải nhất thời vài năm trở lại đây.
 
Từ góc nhìn ở một cơ quan giám sát tài chính quốc gia, tôi cho rằng quy định không cho phép biếu, cho, tặng bằng đồng ngoại tệ là phù hợp.
 
Ngoại tệ tại ngân hàng.
 
Ở đây quyền tài sản của công dân vẫn được tôn trọng. Người dân có quyền giữ ngoại tệ bình thường như một loại tài sản. Tuy nhiên, trên lãnh thổ Việt Nam, việc biếu, tặng, cho nên thực hiện bằng đồng VND để đảm bảo chủ quyền của đồng bản tệ.
 
Người Việt ở nước ngoài có thể cho, biếu, tặng gửi bằng bất cứ đồng ngoại tệ nào và người được tặng sẽ nhận về chính đồng ngoại tệ đó. Chẳng hạn nếu có bà chị bên Pháp muốn gửi euro về Việt Nam cho người thân thì cứ gửi và người nhận sẽ ra ngân hàng nhận về euro. Hay một anh ở bên Mỹ muốn gửi USD về Việt Nam thì cứ gửi, người nhận cũng sẽ được nhận bằng đồng USD. Tuy nhiên, người nhận không được dùng số euro, USD này đem tặng cho một người khác. Nếu muốn tặng, buộc phải đổi sang VND.
 
Người nước ngoài không được gửi tiết kiệm bằng VND
 
Tuy nhiên, dự thảo này quy định người nước ngoài không được gửi tiền tiết kiệm bằng VND.
 
Chúng ta đã biết trong một thế giới đầy biến động, lãi suất ở các quốc gia có độ chênh lệch rất lớn. Bởi thế tỉ giá hối đoái ở các quốc gia cũng không giống nhau. Chủ trương của Chính phủ và NHNN trong 10 năm trở lại đây không ủng hộ cho quá trình kinh doanh chênh lệch lãi suất này. Nhất là khi lãi suất USD không kỳ hạn chỉ 0,2%-0,5%/năm, còn lãi suất của VND lại rất cao.
 
Giả sử chúng ta cho phép người nước ngoài đem USD đổi sang tiền đồng gửi tiết kiệm lấy lãi suất cao và NHNN bảo hộ quyền chuyển đổi ngược lại từ tiền đồng sang ngoại tệ thì một ngày kia họ rút hết VND, sau đó mua ào ạt USD chuyển vốn ra nước ngoài. Từ đó sẽ xảy ra tình trạng có các dòng vốn rút ra đột ngột, tạo những bất ổn giống Thái Lan đã từng bị khủng hoảng về cơ chế tỉ giá năm 1997. Vậy nên việc NHNN chủ trương không cho phép người nước ngoài chuyển ngoại hối lấy tiền đồng gửi tiết kiệm là chính sách đúng.
 
Tuy nhiên, trong trường hợp nếu một người có hai quốc tịch, một là Việt Nam, hai là một quốc gia nào đó thì hoàn toàn có thể được bán ngoại tệ ra gửi tiết kiệm bằng VND.
 
Theo quy định hiện hành, cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ, mang theo người, cho, thừa kế, bán cho tổ chức tín dụng được phép, chuyển, mang ra nước ngoài phục vụ cho các mục đích hợp pháp và thanh toán cho các đối tượng được thu ngoại tệ. Tuy nhiên, tại dự thảo nghị định thay thế Nghị định 160/2006 thì cá nhân có ngoại tệ tiền mặt sẽ không được quyền tặng, cho mà chỉ được  quyền cất giữ, thừa kế hoặc bán đúng nơi quy định.
 
Không thể tồn tại hai đồng tiền ở một quốc gia
 
Về nguyên tắc, các quốc gia không chấp nhận sự tồn tại đồng ngoại tệ với tư cách là tiền tệ song song nội tệ. Và trên lãnh thổ Việt Nam chỉ được sử dụng bằng đồng Việt Nam. Nên việc chống đôla hóa của NHNN là đúng. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là liệu những quy định này tác động đến kiều hối như thế nào. Chúng ta đặt trọng tâm vào việc chống đôla hóa lên trên hay cần ưu tiên về nguồn lực.
TS  VŨ  ĐÌNH ÁNH, chuyên gia kinh tế

Ông TRƯƠNG VĂN PHƯỚC, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam (Pháp luật TP HCM)