THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label KinhTe - MoiTruong. Show all posts
Showing posts with label KinhTe - MoiTruong. Show all posts

22 October 2013

Chính quyền 'u mê,' nông dân sạt nghiệp!

QUẢNG NAM -  (NV) - Sau hai trận bão thứ 10 và thứ 11 của năm nay, hàng trăm ngàn héc ta cao su ở miền Trung và Tây Nguyên bị gãy đổ, thiệt hại lên tới hàng chục ngàn tỉ. Nông dân phá sản.


Người dân miền Trung ứa nước mắt vì vườn cây cao su "tiểu điền" nhà mình bị bão quật đổ, mất hết nghiệp. (Hình: Đất Việt)

Ông Triệu Văn Hùng, Giám đốc Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, gọi thảm họa này là hậu quả từ sự “u mê” của hệ thống công quyền.

Năm 2009, nhà cầm quyền trung ương Hà Nội phê duyệt “Quy hoạch phát triển cao su” mà theo đó, đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 800 ngàn héc ta cao su. Ba năm sau (2012), diện tích trồng cao su ở Việt Nam, nhất là phá rừng, đã lên đến 915 ngàn héc ta, vượt xa kế hoạch được duyệt.

Hậu quả đầu tiên của sự phát triển ồ ạt cao su tại Việt Nam là rừng tư nhiên bị hủy hoại. Theo Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn, 79% vườn cao su hiện hữu được trồng trên đất rừng tự nhiên. Nói cách khác, đã có khoảng 700 héc ta rừng bị phá bỏ để trồng cao su.

Trong một báo cáo khác, Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cho biết, trung bình, mỗi năm Tây Nguyên mất khoảng 26,000 héc ta rừng và đất rừng bị chiếm để “phát triển cao su” chiếm tới 46,7% diện tích rừng tự nhiên bị phá hàng năm.

Tuy nhiên, cả trung ương Hà Nội lẫn nhà cầm quyền các địa phương đều không thèm quan tâm đến điều đó. Ví dụ ở Tây Nguyên, vào năm 2009, tỉnh Gia Lai đã có khoảng 70 ngàn héc ta cao su nhưng sau “Quy hoạch phát triển cao su” do Thủ tướng CSVN duyệt năm 2009, tỉnh này quyết định chuyển đổi 61 ngàn héc ta rừng nữa thành vườn cao su.


Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Nguyễn Đức Hải đi kiểm tra tình hình thiệt hại cây cao su tại huyện Hiệp Đức vào chiều ngày 16/10. Dân sạt nghiệp, vẫn cố bám lấy chủ trương. (Hình: Đất Việt)

Tỉnh ủy Quảng Nam ban hành một “Nghị quyết”, theo đó, sẽ trồng 50 ngàn héc ta cao su. Những kế hoạch, quy hoạch, nghị quyết tương tự cũng đã được rất nhiều tỉnh theo đuôi như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Kon Tum, Lâm Đồng.

Ngoài việc khuyến khích người dân phá rừng lấy đất, thế chấp nhà cửa, đất đai để vay vốn trồng cao su, các kế hoạch, quy hoạch, nghị quyết liên quan tới phát triển cao su từ trung ương tới địa phương còn hậu thuẫn Tập đoàn Cao su Việt Nam mượn đất ruộng, vườn, nương rẫy của dân chúng để trồng cao su.

Ông Lê Muộn, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, tiết lộ, tiền chăm sóc cao su mà Tập đoàn Cao su Việt Nam trả những gia đình giao đất cho tập đoàn này để trồng cao su từ 1.5 triệu đến hai triệu đồng mỗi tháng khiến “bà con rất phấn khởi” thành ra tham gia rất đông.
Vậy tương lai của cao su sau khi đã ngốn cả triệu héc ta đất rừng, ruộng, vườn, nương rẫy trên khắp miền Trung và Tây Nguyên, cùng với hàng chục ngàn tỉ đồng vốn đầu tư?

Bất chấp khuyến cáo của các cơ quan nghiên cứu về nông nghiệp, kinh tế, kể cả xác nhận của Hiệp hội Cao su Việt Nam về tình trạng “cung đã vượt cầu”, toàn bộ hệ thống công quyền từ trung ương tới địa phương ở Việt Nam vẫn “kiên quyết phát triển cao su” theo các kế hoạch, quy hoạch, nghị quyết đã công bố.

Báo cáo mới nhất về tình hình xuất cảng của Bộ Công Thương Việt Nam cho biết, trong 9 tháng đầu năm nay, cao su là mặt hàng có giá xuất cảng giảm mạnh nhất (17%) nên kim ngạch xuất cảng cũng giảm theo. Nguyên nhân chính khiến giá cao su xuất cảng giảm là vì nhu cầu của thị trường thế giới về cao su giảm. Đáng ngại là lượng cao su tồn kho của Trung Quốc – quốc gia tiêu thụ nhiều cao su nhất thế giới – cao chưa từng thấy.

Song đó chưa phải là vấn đề nghiêm trọng nhất.
Mới đây, sau khi hàng trăm ngàn héc ta cao su ở miền Trung và Tây Nguyên bị gãy đổ, thiệt hại lên tới hàng chục ngàn tỉ, ông Nguyễn Công Tạn, cựu Phó Thủ tướng Việt Nam, tiết lộ, khi còn tại chức, ông ta đã nhiều lần cảnh báo không nên trồng cao su ở miền Trung, thậm chí sau này, ông ta còn viết thư phản đổi chủ trương phát triển cao su ở miền Trung nhưng không ai thèm nghe.

Ông Tạn giải thích, sở dĩ ông cũng như nhiều nhà khoa học khác trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp lên tiếng can gián phong trào phát triển cao su tại miền Trung vì khi đem những loại cây công nghiệp như: cao su, cà phê, tiêu vào Việt Nam, người Pháp đã khảo nghiệm rất kỹ, rất bài bản về triển vọng của những loại cây này ở các cao độ, vĩ độ khác nhau từ Bắc chí Nam.


Hàng trăm người dân huyện Krông Năng vào Tiểu khu 340 A (nơi được giao cho Công ty Lộc Phát khảo sát trồng cao su) chặt phá rừng.(Hình: Đất việt)

Họ đã kết luận không nên trồng cao su ở miền Trung và vùng núi phía Bắc miền Trung vì cao su là loại cây nhiệt đới điển hình, yếu tố thời tiết ở miền Trung, cũng như vùng núi phía Bắc miền Trung là “tử huyệt” của cao su (Khi nhiệt độ tụt xuống dưới 10 độ C từ 2 đến 10 ngày, cao su sẽ chết hoặc chết một phần, không chết thì năng suất mủ cũng giảm. Chưa kể cao su rất nhạy cảm với gió, chỉ cần tốc độ gió trung bình từ 2 đến 3 mét/giây là cao su đã bị ảnh hưởng. Gió cấp 5, cấp 6 lá cao su sẽ héo và rách. Cấp 8 trở lên cây cao su bắt đầu bị gãy cành, gãy ngọn. Trên cấp 10, cao su sẽ ngã đổ).

Cũng do vậy, theo ông Tạn, trồng cao su ở miền Trung và vùng núi phía Bắc miền Trung là thiếu khoa học và quá mạo hiểm. Tuy ông đã nhiều lần góp ý với các bộ: Khoa học Công nghệ, Nông nghiệp Phát triển nông thôn, Tài nguyên Môi trường nhưng không nơi nào nghe.

Viên cựu Phó Thủ tướng Việt Nam than, phát triển cao su ở miền Trung và vùng núi phía Bắc miền Trung là một sai lầm về chủ trương, nhiều người đã can ngăn nhưng không được. Nông nghiệp Việt Nam đã nếm trải nhiều cay đắng vì những phong trào trồng trọt, chăn nuôi thiếu khoa học, đầy cảm tính và áp đặt của giới lãnh đạo.

Mới đây, sau khi hai trận bão thứ 10 và thứ 11 đổ vào miền Trung, khiến hàng trăm ngàn héc ta cao su ở miền Trung và Tây Nguyên bị gãy đổ, thiệt hại lên tới hàng trăm ngàn tỉ, ông Phan Văn Khoa, Giám đốc Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn của tỉnh Quảng Bình, khẳng định, dù thiệt hại vô cùng nặng nề nhưng Quảng Bình vẫn khuyến khích “nông dân tiếp tục gắn bó với cao su” bởi “cao su là cây mũi nhọn của ngành nông nghiệp Quảng Bình, gió bão lớn phải hơn 20 năm mới có một lần”.


Và rôì chính những người dân bị nhấn chìm trong nước vì không còn rừng để ngăn nước lũ. (Hình: Đất Việt)

Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Quảng Nam khi nhìn cảnh những cánh rừng cao su gãy đổ tan nát ở địa phương làm nông dân trắng tay, nợ nần chồng chất vẫn tuyên bố với báo chí là “Việc phát triển cây cao su tiểu điền tại Quảng Nam là tốt”.

Viên cựu Phó Thủ tướng Việt Nam bảo rằng, hai tháp truyền hình bị đổ do bão, gây thiệt hại khoảng trăm tỉ đã phải tổ chức điều tra từ thiết kế, thi công, giám sát đến chất lượng vật liệu để xác định trách nhiệm. Vậy thì thiệt hại hàng chục ngàn tỉ do trồng cao su không thể để trôi qua được. Cần phải chỉ đạo các bộ, ngành có liên quan để xác định ai quyết định trồng, ai bỏ tiền đầu tư để xử lý thật thỏa đáng.


Báo Đất Việt tường thuật chuyến đi thị sát sự thiệt hại tại các vườn cao su của bí thư tỉnh Ủy Quảng Nam Nguyễn Đức Hải đã diễn tả sự “chỉ đạo” của ông này là “Tiếp tục trồng lại , gieo mầm thảm họa cao su Miền Trung”. (G.Đ.)

19 October 2013

Những dự án đầu voi, đuôi chuột…

DT - Thứ Sáu, 18/10/2013  Rất nhiều dự án nhà ở xã hội tiến hành khởi công và mở bán rầm rộ. Thế nhưng, trong số đó, không ít dự án dường như đã mất hút.

Đã khởi công, mở bán, dự án vẫn… bất động!

Là dự án nhà thương mại đầu tiên được TP. Hà Nội đồng ý chuyển đổi sang thành nhà ở xã hội, lại nằm tại vị trí đắc địa nên Dự án 143 Trần Phú (quận Hà Đông) của CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sông Đà (SDU) thu hút được sự quan tâm của nhiều người có nhu cầu về nhà ở trên địa bàn.

Được khởi công từ ngày 24/7/2013, là một trong các dự án được ưu tiên vay vốn từ gói 30.000 tỷ với lãi suất ưu đãi, nhưng đến nay, hơn hai tháng sau ngày khởi công, địa chỉ 143 Trần Phú, Hà Đông vẫn là một bãi đất trống.

Theo khảo sát thực địa của phóng viên, dự án hiện được chủ đầu tư quây tường rào tôn, nền đất đã bị đào bới, nhưng công trường bên trong vẫn chưa có máy móc, chưa có bóng dáng công nhân và còn ngổn ngang phế liệu. Những dấu hiệu bên trong công trường cho thấy, dự án vẫn chưa được chủ đầu tư sẵn sàng triển khai một cách có hệ thống.

Được biết, tại đợt mở bán đầu tiên có mức giá khoảng 14 triệu đồng/m2, cao tương đương giá bán căn hộ tại một số dự án chung cư thương mại trên cùng địa bàn, nên nhiều khách hàng đã không còn mặn mà với căn hộ dự án này. 

Để thu hút khách mua nhà, chủ đầu tư đã cho phép khách hàng “đặt cọc” mua căn hộ. Tuy nhiên, việc đặt cọc để mua nhà ở xã hội theo một số khách hàng là tiềm ẩn khá nhiều rủi ro nên họ không dám mạo hiểm “thả gà ra đuổi”. Ngay cả số lượng khách hàng đăng ký mua nhà tại dự án này cũng chưa một một lần được chủ đầu tư công bố.

Một dự án nhà ở xã hội khác cũng nổi như cồn vì sự vội vã động thổ khi chưa chính thức được giao đất là Dự án nhà ở xã hội Tây Nam Linh Đàm của chủ đầu tư là CTCP BIC Việt Nam. Song sau hơn 4 tháng động thổ, dự án vẫn “đắp chiếu”.

Trước đó, chủ đầu tư đã đưa ra cam kết sẽ khởi công vào tháng 9/2013, song việc khoan trắc địa dự án đã bị phía đối tác là Tổng CTCP Đầu tư phát triển nhà và đô thị (HUD) gây khó dễ, không chịu bàn giao đất trên thực địa, bất chấp việc TP. Hà Nội đã có quyết định bàn giao đất.

Trao đổi với ĐTCK, một đại diện của BIC Việt Nam mới đây đã phải “đính chính” thông tin khởi công Dự án nhà ở xã hội Tây Nam Linh Đàm. Theo đó, phải đến tháng 12/2013, dự án này mới được khởi công. Dù vậy, trên trang web của BIC Việt Nam, hiện số lượng khách hàng đăng ký mua đã vượt quá số lượng căn hộ theo quy hoạch của dự án.

Được vay vốn ưu đãi vẫn… đắp chiếu
 
Là một trong số ít dự án thương mại chuyển đổi sang làm nhà ở xã hội được vay vốn từ gói 30.000 tỷ đồng, nhưng Dự án chung cư AZ Thăng Long của Công ty TNHH Bánh kẹo Thăng Long đến nay cũng chưa có những động thái cho thấy chủ đầu tư sẽ sớm triển khai.

Trong khi đó, nhiều khách hàng từng góp vốn để mua căn hộ thương mại tại dự án này vẫn tiếp tục phản đối việc chuyển đổi dự án, bất chấp việc dự án đã được Thành phố đã đồng ý cho chuyển đổi tổ hợp nhà thương mại này sang nhà ở xã hội.

Một dự án khác cũng có số phận tương tự AZ Thăng Long là dự án nhà ở xã hội tại Khu đô thị Thành phố Giao lưu của Liên danh Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu Đầu tư xây dựng phát triển Hà Nội và CTCP Tập đoàn đầu tư xây dựng Nhà và đất.

Dự án này đã được Thành phố đồng ý chủ trương chuyển đổi và là 1 trong 8 dự án nhà ở xã hội trên địa bàn Hà Nội được vay vốn từ gói 30.000 tỷ đồng. Thế nhưng, hiện nhiều khách hàng góp vốn trước đây yêu cầu đòi rút vốn. Trong khi đó, một đại diện trong trong Liên danh chủ đầu tư đã bị cơ quan cảnh sát điều tra khởi tố, bắt tạm giam vì cố ý làm trái quy định của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.

Tương lai dự án này vì thế cũng vô cùng mờ mịt và không biết bao giờ mới được triển khai.       

Những dự án đầu voi, đuôi chuột…
Dự án nhà ở xã hội tại địa chỉ 30 Phạm Văn Đồng (Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy) của CTCP Đầu tư xây dựng và thương mại Dịch vụ Bắc Hà đang trong quá trình khoan thử địa chất làm móng. Đây vốn là Dự án tổ hợp văn phòng, dịch vụ, thương mại. Song chủ đầu tư đã xin chuyển đổi sang làm nhà ở xã hội.  Để dự án sớm được triển khai và được vay vốn từ gói tín dụng 30.000 tỷ đồng, mới đây, Bộ Xây dựng đã có văn bản kiến nghị Sở Xây dựng cấp phép theo từng giai đoạn cho dự án này để chủ đầu tư sớm triển khai dự án. Trao đổi với ĐTCK, đại diện Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, việc cấp phép xây dựng theo giai đoạn đối với Dự án nhà ở xã hội 30 Phạm Văn Đồng có thể được. Bởi đây là dự án xin chuyển đổi có đầy đủ hồ sơ giấy tờ nhất trong số dự án xin chuyển đổi trên địa bàn Hà Nội thời gian vừa qua.

Những dự án đầu voi, đuôi chuột…
Dự án nhà ở xã hội Tây Nam Linh Đàm của CTCP BIC Việt Nam. Dự án đã được động thổ từ ngày 28/5/2013 và dự kiến tiến hành khởi công trong tháng 9/2013. Thế nhưng, BIC Việt Nam đã không thể khởi công đúng hẹn, một phần vì đơn vị quản lý đất là Tổng công ty HUD không chịu bàn giao đất trên thực địa cho chủ đầu tư. Theo đại diện chủ đầu tư, việc khởi công Dự án nhà ở xã hội Tây Nam Linh Đàm sẽ lùi đến tháng 12, do dự án chưa hoàn tất thủ tục để có giấy phép xây dựng.

Những dự án đầu voi, đuôi chuột…
Mặc dù có mặt trong số ít dự án nhà ở xã hội được vay vốn từ gói 30.000 tỷ đồng, nhưng Dự án nhà ở xã hội tại Khu đô thị Thành phố Giao lưu của Liên danh Công ty TNHH một thành viên Xuất nhập khẩu Đầu tư xây dựng phát triển Hà Nội và CTCP Tập đoàn đầu tư xây dựng Nhà và đất không biết đến khi nào mới được triển khai vì một trong các chủ đầu tư vướng vòng lao lý. Trong ảnh là lối vào Dự án Chung cư B5 Cầu Diễn, là một phần dự án thuộc Khu đô thị Thành phố Giao lưu.

Những dự án đầu voi, đuôi chuột…
Dự án nhà ở xã hội tại 143 Trần Phú (quận Hà Đông) của CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị Sông Đà. Dự án đã khởi công từ tháng 7/2013, đã được chủ đầu tư tiến hành mở bán. Đây cũng là 1 trong 8 dự án nhà ở xã hội tại Hà Nội được vay vốn từ gói 30.000 tỷ đồng, nhưng dường như chủ đầu tư chưa có kế hoạch khởi công một cách có hệ thống. Vì thế, công trường dự án không có hệ thống máy móc, không có công nhân, mặt bằng vẫn ngổn ngang phế liệu.

Theo Nguyên Minh
ĐTCK

18 October 2013

Thị trường ảm đạm, kinh tế Việt Nam khó hồi phục!

HÀ NỘI  (NV) .Thursday, October 17, 2013  - Nhà cầm quyền tuyên truyền kinh tế Việt Nam “chuyển biến tích cực, đúng hướng, đạt kết quả khá toàn diện” nhưng các banner, bảng “hạ giá”, “đại hạ giá”, “giảm giá sốc”…  treo, dựng khắp nơi.


“Đại hạ giá” khắp nơi, từ trung tâm thương mại tới các cửa hiệu, sạp hàng. (Hình: Dân Trí)


Nhiều tờ báo mô tả quảng cáo “hạ giá”, “đại hạ giá”, “giảm giá sốc” đang nhan nhản từ các trung tâm thương mại tới những cửa hiệu, sạp hàng.

Rao bán “hạ giá”, “đại hạ giá”, “giảm giá sốc” đang được áp dụng cho tất cả các loại mặt hàng ở Việt Nam, từ xe hai bánh gắn máy, TV, tủ lạnh, máy giặt,… cho tới quần áo, giày dép. Giá bán hiện đã giảm trung bình từ 20% đến 30% và không ít nơi, không ít mặt hàng, giá bán giảm tới 40% hoặc 50%.

Điểm đặc biệt đáng chú ý là bất kể giá bán giảm dữ dội nhưng hoạt động mua bán vẫn èo uột. Các trung tâm thương mại, cửa hiệu, sạp hàng vẫn vắng khách. Tờ Người Lao Động cho rằng, sở dĩ có tình trạng hàng hóa ê hề, giá bán rẻ mạt, song vẫn ế là vì dân chúng đã kiệt sức.
Vì sao dân chúng kiệt sức?

Hồi cuối tháng 9, tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu, ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế, khẳng định, số người thất nghiệp trong hai năm rưỡi vừa qua, tính từ khi kinh tế Việt Nam bắt đầu suy thoái là nhiều triệu. Vì từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2013 có khoảng 135,000 doanh nghiệp ngưng hoạt động và khoảng 450,000 doanh nghiệp đang hoạt động phải giảm 30% công suất, nên ông Thiên tin là ít nhất cũng có 5.5 triệu người thất nghiệp do suy thoái kinh tế.
Chẳng riêng công nhân, ngay cả nông dân cũng lao đao. Trong khi chi phí (cây giống, con giống, phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu, điện, thức ăn chăn nuôi,…) liên tục tăng thì lúa gạo, các loại nông sản, sản phẩm chăn nuôi (thịt, trứng, sữa,…), thủy sản (tôm, cá,…) liên tục giảm giá. Nông dân ngập sâu trong nợ và thi nhau bỏ ruộng, ngưng trồng trọt, dừng nuôi gà, heo, bò, tôm, cá…

Kinh tế Việt Nam đang bị đẩy sâu hơn vào vòng luẩn quẩn. Ngân sách bội chi mỗi lúc một nhiều trong khi nguồn thu càng ngày càng ít. Các doanh nghiệp vốn đã điêu đứng vì tác động của suy thoái kinh tế nay càng thêm bế tắc do hàng hóa tồn đọng càng lúc càng lớn. Doanh nghiệp càng khó khăn thì tỷ lệ thất nghiệp càng cao và  mãi lực mỗi ngày một giảm.
Trong bối cảnh như thế, giá các loại sản phẩm, dịch vụ do các tập đoàn, tổng công ty nhà nước độc quyền cung cấp như: viễn thông, điện, nước, xăng dầu liên tục tăng và bào mòn khả năng cạnh tranh của doanh giới Việt Nam cũng như khả năng tiêu dùng của dân chúng. 

Những yếu tố vừa kể là nguyên nhân khiến thời gian vừa qua, nhiều chuyên gia kinh tế lẫn báo giới đồng loạt cảnh báo, niềm tin vào sự hồi phục kinh tế trong công chúng Việt Nam đang giảm đáng kể.

Bởi kiệt quệ về tài chính và lo âu về tương lai, , dân chúng Việt Nam đang hạn chế chi tiêu tới mức tối đa. Doanh giới cũng mang tâm trạng này. Hồi tháng 7, Ngân hàng HSBC công bố, trong hai tháng 5 và 6, chỉ số mua hàng của giới quản trị (PMI), sụt giảm đáng ngại, điều đó cho thấy doanh giới muốn hạn chế đầu tư.


Dù giá bán giảm từ 20% đến 50% các trung tâm thương mại, cửa hiệu, sạp hàng vẫn không có người lui tới. Trong ảnh là một góc Trung tâm Thương mại Hà Nội. (Hình: Infonet)

Nhiều chuyên gia kinh tế khuyến cáo, muốn kinh tế Việt Nam có thêm sức để vượt qua những khó khăn như hiện nay, điều đầu tiên mà chế độ Hà Nội phải làm là khôi phục niềm tin của cả dân chúng lẫn doanh nghiệp vào khả năng điều hành kinh tế của mình. Tuy nhiên hàng loạt chính sách, giải pháp được đề ra từ 2012 đến nay chỉ tạo thêm bất an.

Việt Nam hiện có 13 tập đoàn và 96 tổng công ty của nhà nước. Số tập đoàn và tổng công ty của nhà nước này đang nắm giữ khoảng 75% tài sản cố định của quốc gia, 60% tổng tín dụng ngân hàng và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40% tổng sản phẩm trong nước.

Kết quả kiểm toán trong vài năm gần đây cho thấy, khác biệt duy nhất qua kết quả kiểm toán hàng năm đối với các tập đoàn và tổng công ty của nhà nước là thua lỗ năm sau lớn hơn năm trước.
Trong khi các chuyên gia kinh tế nhiều lần cả quyết, một trong những nguyên nhân chính dẫn tới suy thoái là việc dồn gần như toàn bộ nguồn lực quốc gia cho các tập đoàn và tổng công ty của nhà nước, bất kể chúng hoạt động không hiệu quả.


Chế độ cũng bất kể các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn là điểm tựa của toàn bộ nền kinh tế bị kiệt sức  rồi chết hàng loạt, mà mới đây, qua Hội nghị Trung ương 8, giới lãnh đạo Đảng CSVN vẫn xác định tiếp tục để “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. (G.Đ)  

16 October 2013

Mặc kệ nông dân !

ĐẤT VIỆT - 16/10/2013

(Thị trường) - "Mức lợi nhuận 30% cho người trồng lúa là không hợp lý khi họ phải bỏ ra 60-70% tổng chi phí sản xuất, chưa kể đến những rủi ro thiên tai, dịch hại...”.

Đây là thông điệp được báo cáo “Ai được hưởng lợi khi giá gạo tăng cao”, do Viện  Chính  sách  và  Chiến  lược Phát triển Nông nghiệp, nông thôn (IPSARD) cùng với Tổ chức Oxfam tại Việt Nam đưa ra. Theo nghiên cứu này, đến giờ người nông dân Việt Nam được hưởng lợi không nhiều từ việc tăng giá gạo.
Giá có cao thì lợi vẫn ít
Báo cáo nêu rõ, khi giá gạo trên thị trường thế giới giảm sẽ kéo giá bán lúa của nông dân xuống thấp. Trong trường hợp đó, lợi nhuận từ trồng lúa đã thấp lại càng thấp hơn. Tuy nhiên, khi giá gạo trên thị trường tăng cao thì người trồng lúa cũng chỉ được lợi rất ít.

Điều này có thể thấy rất rõ nếu so sánh giá lúa bán tại hộ nông dân với giá gạo xuất khẩu năm 2008: khi giá gạo xuất khẩu tăng từ mức 430 USD/tấn vào đầu năm 2008 lên mức trên 900 USD/tấn vào tháng 5 năm 2008 thì giá gạo nông dân bán chỉ tăng chưa được 100 USD/tấn. Rõ ràng là nông dân được hưởng lợi không nhiều từ việc tăng giá gạo.

Ngoài ra, trong trường hợp giá gạo trên thị trường thế giới tăng nhanh, giá lúa trong nước sẽ lên cao hơn khiến các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu cũng phải chịu thiệt hại vì DN đã ký hợp đồng xuất khẩu với mức giá thấp ở thời điểm trước khi giá gạo thế giới tăng.
Theo IPSARD phân tích chuỗi giá trị gạo xuất khẩu tại An Giang cho thấy, nông dân thường chỉ nhận được khoảng 30% lợi nhuận trong chuỗi giá trị, phần còn lại do các trung gian và DN xuất khẩu được hưởng. Với quy mô hộ nhỏ manh mún, thời điểm thu mua khác nhau cộng với vận chuyển khó khăn, các DN xuất khẩu không thể thu mua trực tiếp từ các hộ. Chính vì vậy, lợi nhuận phải chia cho các thương lái trung gian.

IPSARD chỉ thẳng: “vai trò của các thương lái ở ĐBSCL là rất quan trọng trong việc kết nối nông dân và DN xuất khẩu. Tuy nhiên, mức lợi nhuận 30% cho người trồng lúa là không hợp lý khi họ phải bỏ ra 60-70% tổng chi phí sản xuất, chưa kể đến những rủi ro thiên tai, dịch hại...”.

Nông dân thường chỉ nhận được khoảng 30% lợi nhuận trong chuỗi giá trị
Nông dân thường chỉ nhận được khoảng 30% lợi nhuận trong chuỗi giá trị
Nông dân bị bỏ mặc
Một thực tế khá rõ là hiện doanh nghiệp xuất khẩu chưa đầu tư nhiều cho người trồng lúa. Số DN gắn kết chặt chẽ với nông dân thông qua việc cung cấp đầu vào, hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng vùng nguyên liệu và bao tiêu sản phẩm mới chỉ 5-7% DN xuất khẩu thực hiện.
Trong khi đó, các DN này lại đầu tư khá nhiều ra các lĩnh vực khác như thủy sản, chăn nuôi, vật tư đầu vào, thậm chí kinh doanh ô tô xe máy, bất động sản… nhằm tăng lợi nhuận, giảm rủi ro nhưng không muốn tái đầu tư cho nông dân.
Chính việc bỏ mặc nông dân như vậy khiến nhiều người dù rất chịu khó và nhạy bén nhưng thu nhập vẫn rất thấp. Thu nhập trung bình từ trồng lúa của các hộ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng có lợi thế sản xuất lúa tốt nhất của cả nước, chỉ đạt 535 ngàn đồng/người/tháng, tương đương một nửa mức lương tối thiểu.
Vì vậy, các hộ sản xuất lúa với quy mô nhỏ (dưới 2 ha) không thể sống dựa vào thu nhập từ trồng lúa mà phải dựa vào các thu nhập từ chăn nuôi, thủy sản hay từ các hoạt động phi nông nghiệp khác.
Thực tế này từng được GS. Võ Tòng Xuân, Nhà giáo Nhân dân, Hiệu trưởng trường ĐH Tân Tạo (Long An).chỉ ra từ lâu, rằng còn có chuyện doanh nghiệp không lo xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam, mà lo cạnh tranh dìm giá lúa thấp nhất để hưởng lợi, mặc cho nông dân... đem lúa cho vịt ăn.
“Nhà nước chưa có chiến lược và chính sách cần thiết, từ Chính phủ đến Bộ NN&PTNT và Bộ Công thương dù có chính sách tự do mậu dịch, nhưng trong thực tế lại giao tất cả quyền hành xuất khẩu gạo cho một Vinafood 2 - kiêm luôn Hiệp hội Lương thực VN lũng đoạn thị trường lúa gạo trong nước.

Họ không lo xây dựng thương hiệu gạo VN, mà lo cạnh tranh dìm giá lúa thấp nhất để hưởng lợi, mặc cho nông dân “đem lúa cho vịt ăn”, GS Võ Tòng Xuân bức xúc.

Phương Nguyên (Tổng hợp)

14 October 2013

Đánh giá tác động môi trường từ những dự án đầu tư!

000_Hkg8296657-305.jpg
Kênh Tô Lịch ở Hà Nội hôm 18/02/2013.
AFP
 Gia Minh, biên tập viên RFA - 2013-10-13
Hoạt động công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thông qua các dự án đầu tư buộc phải bảo đảm qui trình đánh giá tác động môi trường nhằm không gây ra những hệ lụy tiêu cực đến cuộc sống của cộng đồng và thiên nhiên.
Trong thực tế công tác này đang được tiến hành thế nào tại Việt Nam? Những hệ lụy do việc đánh giá tác động môi trường không đến nơi đến chốn thế nào? Và những công tác cần thực hiện trong lĩnh vực này ra sao?
Những vấn đề này được nêu ra trong chuyên mục Khoa học - Môi trường kỳ này.

Thực tế công tác

Luật pháp Việt Nam có những qui định rõ ràng buộc các dự án đầu tư phát triển có tác động đến môi trường tự nhiên phải tiến hành công tác đánh giá những ảnh hưởng mà hoạt động của dự án sẽ gây ra cho tự nhiên và những người dân trong khu vực của dự án đó.
Ông Nguyễn Vũ Trung, viên chức Cục Thẩm định và Đánh giá Tác động Môi trường, thuộc Bộ Tài Nguyên- Môi trường, nói lại về những qui định như thế và thực tế chấp hành tại Việt Nam:
“Trong luật có những qui định rất rõ về loại hình rồi, và trong thông tư cũng có những hướng dẫn rất cụ thể để làm BTM ( đánh giá tác động môi trường).
Chế tài chưa phù hợp lắm với cuộc sống vì vừa rồi như Nicotex Thanh Thái, xử phạt hơi thấp.”
VN trong bối cảnh đang phát triển, đất nước còn nghèo và chưa có những hướng dẫn đánh giá tác động đầy đủ về mảng xã hội, sức khỏe, rối tác động đến môi trường chưa làm kỹ.
-Nguyễn Huỳnh Thuật
Chuyên gia về rừng Nguyễn Huỳnh Thuật, một người tích cực kêu gọi bảo vệ môi trường của khu rừng quốc gia Cát Tiên trước kế hoạch của Tập đoàn Đức Long - Gia Lai xây dựng hai dự án thủy điện 6 và 6A trên sông Đồng Nai đoạn đi qua Vườn Quốc gia Cát Tiên, cho biết thực tế hoạt động đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam mà ông theo dõi biết được như sau:
“Việt Nam trong bối cảnh đang phát triển, đất nước còn nghèo và chưa có những hướng dẫn đánh giá tác động đầy đủ về mảng xã hội, sức khỏe, rối tác động đến môi trường chưa làm kỹ. Thứ hai nữa đơn vị chủ đầu tư lại thuê đơn vị đánh giá tác động môi trường, nên thường bao giờ chủ đầu tư cũng thuê người ủng hộ họ chứ không mang tính chất độc lập.
Bộ Tài nguyên - Môi trường thẩm định, nhưng thẩm định để làm chứ không phải để dừng lại. Bước thẩm định là bước cuối cùng của quá trình đầu tư. Tôi thấy qui trình ‘lộn ngược’. Có một số bài nói thủy điện Việt Nam đi ngược với thế giới là như vậy đó. Nói chung những đánh giá tác động của Việt Nam chỉ làm cho đúng thủ tục thôi, gọi là cho đẹp về mặt hình thức, thủ tục; chứ không phải một cửa để đóng lại hay mở ra.
Trường hợp Cát Tiên có phải dừng lại do đánh giá tác động môi trường hay không chẳng qua do dư luận lên tiếng nhiều quá, rồi quốc hội và đặc biệt tỉnh Đồng Nai nên là trường hợp ngoại lệ thôi. Còn bao giờ đã nằm trong qui hoạch mà các cấp chính quyền đã cho phép đầu tư rồi thì bao giờ đánh giá tác động môi trường cũng được thông qua.”

Hệ lụy tiêu cực

000_Hkg8397081-250.jpg
Cây rừng bị đốn bỏ ở Dak Lak hôm 12/03/2013. AFP PHOTO.
Công tác đánh giá tác động môi trường của các dự án tại Việt Nam trong thời gian qua không được làm đến nơi đến chốn đã dẫn đến hậu quả là hệ sinh thái tại Việt Nam bị suy thoái ở mức được nói là trầm trọng.
Thống kê được đưa ra tại hội thảo Việt Nam- Hàn Quốc lần thứ tư về ‘Quy hoạch Môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học trong đánh giá tác động môi trường’ diễn ra ở Hà Nội hồi ngày 15 tháng 8 vừa qua, cho thấy diện tích rừng, hệ sinh thái có đa dạng sinh học cao nhất tại Việt Nam giảm từ 72% hồi năm 1909, xuống còn 43% hồi năm 1941 và 28% vào năm 1995. Diện tích rừng ngập mặn của Việt Nam trong 50 năm qua giảm đến 80%, và chừng 96% các rặng san hô bị đe dọa hủy hoại một cách nghiêm trọng.
Ngoài những con số thống kê cụ thể như thế, chuyên gia Nguyễn Huỳnh Thuật còn nêu ra những tác động bất lợi do việc đánh giá tác động môi trường không được làm đến nơi đến chốn, thậm chí trong trường hợp được nêu ra là làm theo yêu cầu đơn đặt hàng theo ý của chủ đầu tư dự án mang tính hình thức, thiếu căn cứ, thậm chí còn trái ngược thực tế…
“Cụ thể các đập bị vỡ như đập Dak Mek, hoặc thủy điện đổi dòng trên đầu nguồn Sông Ba… Khiến cho cuộc sống người dân ở vùng hạ du thay đổi đột ngột. Mùa màng mất mát. Trường hợp như vừa rồi xả lũ mà không cho dân biết. Vùng đập thủy điện Sông Tranh 2 đến nay dư chấn vẫn còn trong lòng người, hằng triệu người ở vùng Sông Tranh họ không biết sống chết ra sao; lãnh đạo cấp cao đâu có ai dám ở đó; hoặc họ xuống rồi đi thôi còn người dân là người phải gánh chịu đau khổ đó. Đó là những hệ lụy trước mắt, còn những hệ lụy tiềm ẩn, lâu dài rất lớn như việc chôn hóa chất, rồi việc xả chất độc ra các dòng sông khiến nguồn nước, môi trường bị ô nhiễm khiến sức khỏe của người dân, cộng đồng bị ảnh hưởng.
Nên khôi phục lại chuyện đánh giá tác động môi trường sơ bộ trước khi đi đến quyết định đầu tư nhằm giúp cho người ta thấy có thể được hay không thể được.
-TS Nguyễn Ngọc Sinh
Môi trường không có ranh giới nên ảnh hưởng đến toàn cầu. Phá rừng làm ảnh hưởng đến biến đổi khí hậu, gây ảnh hưởng rất lớn.
Đa dạng sinh học nghèo đi cũng dẫn đến đa dạng văn hóa bị mất mát; tại Việt Nam nhất là đồng bào dân tộc bản địa ở vùng rừng. Nền tảng đa dạng văn hóa là trên đa dạng sinh học; đó là một mất mát rất lớn mà chúng ta chưa có một đánh giá nào khoa học và độc lập về mất mát đa dạng văn hóa và đa dạng sinh học như thế nào!”
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh, chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên Nhiên và Môi trường Việt Nam, cho biết việc đặt vấn đề suy giảm đa dạng sin học ở Việt Nam tại hội thảo hồi ngày 15 tháng 8 vừa qua:
“Tại sao có rất nhiều nỗ lực kể cả việc thực hiện Luật Bảo vệ Môi trường lẫn Luật Bảo tồn Đa dạng Sinh học mà đa dạng sinh học của Việt nam vẫn có dấu hiệu như vậy? Cũng như ô nhiễm công nghiệp đến môi trường có giảm tốc độ nhưng ô nhiễm nói chung vẫn gia tăng? Họ liên hệ có thể khâu đánh giá tác động môi trường chưa được làm thật tốt, ví dụ khi dự án ảnh hưởng đến Khu Bảo tồn, đến vườn quốc gia, hay các khu rừng trồng…, việc đánh giá tác động môi trường làm chưa được tốt. Đó là cách liên hệ để nói đến những nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng và đa dạng sinh học vẫn đang suy giảm.”

Công tác triển khai

000_Hkg8171179-250.jpg
Sản xuất gạch xi-măng ở Thanh Hóa hôm 08/01/2013. AFP PHOTO.
Trước thực trạng đáng ngại của hoạt động đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển ở Việt Nam trong những năm vừa qua gây ra những hệ lụy tiêu cực như thế, cơ quan chức năng Việt Nam đang triển khai những biện pháp gì?
Ông Nguyễn Vũ Trung nói đến hoạt động chỉnh sửa luật pháp sao cho phù hợp với thực tiễn và biện pháp chế tài mạnh đủ sức răn đe những đối tượng không thực thi:
“Bây giờ mình đang sửa đổi luật. Tất cả mọi cái phải theo quá trình, phải hoàn thiện dần chứ không thể một sớm, một chiều được. Ý thức phải được tăng dần lên theo thời gian và các chế định phải dần dần mới đi vào cuộc sống. Trong điều kiện đất nước đang phát triển thì nhiều cái phải điều chỉnh dần, chứ rất khó để điều chỉnh ngay trong tức thì được.
Nước Nhật từ năm 60 đến năm 70, người ta cũng phải chấp nhận đánh đổi, nhưng dần dần mọi việc phải đi vào quỹ đạo; không thể nào phát triển mà không tính đến việc bảo tồn được.”
Trong lĩnh vực luật pháp liên quan công tác đánh giá tác động môi trường, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh cũng có ý kiến như sau:
“Đây là bước trực tiếp so sánh kinh nghiệm giữa những qui định của luật năm 1993; tuy còn mang tính nguyên tắc đơn giản nhưng cũng có những cái rất hữu ích trong thực tiễn, và có những sửa đổi đến năm 2005; giờ tổng kết lại xem thế nào. Chúng tôi thấy rất tốt, nhưng cũng có những điều rút kinh nghiệm ra, tức lấy ý kiến của cộng đồng nhân dân đối với các dự án chuẩn bị triển khai ở địa bàn cụ thể nên như thế nào. Luật có qui định nhưng những hướng dẫn chưa bảo đảm cho thật tốt trong việc lấy ý kiến của cộng đồng, tìm sự đồng thuận của cộng đồng đối với các dự án sắp sửa triển khai. Đồng thời rút ra kinh nghiệm đối với một số dự án lớn có thể có những ảnh hưởng, tác động mạnh, sâu và mở rộng đối với môi trường nên khôi phục lại chuyện đánh giá tác động môi trường sơ bộ trước khi đi đến quyết định đầu tư nhằm giúp cho người ta thấy có thể được hay không thể được. Còn chưa có đánh giá tác động môi trường sơ bộ mà có đánh giá tác động môi trường thì có thể làm khó cho nhà đầu tư.”
Ngoài ra Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sinh cũng đề cập đến một số công tác khác trong đó có sự tham gia của Hội Bảo vệ Thiên nhiên Môi trường Việt Nam:
“Loại trừ đi những dự án làm không đúng qui định, cũng như khi làm xong rồi mới phát hiện là không hợp lý. Cái gì cũng phải xem xét rất cụ thể; nhưng chúng tôi chỉ có một số người thôi, mỗi người một chuyên môn sâu; còn những gì mà dư luận có ý kiến, chúng tôi cũng nghe ngóng, khi nào thật cần thiết mới tham gia; chứ không phải ‘ba đầu, sáu tay’ gì để trả lời mọi chuyện và tham gia ‘tất tần tật’ được.”
Tạp chí Khoa học - Môi trường kỳ này tạm dừng tại đây. Hẹn gặp lại quí vị và các bạn trong chương trình kỳ tới.
Gia Minh chào tạm biệt.