THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label KinhTe - LamPhat. Show all posts
Showing posts with label KinhTe - LamPhat. Show all posts

10 December 2013

Giật mình với nhập siêu từ Trung Quốc: Nhanh, nhiều, rẻ

10/12/2013 03:35 (GMT + 7)
TT - Ở lĩnh vực nông nghiệp, hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc đã xâm lấn ồ ạt đến mức nền nông nghiệp vốn là thế mạnh ở VN nhưng hiện nay không chỉ nhập khẩu các loại trái cây, rau củ mà cả nguyên vật liệu, tư liệu đầu vào như máy gặt, lúa giống... cũng lệ thuộc vào Trung Quốc.

Trái cây Trung Quốc bày bán ê hề tại chợ đầu mối Hóc Môn, TP.HCM - Ảnh: D.Tuấn

Mặc cho chất lượng phập phù, có độc hại, rau củ quả và trái cây Trung Quốc vẫn ồ ạt về chợ đầu mối và tràn lan chợ lẻ.
Hàng về phục vụ tết
Hơn 1g sáng một ngày đầu tháng 12-2013, chợ đầu mối Hóc Môn (TP.HCM) chưa nhộn nhịp người mua nhưng bên trong các sạp, những thùng xốp quýt, hồng giòn, táo, lê bắt đầu được bưng ra. Bên ngoài những thùng loại này dán chi chít các nhãn bằng tiếng Trung Quốc rất dễ nhận biết.
“Mỗi container đổ ít nhất mỗi sạp 100-300 thùng, có sạp tới 1.000 thùng, cứ thế mà bán, đến sáng là hết” - chị Ngọc, chủ một sạp, khẳng định. Mỗi thùng trái cây loại này có trọng lượng khoảng 8kg. Với mặt hàng này, theo các tiểu thương, có thể đã trữ lạnh khoảng vài tháng vẫn đưa về VN.
Rảo một vòng quanh chợ đầu mối Thủ Đức (tp.hcm), không khí hối hả vận chuyển, dỡ hàng diễn ra tại rất nhiều sạp. Hiện quýt Trung Quốc về các chợ đầu mối giá dao động từ 115.000-150.000 đồng/thùng, hồng giòn từ 200.000-260.000 đồng/thùng, cam chỉ dao động từ 160.000-170.000 đồng/thùng. Với mức giá này, bình quân mỗi ký quýt chỉ ở mức 13.000 đồng/kg, mức giá rất rẻ so với hàng trong nước khoảng 18.000-20.000 đồng/kg.
Cũng theo các tiểu thương, thời điểm này trái cây Trung Quốc đã tràn về nhiều tỉnh miền Tây. “Trước đây, các vựa ở tỉnh vẫn lên chợ đầu mối lấy hàng, nhưng giờ thì xe container chở xuống tận nơi, giá rẻ lại không tốn công vận chuyển. Hàng đã tập kết về chợ đầu mối chủ yếu tiêu thụ ở TP” - chị Ngọc cho biết.
Các vựa cho biết thời điểm này bắt đầu rộ thu hoạch các mặt hàng này từ Trung Quốc, đồng thời từ giờ đến tết lượng hàng rau, củ trữ lạnh về chợ sẽ tăng dần như mọi năm.
Giá nhập khẩu giảm 50%
Sau khi lượng nhập rau quả từ Trung Quốc đã chựng lại, thậm chí giảm trong một số thời điểm ở quý 2-2013, thời gian gần đây nhập khẩu các loại rau củ quả từ Trung Quốc có xu hướng tăng liên tục. Ông Cường, một đầu mối nhập khẩu và kinh doanh nông sản ở chợ Tam Bình (Q.Thủ Đức, TP.HCM), cho biết thời gian gần đây cà rốt, bí đỏ, bắp cải Trung Quốc được nhập về nhiều hơn vì giá giảm. Nếu như khoảng tháng 5-2013, giá cà rốt nhập khẩu
khoảng 3.800 đồng/kg thì tháng 10-2013 giá nhập chỉ còn 2.500 đồng/kg. Tương tự, các thương lái Trung Quốc chào giá bí đỏ chỉ khoảng 1.200 đồng/kg, trong khi vài tháng trước giá khoảng 1.400-1.500 đồng/kg. Giá bắp cải nhập khẩu hiện cũng giảm tới 48,5% so với hồi đầu năm, chỉ còn 1.700 đồng/kg. “Giá nhập khẩu giảm nhiều trong khi thị trường lại không giảm, thậm chí còn tăng theo xu hướng chung của giá rau củ quả trong nước khiến người kinh doanh cũng kiếm thêm được chút lời” - ông Cường cho hay.
Thực tế, trong khi giá rau củ quả trong nước và nhập khẩu từ một số thị trường như Thái Lan, Mỹ, New Zealand tăng mạnh trong khoảng quý 3-2013 thì giá nông sản Trung Quốc chỉ giảm hoặc đứng yên. Đây là lợi thế khiến hàng Trung Quốc tái chiếm thị trường. Bà Thanh Huyền, ngụ Q.12, cho biết tháng 6-2013 nhiều lần đi siêu thị, cửa hàng nông sản mua một loại táo đỏ của Mỹ giá khoảng 49.000 đồng/kg. Nay loại này đã tăng đến 59.000 đồng/kg. Giá tăng quá nhiều khiến bà Huyền không dám mua loại táo này thường xuyên mà phải thay bằng những loại trái cây khác.
Không chỉ nhập nông sản tươi sống từ Trung Quốc, doanh nghiệp VN còn nhập nông sản đông lạnh, rau khô.
Diễn biến kim ngạch nhập khẩu rau củ quả
Thời điểm
Kim ngạch (triệu USD)
Tháng 8-2013
15,8
Tháng 9-2013
17,5
Tháng 10-2013
18,33
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Chi hàng trăm triệu nhập phân bón

Không chỉ nhập rau củ quả, lĩnh vực nông nghiệp còn ngày càng phụ thuộc nhiều vào nguồn tư liệu nhập từ Trung Quốc, từ các loại nguyên liệu vật tư đầu vào như giống cây trồng, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc...
Theo Cục Trồng trọt, VN có khoảng 700.000ha trồng lúa lai (chủ yếu ở miền Bắc và Bắc Trung bộ) nhưng nguồn giống lúa lai lại chủ yếu nhập của Trung Quốc (chiếm khoảng 60-70% diện tích). Mỗi năm VN chi khoảng 40 triệu USD để nhập khẩu 13.000-15.000 tấn lúa giống từ Trung Quốc, tương đương với xuất khẩu 100.000 tấn gạo cao cấp (5% tấm). VN có hơn 100 công ty, đơn vị đăng ký sản xuất lúa lai nhưng phần lớn các đơn vị này lại làm chức năng thương mại, tức là mua giống lúa từ Trung Quốc về bán cho nông dân.
Dù Bộ Công thương khẳng định năm 2013 VN chủ động được nguồn phân urê và giảm nhập khẩu các loại phân bón khác nhưng thực tế đang chứng minh ngược lại. Mỗi năm, VN lại nhập khẩu nhiều hơn các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật, trong đó phần lớn từ Trung Quốc.
Theo Tổng cục Hải quan, nhập khẩu phân bón từ Trung Quốc mười tháng đầu năm nay đạt trên 2 triệu tấn với kim ngạch 703,4 triệu USD. Như vậy, nhập khẩu phân bón từ Trung Quốc tăng khoảng 300.000 tấn so với cùng kỳ năm ngoái và nước này vẫn chiếm khoảng 50% tổng lượng phân bón nhập khẩu của VN. Tương tự, thuốc bảo vệ thực vật nhập từ Trung Quốc cũng chiếm tới 50% tổng lượng nhập của VN hằng năm.
TS Lê Văn Bảnh - viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL - cho biết hiện trên thị trường máy gặt đập liên hợp ngoài máy của Nhật Bản có chất lượng vượt trội và giá đắt thì sản phẩm của VN và Trung Quốc đang cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên, máy của VN cũng chủ yếu là lắp ráp, trong đó có nhiều bộ phận phải nhập khẩu từ Trung Quốc do ngành cơ khí của VN chưa sản xuất được.
T.MẠNH - B.HOÀN - D.TUẤN
Hàng lậu bán qua truyền hình
Những sản phẩm nhập lậu thay vì buôn bán lén lút nay được một số công ty công khai kinh doanh qua các kênh truyền hình. Bằng phương thức quảng cáo hấp dẫn, sản phẩm sau khi tạo được lòng tin từ các kênh truyền thông đã đẩy giá lên cao gấp chục lần giá thực. Cụ thể, mới đây Đội quản lý thị trường 4A kiểm tra Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ Vạn Gia Hảo (Q.8, TP.HCM) và điểm chứa hàng của công ty này, phát hiện gần 400 sản phẩm máy matxa, điện thoại không hóa đơn chứng từ. Công ty Vạn Gia Hảo thực hiện quảng bá sản phẩm, bán hàng qua hàng loạt kênh truyền hình.
Theo Chi cục Quản lý thị trường TP.HCM, hàng hóa nhập lậu có xuất xứ từ Trung Quốc không thiếu bất cứ mặt hàng nào. Sản phẩm nhập lậu từ đũa tre, bột ngọt, đồ gia dụng đến các loại mỹ phẩm, vải vóc, vật liệu xây dựng, hóa chất, bánh kẹo, đồ chơi trẻ em...
Chỉ trong quý 3-2013, hơn 300.000 sản phẩm đủ loại chủ yếu nhập lậu từ Trung Quốc tuồn vào TP tiêu thụ bị thu giữ. Những mặt hàng nhập lậu phổ biến, bị kiểm tra thu giữ với số lượng lớn bao gồm các loại đồ chơi trẻ em, mỹ phẩm. Hai mặt hàng này không những chiếm số lượng lớn mà luôn tiềm ẩn những nguy hại cho sức khỏe. Tính đến thời điểm này, Chi cục Quản lý thị trường TP.HCM kiểm tra gần 50 vụ buôn bán đồ chơi trẻ em và thu giữ trên 20.000 sản phẩm nhập lậu, không hóa đơn chứng từ, không kiểm định chất lượng, xuất xứ Trung Quốc.
LÊ SƠN

27 October 2013

Thủ tướng: 'Lạm phát không còn là vấn đề nóng'



Trên cơ sở báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tại phiên họp thường kỳ tháng 10 của Chính phủ ngày 26/10, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhận định diễn biến của nền kinh tế trong những tháng cuối năm là tương đối khả quan.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi với các thành viên Chính phủ trong giờ giải lao phiên họp ngày 26/10
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trao đổi với các thành viên Chính phủ trong giờ giải lao phiên họp ngày 26/10. Ảnh: Nhật Bắc (VGP)
Đặc biệt, trước thực tế tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 đã giảm xuống 0,49% và thấp hơn nhiều so với cùng kỳ 2 năm trước đó, người đứng đầu Chính phủ khẳng định “lạm phát không còn là vấn đề nóng” và mục tiêu kiềm chế lạm phát ở mức dưới 7% cho cả năm 2013 là khả thi.
Vẫn không thể chủ quan, lơ là
Tuy nhiên, theo Thủ tướng, không vì thế mà chúng ta chủ quan, lơ là, nhất là vào thời điểm cuối năm có thể xảy ra những yếu tố gây tăng giá đột biến, ảnh hưởng đến ổn định vĩ mô.
Do vậy, Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần tiếp tục phát huy kết quả đạt được, ra sức khắc phục những hạn chế, yếu kém nhằm đạt được kết quả cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã đề ra cho cả năm 2013. Trước mắt, cần tập trung quan tâm chỉ đạo thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.
Cùng với đó, các bộ, ngành, địa phương cần hết sức lưu ý đến công tác thu chi ngân sách, tăng cường các giải pháp chống thất thu, tiết kiệm chi; phấn đấu đạt mục tiêu về kế hoạch thu chi ngân sách, bảo đảm cân đối ngân sách.
Cần lập và triển khai kế hoạch cung ứng hàng hóa cho dịp cuối năm, đảm bảo cân đối cung cầu hàng hóa cho dịp Tết Nguyên đán, đi đôi với việc kiểm soát tốt giá cả thị trường, kiểm soát chặt chẽ buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng; xử lý nghiêm hành vi đầu cơ tăng giá bất hợp lý.
Trong phần thảo luận tình hình kinh tế xã hội, nhiều thành viên Chính phủ cho rằng, để duy trì được tăng trưởng cả năm như mục tiêu đề ra, cần tiếp tục thực hiện sâu rộng, hiệu quả hơn các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, hướng dòng vốn vào sản xuất và các lĩnh vực ưu tiên; hỗ trợ doanh nghiệp còn triển vọng tiếp tục vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh…
Thống đốc "hứa" ổn định lãi suất, tỷ giá
Liên quan đến hoạt động ngành ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình khẳng định, sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ và quyết liệt các giải pháp trong điều hành chính sách tiền tệ, xử lý nợ xấu, giữ vững mặt bằng lãi suất và sự ổn định tỷ giá.
Vì vậy, Thống đốc đề nghị các bộ, ngành, địa phương theo dõi sát diễn biến thị trường để tránh những biến động lớn về giá cả; kiểm soát tốt giá lương thực, thực phẩm những tháng cuối năm; phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu kiềm chế lạm phát như đã đề ra cho cả năm 2013.
Phát biểu kết luận phiên họp, Thủ tướng nhấn mạnh từ nay đến cuối năm 2013 chỉ còn 2 tháng nữa, nhiệm vụ đặt ra trước mắt là hết sức nặng nề. Do vậy, tinh thần chung là phải phấn đấu hơn nữa trong việc thực hiện các giải pháp đã đề ra; tiếp tục kiên trì, nhất quán thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đồng thời tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội.
“Việc phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 5,4% có ý nghĩa hết sức quan trọng trong năm bản lề 2013, từ mục tiêu này, sẽ tạo cơ sở, tiền đề để đạt được tăng trưởng cao hơn trong năm 2014 và những năm tiếp theo”, Thủ tướng nhận định.
Theo VnEconomy

22 October 2013

Mỗi người Việt “gánh" 20 triệu nợ công

Đồng hồ nợ công thế giới hôm nay điểm nợ công của Việt Nam đạt mức 76,706 tỉ USD, tổng dư nợ cả năm tăng 11,8%, chiếm 48,6% GDP.
Tính trên dân số 90,1 triệu người, thì mỗi người Việt gánh 851,48 USD nợ công. Nợ công trên đầu người không ngừng tăng lên.
Cụ thể, vào tháng 7 vừa qua, trung bình mỗi người dân Việt Nam gánh 826,4 USD nợ công và khi đó, nợ công Việt Nam ở mức 74,294 tỉ USD. Còn hồi tháng 1, nợ công tính trên đầu người là 787,9 USD với tổng nợ công 70,576 tỉ USD.
Đồng hồ nợ công thế giới (The global debt clock) điểm nợ công của Việt Nam là 76,706 tỉ USD. Ảnh: Chụp từ màn hình. 
Tuy nhiên, so với các quốc gia khác trên thế giới, đồng hồ nợ công Việt Nam vẫn giữ ở tông màu cam nhạt, thể hiện mức độ nhẹ hơn các nước có tông màu đỏ nặng nợ công như Mỹ, Trung Quốc, Úc, Pháp, Ấn Độ, Nhật Bản…
Ở Đông Nam Á, nợ công chiếm trên 50% GDP có Thái Lan, Malaysia, trong khi Indonesia chỉ chiếm 25,1%. Tổng nợ công toàn cầu hiện ở mức 51.815 tỉ USD.
Theo Thanh Niên

20 October 2013

Kinh tế 2014 chưa thể thoát khỏi trì trệ



NGANSACH-KINHTE


Trong ngắn hạn cần tập trung giải quyết nợ xấu để xử lý điểm nghẽn của tín dụng, tạo điều kiện cho nền kinh tế hấp thụ vốn.

Nguy cơ lạm phát vẫn “rình rập”

Nhận định về bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2013, chuyên gia kinh tế Tiến sĩ Trần Du Lịch- Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng, 9 tháng đầu năm 2013, kinh tế tăng trưởng chậm (GDP tăng hơn 5%), dự báo cả năm 2013 sẽ tăng khoảng 5,3% và CPI khoảng 6-7%.
“Điểm tích cực nổi bật mà chúng ta đạt được trong năm nay là các chỉ báo kinh tế vĩ mô được cải thiện theo hướng ổn định hơn, lạm phát được kiềm chế, tỉ giá và dự trữ ngoại hối ổn định, đặc biệt, hệ thống ngân hàng thanh khoản được giải quyết tương đối. Không còn chạy đua lãi suất huy động”- TS Lịch nói.
Tuy nhiên để giữ được sự ổn định này theo Tiến sĩ Lịch “nền kinh tế cũng phải trả giá. Nhiều doanh nghiệp đã chết hoặc ngưng hoạt động. Đặc biệt, nợ xấu ngày càng lớn… Nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn trì trệ, kéo dài từ mấy năm trước”.
Bên cạnh đó, nguy cơ tái lạm phát cao kèm theo sự trì trệ của thị trường sẽ làm cho tình hình khó khăn thêm. Mặc dù CPI 9 tháng đầu năm 2013 cũng chỉ tăng 4,63% so với tháng 12/2012, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn “rình rập”. Nếu thiếu những biện pháp đủ mạnh để tạo sự chuyển biến tình hình, nguy cơ tái lạm phát sẽ tăng cao trong những năm sau.
Ngoài ra, tình hình nợ xấu chưa được cải thiện, nên dòng tín dụng vẫn bị tắc nghẽn, nền kinh tế không hấp thụ được vốn.Tình trạng thừa tiền thiếu vốn còn kéo dài. Khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn còn khó khăn, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hiện có nhiều ngân hàng cho vay với lãi suất 5-5,8%/năm nhưng cũng có doanh nghiệp cho biết, “15% cũng không thể vay được”. Đây là điểm nghẽn của hệ thống ngân hàng mà theo TS Trần Du lịch là do thị trường giảm, những người được vay với lãi suất 5-7% thì không biết vay làm gì, còn người chấp nhận vay với lãi suất 14 – 15% thì ngân hàng không dám cho vì sợ tăng nợ xấu.
Nghịch lý này còn kéo dài trong thời gian tới. Chính vì vậy, chính sách tiền tệ phải ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Mục tiêu của ngân hàng nhà nước là đến 2015, nợ xấu toàn hệ thống sẽ dưới 3%.
Theo nhận định của TS Trần Du Lịch, thời gian tới, khả năng kéo giảm lãi suất cho vay không nhiều; khó đáp ứng sự mong đợi của doanh nghiệp, do hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp lẫn hệ thống ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, những nỗ lực để làm ấm thị trường bất động sản chưa thể mang lại kết quả, nên thanh khoản của thị trường này khó được cải thiện. Gói hỗ trợ lãi suất 30.000 tỷ đổng để hỗ trợ thị trường bất động sản cho đến nay chưa mang lại kết quả đáng kể.

Khó khăn ngân sách

Những khó khăn trên kéo theo một nguy cơ mới gây bất ổn kinh tế vĩ mô trong năm 2013 là thâm hụt ngân sách do nguồn thu không đạt kế hoạch. (Riêng trên địa bàn TP HCM trong quý 3 chỉ có 30% doanh nghiệp có lãi đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, còn lại 70% không đủ điều kiện đóng thuế thu nhập doanh nghiệp).
Trong khi đó, chi công không thể giảm và trở thành vấn đề nan giải cho bài toán ngân sách trong 2 năm 2014 và 2015. Tại kỳ họp thứ 6 của Quốc hội dự kiến khai mạc vào ngày 20/10 tới, vấn đề này sẽ được đặt lên bàn nghị sự.
“Tôi cho rằng ngân sách sẽ tiếp tục khó khăn trong 1- 2 năm tới khi doanh nghiệp và nền kinh tế chưa phục hồi mạnh và một loạt chính sách miễn giảm thuế phải kéo dài. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là chúng ta phải hướng tới thay đổi phân bổ ngân sách. Các quỹ phải minh bạch và phải tính toán huy động hết nguồn lực nhà nước. Hiện còn một số nguồn lực chưa huy động là thoái vốn một số ngành mà nhà nước không cần đầu tư. Vấn đề này có nhiều ý kiến kêu khó, tôi cho rằng không hề khó. Muốn huy động được nguồn lực này cho ngân sách, phải dứt khoát làm, thoái bán những mảng miếng đang hiệu quả, chắc chắn sẽ có người mua ngay”- TS Lịch đề xuất.

Năm 2014, chưa thể thoát khỏi trì trệ

Nhận định về tình hình kinh tế 2014, TS Trần Du Lịch cho rằng: “Năm 2014, nền kinh tế vẫn chưa thể thoát khỏi giai đoạn trì trệ. Những khó khăn trong năm 2013 vẫn tiếp tục kéo dài. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhưng tốc độ chậm; khu vực kinh tế trong nước vẫn còn tiếp tục khó khăn. Khu vực FDI giữ được lợi thế tăng trưởng nhưng không có sự đột biến trong năm 2014; nông nghiệp đã đạt đến đỉnh tăng trưởng do chưa thay đổi về cơ cấu, nên khó có khả năng tăng trưởng cao hơn năm 2013; khu vực dịch vụ sẽ tăng trưởng khá hơn năm 2013 nhưng chưa có khả năng thúc đẩy cả nền kinh tế”.
Tuy nhiên, theo TS Trần Du Lịch, bức tranh chung của nền kinh tế năm 2014 vẫn sáng hơn 2 năm 2012- 2013. Do đó, có thể dự báo trong năm 2014 tốc độ tăng GDP khoảng 5,5% và CPI tăng khoảng 7%.
Nhiệm vụ chính trong năm 2014 – 2015 theo TS Trần Du lịch vẫn là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế. Đồng thời là phục hồi niềm tin của thị trường thông qua các chính sách kinh tế trung-dài hạn và kết quả của quá trình tái cơ cấu 3 lãnh vực ưu tiên, theo tinh thần NQ TW 3 (khoá XI). Trong đó tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại và khu vực doanh nghiệp Nhà nước là quan trọng nhất để vừa bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo niềm tin cho thị trường.
“Trong 3 chính sách đang tác động rất lớn đến ngành kinh tế, một là chính sách tiền tệ, 2 là tài khóa, 3 là chính sách thị trường hóa các loại dịch vụ hàng hóa công mà Chính phủ đang kiểm soát giá. Đây là 3 vấn đề gắn chặt với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Tôi đã đề xuất, lấy mục tiêu lạm phát 7% mỗi năm trong 3 năm tới để ổn định nền kinh tế. Chính phủ đang dự kiến trình Quốc hội tăng dự chi lên để kích cầu. Khi cầu tăng cao thì đầu tư công phải giảm lại để không xảy ra tình trạng lạm phát. Về các loại hàng hóa công cũng phải điều chỉnh giá và gắn với việc tính toán chỉ số lạm phát”- TS Lịch nói.
Trong ngắn hạn, TS Trần Du Lịch kiến nghị tập trung giải quyết nợ xấu của ngân hàng thương mại để xử lý điểm nghẽn của tín dụng, tạo điều kiện cho nền kinh tế hấp thụ vốn. Trong đóphải xử lý nợ xây dựng cơ bản mà ngân sách đang nợ doanh nghiệp. Bởi phần nợ xây dựng cơ bản này đối với doanh nghiệp đang tạo phản ứng dây truyền: Doanh nghiệp nợ ngân hàng, ngân hàng tăng nợ xấu, nợ xấu không vay được, không vay được không có tiền làm công trình…

Cơ hội tái cơ cấu

Với những nỗ lực để kiềm chế lạm phát, đặc biệt thực hiện Nghị quyết 01 và 02 của Chính phủ ngay từ ngày 7/1/2013 và những giải pháp hỗ trợ thị trường đã mang lại những kết quả khả quan. Thị trường đang dần lấy lại niềm tin và đây là cơ hội mà các doanh nghiệp cần nắm bắt để xây dựng một chiến lược kinh doanh mới.
“Trong điều kiện hiện nay, doanh nghiệp không nên có tư tưởng “tăng trưởng nhanh, lãi nhiều” mà chuyển sang “lãi ít, nhưng tăng trưởng chắc”. Tôi mong rằng các ngân hàng cổ phần đừng đưa ra lãi tức cao để PR cho ngân hàng mình vì đây là giai đoạn phải tiến chắc”- TS Lịch bày tỏ.
Thời gian tới, thị trường sẽ diễn ra quá trình tự điều chỉnh; thị phần sẽ được phân chia lại. Đây là cơ hội cho những doanh nghiệp có điều kiện mở rộng thị phần, tăng đầu tư với chi phí rẻ. Kinh nghiệm cho thấy sau mỗi cuộc khủng hoảng kinh tế, sau cái hoạ đều có cái phúc cho những người biết nắm được thời cơ. Ngay cả thị trường bất động sản, trong bối cảnh ảm đạm hiện nay cũng đang mở ra cái phúc như vậy; chứ không chỉ có họa.
Với lạm phát kỳ vọng 6-7% và tỷ giá VND/USD ổn định ở biên độ 2-3% trong năm 2013 sẽ tạo điều kiện quan trọng cho doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh, phát triển thị trường và tính toán cho các mục tiêu trung hạn. Bên cạnh đó, trên cơ sở định hướng tái cơ cấu nền kinh tế theo Đề án của Chính phủ đến năm 2020, doanh nghiệp có điều kiện hơn trong việc xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn của mình.
“Chắc chắn trong các năm 2014-2015 sẽ diễn ra quá trình tái cơ cấu thị trường “nghiệt ngã”, trong đó có thị trường lao động. Đây là cơ hội để doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực; thu hút đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Tôi cho rằng đây là vấn đề cốt lõi”- TS Lịch nhấn mạnh.
TS Trần Du Lịch một lần nữa nhấn mạnh, phải làm thế nào để vực dậy nền kinh tế với mục tiêu lớn nhất của chúng ta là nền kinh tế phải tận dụng cơ hội của quá trình hội nhập để từ giai đoạn 2016-2020 có thể đạt được tốc độ tăng trưởng từ 7- 8% mỗi năm thì mới có thể kỳ vọng đến sự thành công trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nướcvà có tiền đề vật chất nâng cao phúc lợi xã hội./.
Theo VOV

24 September 2013

‘Giữ lạm phát 6-6,5% là mục tiêu tham vọng’


 
 'Kiềm chế lạm phát không còn là thành tích'

Lạm phát được xem là một trong những điểm sáng nhất của kinh tế 6 tháng đầu năm, nhưng theo Ủy ban Kinh tế Quốc hội rủi ro khiến giá cả tăng trở lại vẫn hiện hữu.
Ủy ban Kinh tế của Quốc hội vừa công bố Bản tin Vĩ mô, đánh giá tình hình kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2013, đưa ra dự báo cho ngắn và trung hạn. Cơ quan này nhận định bức tranh kinh tế 6 tháng gồm cả những gam màu sáng - tối đan xen nhau.
Điểm sáng nhất là lạm phát đã được kiềm chế hiệu quả ở mức thấp (8 tháng giữ ở 3,53%), xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng, cán cân tổng thể thặng dư, tạo điều kiện cho việc ổn định tỷ giá và thực hiện bước tiến quan trọng trong việc chống đôla hóa và vàng hóa.
Bên cạnh đó, sự gia tăng dòng vốn đầu tư của các công ty đa quốc gia hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cũng đóng góp quan trọng cho tăng trưởng dài hạn của Việt Nam. Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đang chiếm tới 65% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.
Ft-212-7510-1379924841.jpg
Báo cáo cho rằng bức tranh kinh tế Việt Nam 6 tháng bao gồm cả mảng tối và sáng xen kẽ. Ảnh: FT
Tuy nhiên, trong nửa đầu năm, nền kinh tế cũng chịu sự suy giảm rõ nét. Thông qua biến động của 4 chỉ số như tăng trưởng, lạm phát, cán cân thanh toán và việc làm, báo cáo chỉ ra tăng trưởng kinh tế hồi phục chậm đi kèm với những khó khăn trên thị trường lao động.
Theo đó, tốc độ tăng trưởng 4,9% trong nửa đầu năm là thấp nhất so với cùng kỳ của giai đoạn 2010 – 2013. Trong đó, không chỉ khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản – vốn được coi là “trụ đỡ hay đệm giảm sóc” cho nền kinh tế đang trên đà giảm tốc mà cả khu vực công nghiệp và xây dựng cũng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng thấp nhất kể từ 6 tháng năm 2010 trở lại đây. Điều này cho thấy tình trạng suy giảm của nền kinh tế không chỉ diễn ra trong 6 tháng đầu năm 2013 mà còn đưa ra dấu hiệu cảnh báo về nguy cơ trì trệ kéo dài đến hết năm.
Trong bối cảnh kinh tế suy giảm và lạm phát ở mức thấp, một số ý kiến đề xuất nên hướng tới kích thích nền kinh tế, tức thực hiện chính sách kích cầu.Tuy nhiên, theo Ủy ban Kinh tế, cần hết sức thận trọng với các kiến nghị kích cầu. “Việc thực thi các chính sách nới lỏng để kích cầu ở Việt Nam hiện nay chứa đựng nhiều rủi ro, bởi những ràng buộc quá chặt khiến dự địa can thiệp chính sách là rất hạn hẹp. Do đó, cần tiếp tục kiên định thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát ở mức hợp lý, thúc đẩy tăng trưởng dựa trên việc đẩy mạnh cải cách cơ cấu”, báo cáo nhấn mạnh.
Cơ quan này cũng đưa những lý do khiến không nên thực hiện kích cầu lúc này: Lạm phát ở Việt Nam rất nhạy cảm với việc nới lỏng chính sách tiền tệ và tài khóa do những yếu kém trong cơ cấu kinh tế cũng như tâm lý lạm phát của người dân còn nặng nề sau một giai đoạn bất ổn vĩ mô kéo dài. Phân tích số liệu từ năm 2006 đến năm 2010, Ủy ban Kinh tế cho biết giá của sự đánh đổi trong ngắn hạn giữa tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam cao hơn đáng kể so với mức trung bình của thế giới, phản ánh những rủi ro đáng kể khi thực hiện các chính sách kích thích tổng cầu nhằm hỗ trợ tăng trưởng ở Việt Nam. Do đó, mặc dù CPI 8 tháng mới tăng ở mức 3,53% nhưng theo nhận định của các chuyên gia, mục tiêu kìm chế lạm phát ở mức 6-6,5% cho cả năm nay vẫn là khá tham vọng.
Bên cạnh đó, môi trường làm chính sách hiện nay có quá nhiều ràng buộc như nợ công ở mức cao và có xu hướng gia tăng. Theo nguồn tin từ Chính phủ, nợ công của Việt Nam tính đến 31/12/2012 tương đương 55,5% GDP, nhưng nếu tính cả nợ của doanh nghiệp Nhà nước thì con số này có thể lên tới 95% GDP - theo một báo cáo trước đây của Ủy ban Kinh tế. Không chỉ vậy, năng lực thiết kế và đặc biệt là việc thực thi chính sách còn hạn chế dẫn đến chính sách chậm được triển khai, làm tăng thêm độ trễ giữa thời điểm nền kinh tế cần được kích thích với thời điểm thực sự được kích thích, dẫn đến sự sai lệnh hoàn toàn kết quả so với dự tính ban đầu.
Với nhận định tổng cầu cần nhiều thời gian để hồi phục, Ủy ban Kinh tế cho rằng phải kiên định và quyết liệt các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh hơn nữa việc thực thi chương trình tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng”.
“Những bất cập mang tính cơ cấu, dẫn đến sự kém hiệu quả của đầu tư công, khu vực doanh nghiệp Nhà nước và hệ thống ngân hàng đã làm gia tăng giá của sự đánh đổi giữa tăng trưởng và lạm phát trong ngắn hạn. Do đó, quá trình điều chỉnh của kinh tế Việt Nam sang một quỹ đạo mới cân bằng và bền vững hơn sẽ cần nhiều thời gian. Cần có một tầm nhìn trung hạn đối với quá trình này, thay vì quá chú ý đến những dao động ngắn hạn của nền kinh tế trong nước và toàn cầu”, tổ chức này khuyến nghị.
Theo dự báo của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, được Ủy ban Kinh tế trích dẫn, trong trường hợp kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ, nhiều khả năng kịch bản tăng trưởng thấp sẽ xảy ra. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2013 - 2015 sẽ lần lượt là 4,92%; 5,17% và 5,33%. Điều này cũng phản ánh mục tiêu tăng trưởng năm 2013 là 5,5% khó có thể đạt được trong trung hạn, nền kinh tế sẽ phục hồi chậm chạp kiểu hình chữ U.
Với lạm phát, trong trường hợp ít có sự biến động mạnh về điều hành chính sách kinh tế vĩ mô cũng như cú sốc giá năng lượng và hàng hóa trên thị trường thế giới, chỉ tiêu này năm 2013 sẽ khoảng 7,32%. Trong trường hợp có sự biến động đáng kể trong điều hành chính sách vĩ mô như tăng tỷ giá hay nới lỏng chính sách tín dụng, đầu tư công hoặc tăng mạnh giá điện, than, xăng dầu và dịch vụ y tế thì lạm phát có thể lên tới mức 8,84%. Dự báo lạm phát trong các năm 2014 và 2015 tương ứng là 7,81% và 8,4%.
Trong giới hạn thâm hụt ngân sách không vượt quá 4,8% GDP, Ủy ban Kinh tế cũng đưa ra một số khuyến nghị. Đầu tiên, cơ quan này cho rằng cần “đây là thời điểm để giải quyết vấn đề nợ đọng từ các công trình đầu tư công bởi một phần của nợ xấu hiện nay đến từ việc chủ đầu tư chậm thanh toán khi thực hiện các công trình xây dựng cơ bản của Nhà nước. Ngoài ra, ưu tiên giải ngân cho các dự án dang dở để nhanh chóng hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình này. Giải pháp này sẽ như một mũi tên bắn trúng hai đích khi vừa giúp tiêu thụ hàng tồn kho vừa tránh lãng phí do đầu tư dang dở gây ra.
Tiếp đó, cần minh bạch hơn nữa chi phí và giá thành điện, nước, xăng dầu để có thể thuyết phục được người dân về sự cần thiết của việc điều chỉnh giá của các loại năng lượng chiến lược này.
Về trung hạn, Ủy ban Kinh tế đề xuất đưa thêm chỉ số lạm phát lõi (lạm phát loại bỏ giá lương thực, thực phẩm và năng lượng) vào hệ thống giám sát để tách bạch sự ảnh hưởng của các yếu tố phi tiền tệ đến lạm phát trong bối cảnh giá lương thực toàn cầu điều chỉnh theo xu hướng giảm và giá năng lượng trong nước tiếp tục chuyển sang cơ chế thị trường.
Đồng thời, đẩy nhanh hơn nữa quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước và các tập đoàn, tổng công ty nhằm nâng cao hiệu quả nền kinh tế và qua đó giúp ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Trọng tâm của quá trình này là buộc các doanh nghiệp Nhà nước và các tập đoàn, tổng công ty phải ràng buộc bởi ngân sách cứng, bình đẳng với các doanh nghiệp tư nhân và chịu sự giám sát chặt chẽ theo tiêu chuẩn của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Huyền Thư

20 July 2013

Lãi suất lại hạ, ngân hàng lo khách ồ ạt rút tiền

Lãi suất huy động vốn vừa được nhiều ngân hàng giảm thêm từ 0,5-2 điểm phần trăm, làm dấy lên nỗi lo về việc người gửi tiền sẽ dồn vốn vào USD, gây tác động xấu đến tỉ giá và đẩy lạm phát tăng lên.

Ngân hàng (NH) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa giảm lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 1 tháng từ 6%-6,5%/năm còn 5%/năm; NH Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cũng bất ngờ điều chỉnh lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng từ 6% còn 5%/năm; NH Công Thương Việt Nam (VietinBank) giảm 6,5% lãi suất tiền gửi VNĐ kỳ hạn 1 tháng còn 6%/năm. Đối với kỳ hạn 3-6 tháng, BIDV, Vietcombank,VietinBank huy động với lãi suất từ 6,8% -7,5%/năm.

Ngân hàng giảm chi phí đầu vào
Về mặt lý thuyết, do 3 NH trên chiếm thị phần quá lớn nên lãi suất của nó thường dẫn dắt thị trường, có thể kéo lãi suất đầu vào các NH bạn giảm theo. Từ đó, lãi suất cho vay sẽ giảm thêm.

Thế nhưng, sau khi BIDV, Vietcombank, VietinBank giảm lãi suất gần một tuần, lãi suất tiền gửi và cho vay tại nhiều ngân hàng khác vẫn chưa giảm. Hàng chục NH vẫn huy động vốn kỳ hạn 1 tháng với lãi suất từ 6,7% -7%/năm, kỳ hạn 3-12 tháng với lãi suất 6,8%-10%/năm.

Tùy theo mục đích và thời hạn vay, nhiều NH vẫn áp dụng lãi suất cho vay bằng lãi suất đầu vào cộng với chi phí kinh doanh từ 3%-5%. Do đó, lãi suất cho vay được duy trì ở mức 9%-13%/năm. Đối với doanh nghiệp lớn, các NH áp dụng lãi suất đầu vào cộng với biên độ 1,2%/năm, tính ra lãi suất cho vay phổ biến ở mức 8%-9%/năm.
Các chuyên gia cho rằng thời điểm này, người dân nên tạm thời gửi tiền vào ngân hàng Ảnh: HỒNG THÚY
Các chuyên gia cho rằng thời điểm này, người dân nên tạm thời gửi tiền vào ngân hàng Ảnh: HỒNG THÚY

Trao đổi với báo giới, một lãnh đạo BIDV cho biết hiện NH này đang dư thừa nguồn vốn ngắn hạn, cho vay chủ yếu là trung và dài hạn nên buộc phải giảm thêm lãi suất huy động kỳ hạn ngắn. Trong khi đó, phó tổng giám đốc một NH tại Hà Nội lý giải: "Do các NH thường cho vay với thời hạn tối thiểu là 3-6 tháng nên việc giảm lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng sẽ giúp NH giảm chi phí đầu vào".
Giới phân tích cho rằng các NH giảm mạnh lãi suất kỳ hạn 1 tháng là để kích thích người dân gửi tiền kỳ hạn dài, phù hợp với thời hạn mà NH cho vay. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khi NH giảm lãi suất tiết kiệm quá sâu, liệu người dân có thể dồn vốn vào vàng, chứng khoán, USD…?

Chưa có tín hiệu chuyển hướng
Trong nhiều ngày qua, không có hiện tượng người dân đổ xô mua vàng. Tuy giá vàng trong nước có tăng vài trăm ngàn đồng/lượng nhưng theo giới kinh doanh vàng, nguyên nhân là do NH Nhà nước ngưng bán vàng, đồng thời các NH thương mại phải mua vàng để tất toán trả lại cho người gửi tiết kiệm. Trên thị trường chứng khoán, chỉ số VN-Index cũng tăng, giảm điểm thất thường; còn trên thị trường ngoại tệ, giá USD tự do từ 21.650 đồng giảm còn 21.500 đồng.

Theo TS Nguyễn Văn Thuận, Trưởng Khoa Tài chính - NH Trường ĐH Mở TP HCM, diễn biến của thị trường vàng, chứng khoán, ngoại tệ… cho thấy người dân chưa dịch chuyển tiền gửi NH. Ông Thuận cho rằng mấu chốt của thị trường tiền tệ là nhà nước cần có chính sách để khơi thông số vốn đang bất động tại các NH. Nếu không nhiều, NH sẽ tiếp tục giảm thêm lãi suất. Khi đó, nhiều khả năng người dân sẽ chuyển hướng đầu tư, nhất là dồn vốn vào USD, tác động không tốt tới tỉ giá hối đoái và đẩy lạm phát đi lên.

Không nên vội vã rút tiền
Theo TS Nguyễn Văn Thuận, trong thời gian tới, chưa chắc các kênh đầu tư khác sẽ sinh lời cao hơn gửi tiết kiệm. Vì thế, thời điểm này, người dân nên tạm thời gửi tiền vào NH. Nếu lãi suất kỳ hạn 1 hoặc 2 tháng quá thấp thì chuyển sang gửi kỳ hạn 3-6 tháng để hưởng lãi suất cao hơn.

PGS-TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho rằng hiện nay, nền kinh tế suy giảm, các NH đang ôm vốn buộc phải giảm thêm lãi suất tiền gửi. Vấn đề là các NH phải giảm thêm lãi suất cho vay thì người gửi mới nghĩ đến việc rút vốn rồi vay thêm của NH để tìm kiếm cơ hội đầu tư mới, tạo thêm việc làm, kích thích kinh tế phát triển. Trường hợp người gửi không tìm được kênh đầu tư với mức sinh lời cao hơn lãi suất tiết kiệm thì nên tiếp tục để tiền tại NH.
Nguyên thống đốc NH Nhà nước Cao Sỹ Kiêm cho biết lãi suất luôn bám sát lạm phát và nếu lạm phát càng đi xuống thì lãi suất tiền gửi lẫn cho vay sẽ xuống theo. Khi đó, người dân có thể rời bỏ kênh đầu tư lãi suất tiền gửi để dồn vốn vào sản xuất - kinh doanh. Tuy nhiên, ông Kiêm cũng khuyến cáo: "Nếu không tìm được môi trường kinh doanh thuận lợi thì người có tiền nên gửi vào NH".

TS Lê Thẩm Dương, Trưởng Khoa Quản trị kinh doanh Trường ĐH NH TP HCM, cho rằng các NH có thể giảm thêm lãi suất nhưng chỉ đối với kỳ hạn 1 hoặc 2 tháng để hướng người gửi tiền kỳ hạn dài, còn lãi suất các kỳ hạn dài phải giữ từ 7%/năm trở lên nhằm tạo điều kiện cho người dân lựa chọn mức sinh lời. Trong trường hợp các NH giảm mạnh lãi suất kỳ hạn dài thì sẽ là vấn đề đáng lo ngại vì khi sinh lời từ tiết kiệm quá thấp, người dân có thể dồn vốn vào nhiều kênh đầu tư khác."Trần lãi suất đối với kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống không quá 7%/năm, lãi suất các kỳ hạn trên 6 tháng được thả nổi đang là cơ hội cho người gửi tiền bởi lạm phát hiện nay đã quá thấp".
Theo NLĐO

23 May 2013

Kỷ lục lạm phát của Việt Nam vượt mọi quốc gia



lamphat-gia

Kỷ lục lạm phát của Việt Nam đã vượt qua tất cả các quốc gia trong khu vực kể từ khi đất nước tiến hành đổi mới đến nay, theo một nghiên cứu khoa học vừa công bố sáng nay (21-5).
Công trình nghiên cứu của tiến sĩ Đào Văn Hùng, Nguyễn Thạc Hoát và các đồng sự thuộc Học viện Chính sách và Phát triển phát hiện, trong tất cả các giai đoạn 5 năm suốt từ năm 1991 đến năm 2012, Việt Nam đã vượt qua tất cả các nước trong khu vực về một chỉ tiêu đáng buồn là lạm phát.
Công trình được đưa ra tại buổi hội thảo “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức cùng Học viện Chính sách và Phát triển và USAID cho biết, mức lạm phát của Việt Nam lên tới hơn 18% năm 2011 và 6,8% năm 2012, cao hơn nhiều so với mức trung bình khoảng 3% của các nước như Trung Quốc, Indonesia, Phillippines và Thái Lan.
Quốc gia có lạm phát cao nhất trong hai năm qua là Indonesia, song mức lạm phát của họ cũng chỉ 3,8-5% trong hai năm qua, thấp hơn nhiều so với của Việt Nam.
Tất cả các kỳ 5 năm được chọn để so sánh đều cho xu hướng như trên.
Nghiên cứu cho biết, trong 27 năm từ 1996-2012, Việt Nam có 13 năm và 4 giai đoạn lạm phát trên 2 con số, trong đó đáng kể nhất là từ 1986-1992 với mức lạm phát bình quân ba chứ số 225%/năm; 2007-2008 với 16,3% năm và 2010-1011 với 15%/năm.
Theo tiến sĩ Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển, kể cả so với Trung Quốc thì lạm phát của Việt Nam cao hơn, trong khi tăng trưởng lại thấp hơn.
Trong giai 2008-2012 tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là gần 5,9% năm, và lạm phát là 12,6%; còn Trung Quốc tương ứng là 9,3%/năm và 3,3%/năm.
Trong 20 năm (1991-2010), Việt Nam tăng trưởng bình quân năm khoảng 7,4%, lạm phát gần 11%; thì Trung Quốc tương ứng là 10,5% và 4,8%.
Ông Hồ đặt câu hỏi: “Tại sao trong 20 năm qua họ tăng trưởng gấp đôi ta nhưng lạm phát bằng nửa ta?”.
Chỉ vào đồ thị về diễn biến của lạm phát 1992-2012 tại hội thảo sáng nay, ông Nguyễn Thạc Hoát nói: “Xu hướng biến thiên của đường lạm phát rất phức tạp, biến động mạnh, đỉnh nhọn, biên độ lớn. Điều đó cho thấy kiểm soát lạm phát ở Việt Nam chưa bền vững; sự bất ổn của tiền tệ và kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn lớn”.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Cao Viết Sinh bày tỏ lo ngại, mức lạm phát cao triền miên như vậy đang làm chi phí vốn và chi phí đầu tư kinh doanh ở Việt Nam cao hơn các quốc gia khác.
Ông Sinh cho rằng, các quốc gia khác cho vay lãi suất thấp vì rủi ro vĩ mô của họ thấp, còn Việt Nam thì ngược lại.
Tuy nhiên, thứ trưởng nhận xét, sau một thời gian dài áp dụng các chính sách kinh tế nhằm giảm lạm phát, đến lúc này, doanh nghiệp đã có tâm lý không muốn làm ăn, người dân không muốn mua sắm tiêu dùng nữa.
“Các doanh nghiệp với lãi suất cho vay hiện nay và đầu ra khó sẽ chỉ gửi vốn ngân hàng lấy lãi, hơn là đầu tư kinh doanh. Đây là xu hướng rất nguy”, ông nói.
Ông khẳng định, số lượng doanh nghiệp biến mất khỏi thị trường là điều rất đáng lo ngại, và đặt câu hỏi: “Liệu nền kinh tế có giữ được không với lãi suất vẫn cứ cao như thế này”.
Tuy nhiên, là một trong những tác giả chính của các đề án phát triển kinh tế của Chính phủ, ông Sinh tỏ ra lo lắng làm sao tìm ra nguồn vốn cho nền kinh tế sôi động lại, nhất là khi mục tiêu tăng trưởng tín dụng 12% cho năm nay (tương ứng với 360.000 tỉ đồng) không thể đạt được.
Tại hội thảo, các nhà kinh tế đề xuất mức lạm phát tối ưu khoảng 7-7,5%/năm trong giai đoạn 2013-2015.
Bên cạnh đó, họ kiến nghị cần có cơ quan phối hợp chính sách tài khóa và tiền tệ độc lập với Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính.
theo thesaigontimes.vn

26 December 2012

Thủ tướng: ‘Lạm phát năm sau phải thấp hơn năm nay’



Ổn định vĩ mô tiếp tục là ưu tiên hàng đầu trong 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu các ngành, địa phương kiểm soát lạm phát một cách quyết liệt ngay từ đầu năm.
Hàng chục nghìn tỷ đồng giải cứu nền kinh tế
Tăng trưởng GDP cả năm 5,03%

Quan điểm này được người đứng đầu Chính phủ khẳng định tại Hội nghị trực tuyến giữa Chính phủ và các địa phương về việc triển khai nhiệm vụ kinh tế - xã hội 2013, diễn ra trong 2 ngày 25 - 26/12. Trong phần kết luận kéo dài gần một giờ đồng hồ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dành nhiều thời gian đánh giá tích cực về các kết quả đạt được trong năm 2012, bên cạnh việc chỉ ra những thiếu sót và định hướng giải pháp cho năm tới. Trước đó lần lượt đã có 21 địa phương và 6 thành viên của Chính phủ tham gia trao đổi về các vấn đề liên quan đến 2 nghị quyết về kinh tế - xã hội và giải cứu doanh nghiệp - tháo gỡ khó khăn cho năm 2013.
“Các đồng chí đã đồng tình với mục tiêu, chỉ tiêu cũng như giải pháp đã đề ra. Trong bối cảnh hiện nay, đó là những chỉ tiêu rất thách thức, đòi hỏi phải được cụ thể hóa, thể chế hóa rồi quyết liệt hành động”, người đứng đầu Chính phủ nhận định.
Thủ tướng cho rằng đánh giá tích cực các kết quả đạt được trong năm 2012 không phải là
Thủ tướng cho rằng tốc độ tăng trưởng năm 2012 là phù hợp. Ảnh: VGP
Với mục tiêu ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát tiếp tục được đặt lên hàng đầu trong năm tới, Thủ tướng cho rằng chỉ số giá tiêu dùng 2013 phải thấp hơn con số 6,81% của năm nay. Theo đó, mặc dù việc giữ lạm phát một con số của năm 2012 là một thành công nhưng trân trọng nhận định của các chuyên gia, Thủ tướng cho rằng đà giảm này chưa vững chắc: “Các địa phương cố gắng, quyệt liệt kiểm soát ngay trong tháng một tới. Quy luật hàng năm cho thấy CPI quý một chiếm tỷ lệ lớn trong lạm phát cả năm. Muốn kiểm soát tốt thì đừng để sốt, thiếu hàng, đừng để đầu cơ…”, đại diện Chính phủ giao nhiệm vụ.
Nhằm góp phần thực hiện mục tiêu này, Thủ tướng cũng yêu cầu Thống đốc ngân hàng điều hành, cân đối tiền để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, tiếp tục hạ lãi suất, ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại hối. “Ổn định tỷ giá vừa rồi đáng biểu dương. Dự trữ ngoại hối cũng tăng từ 10 tỷ lên 23 - 24 tỷ USD trong vòng mấy tháng. Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết nếu tính đủ thì còn nhiều hơn nữa”, Thủ tướng nói.
Trước những khó khăn của ngân sách trong năm 2012, Thủ tướng lưu ý tới nhiệm vụ đảm bảo tài khóa năm 2013 của ngành tài chính và các địa phương. Ông cũng lưu ý tới một nhiệm vụ cấp bách khác của Chính phủ là tích cực tháo gỡ khó khăn sản xuất, giải quyết nợ xấu, tồn kho, nhất là tồn kho bất động sản. Thủ tướng cho biết trong ngày 27/12, Chính phủ sẽ họp bàn về đề án công ty mua bán nợ, việc giải quyết nợ xấu…
Nhìn dài hơi hơn về các thách thức đối với nền kinh tế, Thủ tướng cũng đặt vấn đề cải thiện môi trường đầu tư, “không thể chỉ trông chờ vào lợi thế là ổn định chính trị”. Ông cũng thúc giục các bộ ngành nhanh chóng triển khai các đề án tái cơ cấu nền kinh tế, yêu cầu các địa phương chú ý tới tái cơ cấu đầu tư, sắp xếp lại các doanh nghiệp do mình quản lý. Bên cạnh đó, trong năm 2013, Chính phủ cũng sẽ triển khai nhiều biện pháp nhằm đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo nhanh cho vùng đồng bào dân tộc, cải cách hành chính, chống tham nhũng…
Trước đó, trong phần đánh giá về năm 2012, người đứng đầu Chính phủ thừa nhận thách thức từ cả bên trong lẫn bên ngoài đều lớn hơn những gì được dự báo từ đầu năm. “Đến hôm nay nhìn lại, nền kinh tế nhìn chung đã đạt được chuyển biến tích cực, trên nhiều lĩnh vực. Cơ bản thực hiện có kết quả mục tiêu tổng quát: kiềm chế lạm phát, ổn định vĩ mô”, Thủ tướng nhận định.
Chính phủ yêu cầu quyết liệt kiềm chế lạm phát trong dịp Tết. Ảnh: Bloomberg
Chính phủ yêu cầu quyết liệt kiềm chế lạm phát trong dịp Tết. Ảnh:Bloomberg
Riêng về tốc độ tăng trưởng kinh tế, đại diện Chính phủ cho rằng con số 5,03% tính theo giá gốc 1994 và khoảng 5,2% theo thời giá 2010 là “một cố gắng lớn, phù hợp với thực tế, bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế”. “Hệ thống lại như vậy để cho thấy là cơ bản đạt được các kết quả để ra. Đây không phải là ca ngợi, tô hồng, nói một chiều thành tích. Đây là niềm tin, tiềm năng của Việt Nam”, Thủ tướng nói.
Tuy vậy, bên cạnh các thành tích đã đạt được, đại diện Chính phủ cũng chỉ ra không ít tồn tại trong điều hành. Bên cạnh đà giảm lạm phát còn chưa vững chắc, Thủ tướng cũng thừa nhận tái cơ cấu kinh tế còn chậm, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, niềm tin vào môi trường kinh doanh suy giảm
“Tôi thay mặt Chính phủ nhận yếu kém, khuyết điểm. Như đã nói trước Quốc hội, một trong những yếu kém lớn nhất là là năng lực xây dựng thể chế, thực thi thể chế… Nay nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt rất nặng nề, Chính phủ và các địa phương sẽ phải phải cùng nhau nỗ lực để tổ chức thực hiện”, ông nói.
Ngay trước phần kết luận của mình, Thủ tướng các thành viên Chính phủ đã có hơn một ngày trao đổi với lãnh đạo các địa phương qua cầu truyền hình trực tuyến về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013 và các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất. Khác với cuộc họp trong những năm trước, do ý thức được những khó khăn của ngân sách cũng như việc đổi mới trong cơ chế đầu tư công, 21 phần phát biểu của lãnh đạo địa phương đã bớt dần những đề nghị được trung ương bố trí vốn cho dự án này hay dự án khác. Tuy nhiên, thay vào đó, lại có khá nhiều những ý kiến đề nghị được Chính phủ cho phép xây dựng các “cơ chế đặc thù” cho tỉnh mình.
Chẳng hạn Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang - Lê Văn Thì đề nghị được Chính phủ cho cơ chế riêng để mở rộng thị trường tiêu thụ, ưu tiên xuất khẩu cho các vùng trọng điểm lúa như tỉnh mình. Hay Chủ tịch tỉnh Bình Dương - Lê Thanh Cung đề xuất được phát hành trái phiếu địa phương, qua đó tạo nguồn xây dựng các cơ sở hạ tầng, đáp ứng nhu cầu của người lao động đang ngày một tăng nhanh tại các khu công nghiệp. Cũng có ý kiến khác đến từ Phú Thọ đề nghị nhanh chóng có cơ chế đặc thù trong việc xây dựng Việt Trì thành thành phố lễ hội hay Ninh Thuận cần có cơ chế riêng cho việc di dân khi xây dựng nhà máy điện hạt nhân…
Bên cạnh những ý kiến này, lãnh đạo các địa phương cũng đóng góp khá nhiều vào việc xây dựng các giải pháp, mục tiêu chung trong năm 2013 như tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, giải quyết tồn kho, nợ xấu hay kêu gọi vốn ODA… Đối với những kiến nghị này, Thủ tướng yêu cầu Văn phòng Chính phủ tổng hợp để điều chỉnh trong các nghị quyết được ban hành sắp tới. Trong khi đó, với các vấn đề cụ thể của địa phương, các Bộ chuyên trách sẽ có trách nhiệm phối hợp giải quyết hoặc trình Thủ tướng nếu vượt quá thẩm quyền.
Nhật Minh

28 June 2012

Giảm Phát Rồi Lạm Phát



2012-06-27
Chỉ số giá tiêu dùng trong Tháng Sáu tại Việt Nam đã giảm tới mức thấp nhất trong vòng 38 tháng vừa qua và giảm mạnh nhất tại Hà Nội.
RFA photo
Ngân Hàng Trung Ương tại Hà Nội hôm 13/6/2012.
Sự kiện này xảy ra sau khi kinh tế Việt Nam bị lạm phát rất cao từ năm ngoái. Liệu đấy có là dấu hiệu cho thấy chính sách điều tiết vĩ mô đã phần nào đạt kết quả, hay ngược lại, đây là triệu chứng đáng ngại của hiện tượng giảm phát? Vũ Hoàng nêu câu hỏi với chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế của đài Á châu Tự do.

Thiểu phát, giảm phát rồi lạm phát

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Sau nguy cơ lạm phát kéo dài trong hai năm liền, tuần qua người ta được biết chỉ số giá tiêu dùng tại Việt Nam đã giảm mạnh. Câu hỏi ám ảnh nhiều người hiện nay là Việt Nam gặp nạn giảm phát hay lạm phát? Ông có ý kiến gì về vấn nạn này và làm sao mình tiên đoán ra tương lai?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Câu hỏi đang gây thắc mắc cho nhiều người là "giảm phát hay lạm phát?" nhưng đây không chỉ là một vấn đề của Việt Nam mà còn đang làm nhiều nước khác ưu lo, kể cả Hoa Kỳ này. Câu trả lời ngắn gọn của tôi là: "cả hai, giảm phát rồi lạm phát, rồi sẽ thành suy lạm". Nghĩa là chúng ta đang gặp kịch bản đáng ngại nhất cho người làm chính sách. Trước hết, tôi xin được giải thích một vài khái niệm hay định nghĩa về chuyện rắc rối này.
Lạm phát, hay inflation, là khi vật giá gia tăng, đo lường ở sự sai biệt của chỉ số giá tiêu dùng giữa hai thời kỳ và vật giá gia tăng khiến sức mua của đồng bạc bị soi mòn, có tiền cũng chả mua nổi hàng hóa hay dịch vụ cung cấp trên thị trường. Người nghèo, có ít tiền nhất thì bị thiệt nhất.
Ngược lại, giảm phát hay deflation là khi giá cả sút giảm, thực tế là hết tăng, mà hàng họ vẫn ế ẩm bán không chạy vì chẳng có ai mua. Trường hợp đó xảy ra thì nhà sản xuất và tiêu thụ đều khổ, giàu nghèo gì cũng hoạn nạn và thất nghiệp sẽ tăng.
Ở giữa hai trường hợp đó và dấu hiệu tiên báo cho sự xoay chuyển từ lạm phát qua giảm phát là hiện tượng tôi xin tạm gọi là "thiểu phát" hay disinflation, là khi vật giá tăng chậm hơn mà chưa rơi vào số âm. Việt Nam chưa bị giảm phát, đang bị thiểu phát và sẽ tuột xuống đáy, là kinh tế bị suy trầm.
Kinh tế bị suy trầm hay recession là khi đà tăng trưởng sản xuất sút giảm liên tục. Nặng hơn vậy là nạn suy thoái hay depression, tức là không còn tăng trưởng sản xuất mà mọi lĩnh vực đều sút giảm, chỉ có thất nghiệp tăng đi cùng sự phá sản của hàng loạt doanh nghiệp.
cho-phien-nong-thon-250.jpg
Một chợ nhỏ thưa thớt khách vào buổi sáng. RFA photo
Với cái đà hiện tại thì kinh tế Việt Nam đang bị thiểu phát, với giá cả sút dần, sẽ bị giảm phát và kinh tế sẽ đụng vào đáy sâu hơn trước, sau đó lại bị suy trầm đi cùng nạn lạm phát. Đó là hiện tượng người ta gọi là đình phát hay suy lạm, suy phát, stagflation, tức là sản xuất đình đọng mà vẫn bị lạm phát. Cái khó nhất ở đây là tiên đoán được thời điểm bản lề, từ giảm phát lật qua lạm phát. Với Việt Nam, chuyện đó xảy ra sẽ rất nhanh, có thể là ngay trong năm tới thôi.
Vũ Hoàng: Xin cám ơn ông là đã trình bày ra những dấu mốc trên một lộ trình thật khá đen tối như vậy. Nhưng dường như là ông vẫn còn có vẻ lạc quan khi cho rằng Việt Nam mới chỉ có dấu hiệu thiểu phát, là vật giá có tăng mà chậm hơn, chứ chưa đến nỗi giảm phát như nhiều người ở bên trong đã lượng định.
Câu hỏi kế tiếp, thưa ông, vì sao vật giá lại sút giảm như vậy sau khi đã tăng quá 20% và bị lạm phát cao nhất trong các nước Đông Á? Phải chăng là nhờ các biện pháp ổn định của chính quyền, thí dụ như Nghị quyết 11 từ đầu năm ngoái?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ là chính quyền nào cũng cố khoe khoang thành tích của họ và càng thiếu dân chủ thì càng có chỉ số tuyên truyền cao mà mình phải trừ bì, hay gia trọng. Mà vì chẳng có quyền tự do thông tin thì báo chí và dư luận càng không có quyền phản biện hoặc tiên báo những gì sẽ xảy ra.
Về những nguyên nhân thì ta không quên rằng kinh tế toàn cầu đang bị đình trệ, có thể gặp tổng suy trầm nữa, là lại bị suy trầm toàn cầu như trong các năm 2008-2009. Một hậu quả của sự thể đó là giá cả các loại thương phẩm như nguyên liệu, nhiên liệu và cả nông sản đều sụt. Cụ thể thì ta thấy giá dầu thô sụt mạnh, giá tại New York từ hơn trăm mốt vào Tháng Ba đã xuống dưới 80, tức là gần một phần ba trong có bốn tháng. Khi giá thương phẩm giảm thì lạm phát vì phí tổn và nhập khẩu từ đầu vào cho bộ máy sản xuất nội địa tất nhiên là giảm. Đấy là yếu tố khách quan, có thể nằm ngoài khả năng can thiệp hay ứng phó của chính quyền, nhưng cũng đánh sụt số thu về thuế khóa hay xuất khẩu, tức là có tác động vào ngân sách và dự trữ ngoại tệ.
Yếu tố thứ hai, còn đáng ngại hơn nữa là những lý do nội tại của kinh tế Việt Nam sau hàng loạt biến động liên tục khiến nhiều doanh nghiệp bị nguy cơ phá sản. Đó là người dân hết tiền. Khi số cầu sụt giảm thì hàng họ có bán với giá hạ cũng chẳng có người mua. Vì thế mà tôi cho là Việt Nam đang bị thiểu phát và sẽ bị giảm phát, bộ máy sản xuất ngừng chạy, nhiều xí nghiệp rơi vào hoàn cảnh gọi là "chết lâm sàng" như diễn đàn của chúng ta đã báo động từ đầu năm ngoái.

Chính sách vĩ mô co giật liên hồi

ngan-hang-dau-khi-toan-cau-250.jpg
Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu tại Hà Nội, ảnh chụp tháng 6/2012. RFA photo
Vũ Hoàng: Thế còn kịch bản từ giảm phát qua lạm phát mà ông cho là Việt Nam sẽ gặp và rất sớm, điều ấy có nghĩa là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta trở lại hoàn cảnh của cái năm bản lề là 2008 thì sẽ hiểu ra.
Khi đó, nhà nước Việt Nam lạc quan hồ hởi với viễn ảnh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 mà không ngờ là lại gây ra lạm phát nên lật đật đạp thắng. Ngay sau đấy, khi kinh tế thế giới bị suy trầm thì lại hốt hoảng bơm tín dụng ào ạt để kích thích sản xuất nên thổi bùng lạm phát còn mạnh hơn. Hệ thống quản lý vĩ mô quá thô thiển đã dẫn tới loại chính sách co giật liên hồi và bất nhất khiến cơ thể kinh tế như một con bệnh gặp toàn những liều thuốc quá mạnh. Mà mỗi lần xoay chuyển như vậy là hàng loạt tiểu doanh thương bị phá sản, lợi tức giảm sút vì làm sao tồn tại trên doanh trường với lãi suất đi vay là trên 20% và còn cao gấp bội khi phải vay chui trên thị trường đen? Chúng ta sẽ có ngày trở lại đề tai vay mượn trên thị trường đen, hay hệ thống "ngân hàng chui" với lãi suất cắt cổ.
Hậu quả là tình trạng ngày nay, khi số tổng cầu của nền kinh tế đã sa sút khiến hàng họ ế ẩm, tồn kho chất đống và nợ nần tích lũy mà không trả được. Khi nhớ tới kinh nghiệm thật ra vẫn còn nóng hổi thì ta mới đánh giá các biện pháp cứu nguy vừa được ban hành, như gói thuốc bổ trị giá 29 ngàn tỷ để cứu các doanh nghiệp đang bị nguy cơ sụp đổ hoặc cả trăm nghìn tỷ để cứu các công ty mắc nợ.
Hệ thống quản lý vĩ mô quá thô thiển đã dẫn tới loại chính sách co giật liên hồi và bất nhất khiến cơ thể kinh tế như một con bệnh gặp toàn những liều thuốc quá mạnh.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Trước hết, gói giải pháp ấy không thể hồi sinh cả vạn cơ sở đã phá sản và cả triệu người thất nghiệp hoặc không còn việc làm toàn thời và lợi tức sa sút. Mà giảm thuế hay tạm giãn thuế thì vẫn chẳng cứu được ai vì các doanh nghiệp làm ăn đúng nghĩa không quyết định về đầu tư trong dăm ba năm tới do một biện pháp giảm thuế hay cứu trợ trong giai đoạn. Các doanh nghiệp lỗ lã thì còn lý gì đến chuyện giảm thuế vì họ có trả thuế đâu?
Trong khi ấy, và đây mới là vấn đề, người ta nói đến cả trăm nghìn tỷ một cách trừu tượng chứ thực tế nó sẽ được trao đúng nơi đúng người để cứu những cơ sở có quan hệ tốt trong hệ thống xin và cho này. Và thay vì cải tổ cả hệ thống sản xuất kỳ lạ ấy, người ta còn thổi bùng nạn đầu cơ và lạm phát.
Vũ Hoàng: Thưa ông, kết cuộc thì làm sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Sau mỗi đợt dằn sóc như vậy, một thiểu số sẽ kiếm lời rất nhiều và tẩu tán tài sản ra ngoài, trong khi đa số còn lại phải ôm lấy một gánh nợ mà mọi người đều phải trả dưới hình thức này hay hình thức khác.
Khi nhà nước cứ bơm tiền cấp cứu như vậy thì ngân sách bị bội chi, và phải đi vay hay in bạc ra trả. Đi vay nhiều thì phân lời trái phiếu phải tăng nên lãi suất cũng tăng. Khi in bạc ra xài thì ngân sách bị bội chi và mặc nhiên lại gây thêm lạm phát và vì vậy kinh tế vừa bị suy trầm vì bộ máy sản xuất không phục hồi mà vật giá vẫn gia tăng và đấy là kịch bản suy phát rất đáng ngại.
Đấy là nguyên do và trình tự của sự kiện kinh tế bị giảm phát, lạm phát rồi suy phát, đó là thuộc về cái "nhân". Còn bao giờ chuyện đó xảy ra, khi nào ta sẽ thấy bước lật từ tình trạng này qua tình trạng kia thì đấy thuộc về cái "duyên" là yếu tố thời cơ. Nó có thể xảy ra khá nhanh vì những đột biến từ bên ngoài vào.

Đi vay, trả nợ, rồi lại đi vay tiếp

hang-hoa-chat-dong-250.jpg
Hàng hóa chất cao trong một siêu thị ở Hà Nội hôm 11/6/2012. RFA photo
Vũ Hoàng: Nếu vậy, chúng ta sẽ bước qua chuyện đó, về những yếu tố ngoại nhập. Ông có thể phân tích cho thính giả của chúng ta dễ dàng theo dõi và tiên đoán được chuyện này không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Ta không quên bối cảnh toàn cầu hiện nay là suy trầm và thất nghiệp. Một nguyên nhân chính của hiện tượng đó là chuyện Việt Nam cũng đang gặp, như Trung Quốc, và hầu hết mọi nền kinh tế tiên tiến là vay mượn quá nhiều nên đến hồi phải thu vén chi tiêu mà trả nợ. Nạn suy trầm hoặc tổng suy trầm đồng loạt xảy ra từ Hoa Kỳ, Âu Châu tới Nhật Bản và Trung Quốc hay Ấn Độ cùng các nền kinh tế đang phát triển đều dẫn tới phản ứng chung là phải in tiền hay đi vay. Trong hoàn cảnh hiện nay, ta chỉ thấy suy trầm cộng hưởng, đồng loạt xảy ra. Và suy trầm đi đôi cùng giảm phát, tức là lạm phát ít đi hoặc không có.
Khi kinh tế giảm phát thì phân lời hạ, lãi suất thấp càng khiến người ta ồ ạt vay mượn mà không sợ và quên hẳn rằng sở dĩ mình rơi vào chỗ trũng này cũng do đã đi vay quá nhiều. Đấy là hoàn cảnh của hầu hết các nước mà chẳng ai sợ khi thấy lãi suất đã bò ngang mặt sàn.
Thế rồi sẽ có ngày mà mức luân lưu của đồng bạc hết đình đọng và giả cả hết giảm mà đột ngột tăng cùng với phân lời trái phiếu, tức là tiền lời khi đi vay. Chỉ dấu tiên báo bước lật đó có thể là đường tuyến phân lời của trái phiếu và nhiều người dự đoán là sự thể sẽ xảy ra rất nhanh, trong vòng một năm tới thôi. Nói cách khác, liều thuốc cứu nguy cũng là liều thuốc đổ bệnh.
Bây giờ, trở lại chuyện Việt Nam là nơi không có lương y mát tay về kinh tế với các toa thuốc gây ra nạn co giật liên hồi như mình đã thấy. Khi tưởng rằng kinh tế đã hết bị lạm phát và còn có dấu hiệu suy giảm dưới cái mức thần kỳ mà duy ý chí là 6%, thì nhà nước lại tìm cách tống ga bơm tiền thay vì cải cách cả cơ chế sản xuất lẫn tài trợ và quản lý. Nghĩa là vẫn chỉ là bơm nước vào nơi úng thủy, gây ra nạn lạm phát trên một bộ máy sản xuất trì trệ.
Khi kinh tế giảm phát thì phân lời hạ, lãi suất thấp càng khiến người ta ồ ạt vay mượn mà không sợ và quên hẳn rằng sở dĩ mình rơi vào chỗ trũng này cũng do đã đi vay quá nhiều.
Ô. Nguyễn-Xuân Nghĩa
Từ bên ngoài vào, yếu tố tiên báo điều ấy sẽ là tỷ giá của đồng Mỹ kim vì so sánh với tình hình sóng gió chung thì thị trường Hoa Kỳ vẫn là bến đậu an toàn hơn cả. Hối suất Mỹ kim sẽ dội vào Việt Nam và nay mai gây sức ép khá tai hại cho bộ máy sản xuất và thật ra trung hòa luôn tính chất giảm phát của thương phẩm. Yếu tố nội tại ở bên trong thị trường chính là phân lời trái phiếu tại Việt Nam. Nó bắt đầu nhúc nhích và sẽ tăng. Chúng ta rất nên để ý tới dấu hiệu này.

Kinh tế chưa đụng đáy

Vũ Hoàng: Tổng kết lại thì chúng ta vẫn trở về bài toán cải cách hay tái cấu trúc kinh tế đã được nói tới từ đầu năm ngoái mà chưa có dấu hiệu gì gọi là chuyển động, trong khi đó nguời ta lại có thể hài lòng với một vài chuyển động về vật giá, có phải như vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ là kinh tế Việt Nam chưa đụng đáy và đà tăng trưởng sẽ khó vượt qua 5% trong khi ấy tồn kho vẫn chất đống, gánh nợ xấu, là khó đòi và sẽ mất, vẫn còn tăng. Nếu nhà nước không hiểu ra điều ấy mà cứ cho nhau uống nước đường và bao che các tác nhân đã gây ra khủng hoảng vì nợ nần chồng chất thì lại tái diễn kịch bản 2009. Đó là khi thấy lạm phát thoái lui từ hơn 17% xuống dưới 4% mà lại bơm tiền kích thích và thổi lên nạn lạm phát phi mã trong khi hệ thống Vinashin đã lung lay. Lần này thì nguy kịch hơn lần trước vì cả triệu doanh nghiệp đang thua lỗ, mấy vạn đã đóng cửa. Tâm lý chung của thị trường là bi quan và hoang mang khi thấy nhà nước không giải quyết vấn đề thật mà chỉ tìm giải pháp biểu kiến.
Bản thân tôi thì còn hoài nghi hơn vậy vì cho là lãnh đạo kinh tế của Việt Nam chưa thấy cái vấn đề thật nó nằm ở đâu. Hoặc như có thấy thì cũng chẳng giải quyết được vì nó nằm trên đầu, nằm trong hệ thống chính trị. Đấy là cách giải thích duy nhất hợp lý khi người dân chứng kiến sự phá sản và vỡ nợ của nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước mà lãnh đạo chính trị không giải quyết mà vẫn tự ký giấy ban khen trong khi các tiểu doanh thương đã bị chìm dưới đáy. Thất nghiệp và nghèo đói là những gì đang chờ đợi khi những người cầm đầu hệ thống chính trị này cứ chỉ nói đến cải cách hay tái cấu trúc trên giấy.
Vũ Hoàng: Ban Việt ngữ đài Á châu Tự do xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.