THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label ChinhTri - CongHam1958. Show all posts
Showing posts with label ChinhTri - CongHam1958. Show all posts

23 June 2012

Việt Nam đang cố vô hiệu hóa công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc



2012-06-22
Cuối tháng trước, trên trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, có một bài viết bằng tiếng Anh, khẳng định, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam đã từng có hai quốc gia riêng biệt
RFA file
Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
và cũng vì vậy, công hàm do ông Phạm Văn Đồng – Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gửi ông Chu Ân Lai – Thủ tướng Trung Quốc, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông, không có chút giá trị nào về mặt luật pháp quốc tế.
Đây là lần đầu tiên, một trang web thuộc chính quyền Việt Nam nêu chính kiến theo hướng này. Vì sao? Trân Văn – thông tín viên của Đài chúng tôi đã phỏng vấn ông Dương Danh Huy - một tiến sĩ đang sống tại Anh, thành viên sáng lập Qũy Nghiên cứu biển Đông – và cũng là người đã từng khuyến nghị chính quyền Việt Nam nên làm như thế, để tìm câu trả lời.
Thể diện chính quyền phải nhường chỗ cho chủ quyền quốc gia
Trân Văn: Thưa ông, trong các cuộc tranh luận kéo dài suốt nhiều năm qua về chủ quyền trên biển Đông, tuy Trung Quốc luôn dùng công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký hồi 1958 như một trong những bằng chứng để chứng minh rằng, Việt Nam đã chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, song gần như chưa bao giờ chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu quan điểm của họ về công hàm đó.
Cũng vì vậy, việc trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, đăng một bài viết xác nhận sự tồn tại của công hàm này, cũng như phân tích về giá trị của công hàm đó rõ ràng là một sự kiện rất đáng chú ý.
Là một người chuyên nghiên cứu, theo dõi và phân tích các sự kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, ông nghĩ thế nào về sự kiện vừa xảy ra ấy?
Bản đồ Việt Nam trước 1975 chia làm hai tại vĩ tuyến 17 : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa
Bản đồ Việt Nam trước 1975 chia làm hai tại vĩ tuyến 17 : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa. RFA file
Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trong tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa (HSTS), Trung Quốc mặc nhiên cho rằng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam(CHXHCN VN) là hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VN DCCH) và chỉ của VN DCCH. Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam  thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CH MNVN) mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Đúng là cho tới gần đây truyền thông của Việt Nam tránh nói về vấn đề công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) và tránh câu hỏi, trước khi Việt Nam thống nhất vào ngày 2/7/1976 thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là mấy quốc gia (?), từ thời VNCH đến CH MNVN, có phải là một quốc gia khác biệt với VN DCCH hay không.
Tôi cho rằng việc một trang mạng thuộc chính phủ Việt Nam đăng một bài phân tích về CH PVĐ với quan điểm trước khi Việt Nam thống nhất thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là hai quốc gia khác biệt, là một bước đi đúng, theo hướng “công khai, công pháp quốc tế và công luận” mà một số nhà luật học Việt Nam đã đề cập đến. Tôi hy vọng rằng việc Học viện Ngoại giao đăng bài đó, cũng như việc tạp chí Tia Sáng đăng một bản tiếng Việt vào tháng 11 năm ngoái, sẽ góp phần mở rộng thêm không gian tranh luận, phân tích công khai về CH PVĐ.
Việt Nam Cộng hòa là “lõi” của kế hoạch vô hiệu hóa
Trân Văn: Bài viết bằng tiếng Anh, mới đăng trên trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, chỉ là bản dịch của một loạt ba bài do bà Nguyễn Thái Linh viết và đã từng được tạp chí Tia Sáng của Việt Nam, đăng hồi giữa tháng 11 năm 2011.
Sau sự kiện đó chừng một tuần, hôm 25 tháng 11 năm 2011, lần đầu tiên, một trong những viên chức cao cấp nhất của chính quyền CHXHCN VN - ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam, chính thức tuyên bố tại diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rằng chính phủ VNCH, đã từng thay mặt Việt Nam, duy trì chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, rằng năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền VNCH,…
Theo dõi tình hình thời sự tại Việt Nam, chúng tôi không nghĩ rằng, tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng nhắm vào mục tiêu hòa hợp, hòa giải, mà đơn thuần chỉ là chuẩn bị luận cứ, nhằm vô hiệu hóa các bằng chứng mà Trung Quốc đã, đang cũng như sẽ còn tiếp tục sử dụng để chứng minh rằng, Việt Nam đã từng chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc, đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong số các bằng chứng này, có công hàm mà ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958.
Đối chiếu tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng hồi cuối năm ngoái và sự kiện trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, mới vừa minh định về sự hiện hữu của VNCH trong giai đoạn 1954-1975, với bài viết “Trong cuộc chiến 1954-1975, có một hay hai quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?”, đã được ông công bố hồi giữa năm ngoái, chúng tôi có cảm giác, những khuyến nghị của ông qua bài viết ấy, đang được chính quyền Việt Nam hiện nay áp dụng để có thể ứng dụng hữu hiệu luật pháp quốc tế, vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Bài viết của ông rất cặn kẽ, nhiều chi tiết, trong khi thời gian cho cuộc trao đổi này lại có giới hạn, ông có thể giải thích thật ngắn gọn, nhằm giúp thính giả của chúng tôi dễ hình dung rằng, tại sao, cần phải thừa nhận, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam từng có hai quốc gia riêng biệt?
Ông Phạm Văn Đồng và ông Chu Ân Lai
Ông Phạm Văn Đồng và ông Chu Ân Lai (source chouenlai.lafeng.net)
Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trước hết, tôi xin nêu quan điểm của tôi là trong thời kỳ Việt Nam chia đôi thì “Việt Nam là VN DCCH và VNCH”  chứ không phải “Việt Nam chỉ là VN DCCH”.
Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Đúng như ông nói, có lẽ chính phủ Việt Nam cảm thấy khó có thể làm ngơ trước việc Trung Quốc đang sử dụng vấn đề CH PVĐ trong việc tuyên truyền, họ cảm thấy Việt Nam phải phản biện nhiều hơn, và họ có thể cảm thấy rằng lập luận mạnh mẽ nhất để phản biện là dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS. Nhưng để dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS thì phải dựa trên việc lúc đó miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia.
Trên thực tế, chính phủ Việt Nam đã viện dẫn các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS từ lâu, thí dụ như trong sách trắng của Việt Nam về HSTS năm 1981. Nhưng, có lẽ trên phương diện đối nội thì họ ngại, không dám công nhận thẳng thừng là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mặc dù đó là quan điểm mà cả ba chính thể: VN DCCH, CH MNVN và CHXHCN VN đã từng đưa ra với thế giới.
Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.
...nếu sự thống nhất đó là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Nói cách khác, nếu chính phủ Việt Nam cho rằng luôn luôn chỉ có một quốc gia, thì CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ gây phương hại cho chủ quyền Việt Nam đối với HSTS.
Ngoài ra, vấn đề không chỉ là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mà còn là cả tính cách pháp lý của sự thống nhất ngày 2/7/1976. Nếu sự thống nhất đó là VN DCCH mở rộng lãnh thổ về phía Nam, hấp thụ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17 thì sẽ bất lợi cho tranh cãi pháp lý về HSTS. Ngược lại, nếu sự thống nhất đó  là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.
Điểm cuối cùng ở đây là điểm có thể gây tranh cãi giữa người Việt. Trên phương diện chính trị, có thể có quan điểm cho rằng CHXHCN VN chính là VN DCCH đã hấp thụ miền Nam và đổi tên thành CHXHCN VN. Nhưng, trên phương diện thủ tục pháp lý, theo quan điểm của các quốc gia khác lúc đó, bao gồm cả Trung Quốc, và của các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, thì sự kiện Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 là hai  quốc gia thống nhất lại thành một quốc gia mới.
Trân Văn: Xin cám ơn ông.

10 September 2011

Việt-Trung giảm căng thẳng nhiều hậu ý

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2011-09-09
             

Chỉ trong vòng hai tuần với các hoạt động “con thoi” của hai nhân vật Nguyễn Chí Vịnh và Đới Bỉnh Quốc, quan hệ Việt-Trung đã giảm nhiệt một cách khác thường. 



AFP   Giới trẻ Hà Nội xuống đường biểu tình chống Trung Quốc hồi tháng 8, 2011.
 
Mặc dù giới lãnh đạo của hai bên nhìn nhận quan điểm về vấn đề Biển Đông còn khác biệt, nhưng khi Hà Nội đặt dấu chấm hết cho các cuộc biểu tình yêu nước phản đối Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam, cũng là lúc báo chí chính thống tràn ngập những bài báo tán dương quan hệ Việt-Trung.
 

Tôn trọng và tin cậy Trung Quốc?   
Về mặt chính thức ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc đến Hà Nội để cùng Phó Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân đồng chủ trì phiên họp lần thứ 5 của Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc từ ngày 6 đến 9/9. Bên cạnh chức vụ Ủy viên Quốc vụ tương đương chức Quốc Vụ Khanh bộ trưởng không bộ của phương tây, ông Đới Bỉnh Quốc còn giữ các chức vụ cao cấp ở Trung Ương Đảng Cộng sản về đối ngoại và an ninh quốc gia.
 
Báo chí trích bản tin Thông tấn xã nhà nước cho thấy Việt Nam mong muốn tìm giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề Biển Đông, đây cũng là tựa bài của trang mạng chính thức Vietnam Plus. Theo tin này, Việt Nam-Trung Quốc cùng nhìn nhận còn khác biệt về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gọi đây là thực tế khách quan mặc dù qua trao đổi hai bên đã hiểu rõ lập trường của nhau.
 
Người đứng đầu chính phủ Việt Nam kêu gọi đối thoại dựa trên tinh thần tôn trọng và tin cậy lẫn nhau, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) để tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mong muốn Việt-Trung đẩy nhanh đàm phán để sớm ký thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển, tạo cơ sở để hai bên giải quyết các vấn đề cụ thể trên biển.

 
Ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc . Source Wikipedia
Theo TTXVN và Vietnam Plus, ông Đới Bỉnh Quốc đồng tình với ý kiến của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Vị khách Trung Quốc kêu gọi hai bên khẩn trương thảo luận để giải tỏa khác biệt về Biển Đông, mưu tìm những giải pháp mang tính cơ bản và lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được. Ông Đới Bỉnh Quốc còn nhấn mạnh tới “tinh thần vừa là đồng chí vừa là anh em”.
 
Xem kỹ bản tin chính thức được phổ biến, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đều không đề cập đến bất cứ một chi tiết nào về sự khác biệt giữa hai bên trong vấn đề Biển Đông. Chẳng hạn như vấn đề quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc lấn chiếm của VNCH năm 1974, hay các đảo thuộc quần đảo Trường Sa mà Hải quân Trung Quốc lấn chiếm từ tay người đồng chí và anh em Việt Nam năm 1988.
Liên quan tới sự kiện vừa nêu, trả lời Gia Minh Đài ACTD, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy, nguyên Tổng Lãnh Sự Việt Nam tại Quảng Châu nhận định:
 
- “Trung Quốc không bao giờ chịu đàm phán về Hoàng Sa, họ xem như đã chiếm xong, đã ‘ăn tươi, nuốt sống’ Hoàng Sa rồi, họ không bao giờ chịu bàn vấn đề Hòang Sa với chúng ta nữa đâu. Vấn đề bây giờ chỉ để lịch sử giải quyết, con cháu chúng ta giải quyết. Tôi đã có lần nói về điều này: vấn đề Hoàng Sa, Việt Nam dứt khoát không bao giờ từ bỏ lập trường. Đời tôi, đời con tôi, đời cháu tôi chưa lấy được thì đời chắt tôi, toàn thể nhân dân Việt Nam phải đòi lại chủ quyền Hoàng Sa chứ không thể để Trung Quốc trắng trợn chiếm đóng như vậy được.”
 
Vẫn từ các nguồn thông tin chính thức, trước đó trong buổi sáng 7/9 tại Trụ sở Trung ương Đảng, ông Đới Bỉnh Quốc cũng đã có cuộc hội kiến với ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói thẳng là có khác biệt về vấn đề Biển Đông, thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ nói mong muốn thông qua đàm phán hòa bình, nỗ lực tìm ra giải pháp thỏa đáng. Ông Trọng đề nghị Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Trung thúc đẩy hợp tác trên mọi lãnh vực, kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quan hệ, nâng hiệu quả hợp tác lên một tầm cao mới.
 

Mềm mỏng với Trung Quốc đến khó hiểu
Giới quan sát chính trị nhận định là, Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương được thành lập từ lâu với 4 lần họp trong những năm vừa qua. Ngoài vấn đề hợp tác buôn bán và những mặt hợp tác mang tính hình thức, không thấy Ủy ban này lên tiếng khi người dân Việt Nam sục sôi về sự kiện các tàu hải giám Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa Việt Nam, ngang nhiên phá hoại thiết bị thăm dò địa chất của tàu nghiên cứu dầu khí Việt Nam, hay những vụ tàu Trung Quốc bắt giữ tàu cá và trấn lột ngư dân Việt Nam tại các ngư trường ở Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
 
Sự giảm nhiệt trong quan hệ Việt Trung có thể nhận thấy từ sau cuộc đối thoại quốc phòng Việt Trung lần thứ II vào cuối tháng 8. Tại Bắc Kinh trưởng đòan Việt Nam Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng đã có những phát biểu hết sức mềm mỏng và chắc là làm hài lòng phía Trung Quốc.

                 Tờ Đất Việt ngày 1/9 trích lời Tướng Vịnh, xin trích nguyên văn:


“Việt Nam không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc…Nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc Xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỷ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới, một khi các đồng chí tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển.”

          Tướng Vịnh gọi Trung Quốc là đồng chí cũng giống như lời lẽ ông Đới Bình Quốc gọi quan hệ Việt Trung trong tinh thần vừa là đồng chí vừa là anh em.
Tướng Vịnh còn có phát biểu gây nhiều tranh cãi, theo thông tấn xã Việt Nam Tướng Vịnh đã xác định với phía Trung Quốc là Việt Nam sẽ kiên quyết xử lý vấn đề tụ tập đông người và dứt khoát không để sự việc tái diễn.
Tuyên bố của tướng Vịnh về vấn đề biểu tình phản đối Trung Quốc đã làm những người yêu nước ở Việt Nam phẫn nộ. Ngày 6/9 luật gia Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP.HCM đã gởi thư ngỏ cho các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội Việt Nam yêu cầu làm sáng tỏ việc tướng Vịnh cam kết với phía Trung Quốc và việc này có phải là do chỉ đạo từ trên hay không.
             
                 Trả lời Phóng viên Thanh Trúc Đài ACTD, ông Lê Hiếu Đằng phát biểu từ Saigon:

          - “Chúng tôi đấu tranh để dành độc lập tự do cho tổ quốc, bảo vệ danh dự, lòng tự tôn của dân tộc. Nhưng bây giờ một vị tướng lãnh mà lại đi tự cam kết với Trung Quốc rằng sẽ cấm biểu tình, hứa rằng không để tái diễn việc đó nữa thì tôi cho là không được. Tướng Vịnh hoàn toàn không có quyền phát biểu như vậy.”

          Sự giảm căng thẳng trong quan hệ Việt Trung có thể là kết quả của những phép thử mà Trung Quốc đã áp dụng trong thời gian trước đó trên Biển Đông. Các nhà phân tích cho rằng, Trung Quốc hành xử theo kiểu từ chỗ không có lãnh thổ thì chiếm lĩnh như trường hợp Hoàng Sa, hoặc từ chỗ chẳng có gì ở Trường Sa mà lại có thể hợp tác cùng chia sẻ khai thác tài nguyên như đề nghị với Philippines. Cho nên lúc này là lúc Bắc Kinh muốn hạ nhiệt trong quan hệ với Hà Nội và đây là điều đang diễn ra. 


-----------------
Viettin: Cương quyết trấn áp người biểu tình chống Trung Quốc. Cương quyết tin tưởng vào những cam kết của TQ. Cương quyết phát huy tình hữu nghị với Trung Quốc. Cương quyết cùng với TQ chống lại mọi thế lực thù địch ....
Tại sao? Chuyện gì sắp xảy ra ?
Năm 1958, vì muốn "chống lại mọi thế lực thù địch", Đảng CSVN đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký công hàm "Công nhận chủ quyền của Trung Quốc". Chúng ta mất Hoàng Sa
Năm 2011: vì muốn "chống lại mọi thế lực thù địch", liệu Đảng CSVN có tuyên bố "Công nhận chủ quyền của Trung Quốc" trên toàn bộ biển Đông hay không? Liệu đường lưỡi bò sẽ là "chủ quyền của Trung Quốc", để rồi chúng ta lại mất Trường Sa?
Những gì Hồ Xuân Sơn, Nguyễn Chí Vịnh, Nguyễn Thiện Nhân, tuyên bố, là dấu hiệu cho thấy Đảng CSVN đang nằm trong qũy đạo của Trung Quốc trong việc chống lại thế lực của Hoa Kỳ trên biển Đông.

Khởi đăng hồ sơ Wikileaks liên quan đến Việt Nam

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=136801&z=328

Khởi đăng hồ sơ Wikileaks liên quan đến Việt Nam Thursday, September 08, 2011 6:31:11 PM Bookmark and Share Bắt đầu từ hôm nay, nhật báo Người Việt khởi đăng công điện ngoại giao của Hoa
 


Kỳ liên quan tới Việt Nam, bị lộ ra trong vụ Wikileaks. Wikileaks là một cơ sở bất vụ lợi có mục đích đòi hỏi chính quyền phải minh bạch, bằng cách công bố các tài liệu mật do các nguồn nặc danh cung cấp. Wikileaks bắt đầu nổi tiếng với những tiết lộ bí mật về chiến tranh Iraq, kể cả một đoạn phim trong đó lính Mỹ tưởng phóng viên Reuters mang vũ khí và nã súng bắn họ.

Nhưng phải tới tháng 10 năm 2010, Wikileaks mới thật sự nổi tiếng và ai cũng biết tên. Ðó là lúc Wikileaks loan tin lấy được 260,000 công điện ngoại giao của Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ bắt đầu công bố những công điện này.

Ðây là những công điện do các tòa đại sứ, lãnh sự của Mỹ từ khắp nơi gởi về Bộ Ngoại Giao.

Ðây là những tài liệu được đặt trong một mạng lưới tài liệu mật của quân đội Mỹ, gọi là “SIPRnet.” Sau vụ khủng bố 11 tháng 9, chính phủ

Tổng Thống George W. Bush ra lệnh cho các cơ quan quân đội, ngoại giao, tình báo phải chia sẻ tài liệu mật cho nhau, mục đích là để các cơ quan chính quyền có đầy đủ thông tin chống khủng bố.

Tuy nhiên, một tác dụng ngược của nó là khiến hàng ngàn quân nhân bỗng có thể đọc được công điện mật của ngành ngoại giao.

Một trong hàng ngàn quân nhân đó là Trung sĩ Bradley Manning, sau này bị giáng lon xuống binh nhì. Ông Manning tải toàn bộ công điện mật của bộ Ngoại Giao về máy mình, rồi chuyển qua cho Wikileaks.

Số tài liệu bị lộ gồm 251,287 công điện. Ban đầu, qua thỏa thuận với bốn tờ báo lớn của thế giới, tờ El País (Tây Ban Nha), Der Spiegel (Ðức), Le Monde (Pháp), The Guardian (Anh) và The New York Times (Mỹ), Wikileaks và những tờ báo này công bố công điện từ từ, theo từng đợt, và sau khi xóa bớt tên những người cần được bảo vệ.

Tuy nhiên, sau khi bị lộ mật mã cho tài liệu này, Wikileaks vào ngày 1 tháng 9 quyết định công bố tất cả, không bôi xóa gì hết. Tài liệu liên quan tới Việt Nam trong Wikileaks lên tới hơn 5,000 công điện. Chỉ riêng mục lục các công điện này, khi in ra giấy, đã lên tới 192 trang.

Trong những ngày sắp tới, Người Việt sẽ chọn lọc và khởi đăng công điện của Wikileaks, được chia ra theo những mục đề tài sau đây: * Nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam * Các tù nhân lương tâm * Nhân quyền, tôn giáo * Quan hệ với Trung Quốc * Quan hệ với Mỹ * Kinh tế, giáo dục Bộ tài liệu này sẽ được cập nhật liên tục.