THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label ChinhTri - ChienTranhVN. Show all posts
Showing posts with label ChinhTri - ChienTranhVN. Show all posts

23 October 2013

CÔ GÁI KÉO XÁC MÁY BAY MỸ - F-4 Phantom II BỊ BÀ "SỮA ĐẬU NÀNH" BẮN RƠI!

Tại Bảo Tang Viện Hà Nội có một bức Ảnh cô gái du kích kéo cánh máy bay Mỹ được đặt tên là "Sự trừng phạt đích đáng". Bức ảnh nầy, báo chí và Đảng CSVN đua nhau thổi phồng trong thập niên 70. Dùng ống đu đủ để thổi thành bức ảnh "đoạt giải Quốc tế năm 1970".

Đoạt giả "Quốc Tế" gì không thấy nói tới, mà chắc chắn là "Giải NỔ" Quốc Tế chắc hẵn là đúng nhất vì Thùy Trang đã tìm mòn mắt mà không thấy cơ quan nào tặng giải cho bức ảnh nầy.

Bức ảnh nầy tác giả có tên là Quang Văn chụp hình cô dân quân du kích Hà Thị Nhiên kéo cánh máy bay Mỹ F4. Hiện nay bà Hà Thị Nhiên vẫn còn sống và ở nhà số 7 ngõ Văn Nhân, phường Trần Hưng Đạo (TP Nam Định).

CHÚNG TA THỬ ĐI TÌM SỰ THẬT XEM SAO

Báo chí CS và Bảo Tàng Viện Hà Nội đưa ra lịch sử bức ảnh như sau:

Dân quân Hải Thịnh phối hợp với bộ đội quyết tâm bắn hạ quân “giặc trời”. Sáng sớm ngày 15/1/1966, máy bay Mỹ lại vào đánh phá Nam Định, sau đó bay về ném bom xuống Hải Thịnh như thường lệ. Thừa thời cơ chúng hạ thấp độ cao để thả bom, bằng súng 12,7mm, dân quân Hải Thịnh phối hợp với bộ đội phòng không bắn tan xác một máy bay F4 của không lực Hoa Kỳ. Niềm vui không tả xiết, dân quân Hải Thịnh reo hò đi thu lượm từng mảnh xác máy bay kéo về trụ sở UBND xã.

Cô dân quân Hà Thị Nhiên lúc đó đã lọt vào ống kính của nghệ sĩ nhiếp ảnh Quang Văn một cách tình cờ. Sau khi đoạt giải quốc tế, bức ảnh "Sự trừng phạt đích đáng" đã được nhiều khán giả trong nước và quốc tế sưu tầm. Bà Nhiên kể: "Tôi kéo một mảnh vỡ của máy bay Mỹ từ bờ biển về trụ sở UBND xã và không hay biết ông ấy (Nghệ sỹ nhiếp ảnh Văn Quang) chụp từ lúc nào. Mấy năm sau, khi bức ảnh được công bố rộng rãi, đưa đi trưng bày cả trong nước lẫn quốc tế thì tôi mới biết cô dân quân trong ảnh đó chính là mình".

(*) Như vậy lịch sử của bức ảnh nầy GHI RÕ là bắn rơi máy bay F4 của Mỹ vào ngày 15/1/1966.

Chiếc máy bay F4 được Mỹ mang sang Việt Nam trong thật niên 60 có tên là "McDonnell Douglas F-4 Phantom II", (RF-4B) máy bay 2 ghế nghồi, 2 động cơ, trang bị hỏa tiễn "không đối không" và "không đối địa" và nhiều loại bom với trong tải là 8,400 kg.

Hồ sơ lưu trử Quân Sự của Bộ Quốc Phòng Chính Phủ Hoa Kỳ cho biết là không có chiếc F4 nào rơi ở NAM ĐỊNH vào ngày 15/1/1966.

Có 6 sự kiện xảy ra trong năm 1966 như sau :

"The first RF-4B photo recon mission on 3 November 1966 from Da Nang and remained there until 1970 with no RF-4B losses "

Chiếc F4 đầu tiên bay từ Đà Nẵng, ngày 3/11/1966 để làm nhiệm vụ không ảnh và vẫn còn Y NGUYÊN cho tới năm 1970.

"On 26 April 1966 an F-4C from the 480th Tactical Fighter Squadron scored the first aerial victory by a U.S. aircrew over a North Vietnamese MiG-21 "

"Ngày 26 tháng tư 1966 một chiếc F-4C từ các máy bay chiến đấu chiến thuật thuộc phi đội 480 đã ghi bàn thắng trên không đầu tiên của một phi công Mỹ bắn hạ một chiếc MiG-21 của Bắc Việt"

"On 5 October 1966 an 8th Tactical Fighter Wing F-4C became the first U.S. jet lost to an air-to-air missile, fired by a MiG-21"

"Ngày 5 tháng 10 năm 1966 một máy bay chiến đấu F-4C thuộc phi đội 8 chiến thuật đã trở thành máy bay phản lực bị mất đầu tiên của Mỹ , bị bắn rơi bằng tên lửa "không-đối-không" bởi một chiếc MiG-21"

Như vậy rõ ràng là KHÔNG CÓ chiếc F4 nào bị cô DU KÍCH Hà Thị Nhiên, Dân quân Hải Thịnh phối hợp với bộ đội dùng súng 12,7mm bắn rơi cả.

Nhìn trong hình chụp chỉ là một CÁNH máy bay được cô du kích Hà Thị Nhiên kéo đi đây chắc chắn là một chiếc CÁNH GIẢ, sơn lại cho giống cánh máy bay F4 dùng để tuyên truyền.

Bà dân quân Hà Thị Nhiên giờ đây được gọi là "bác Nhiên sữa đậu", hiện đang bán sữa đậu nành, đậu hoa ở góc phố Lê Hồng Phong. Được báo chí phỏng vấn, bà Nhiên trả lời :

"Tôi cũng chỉ là một dân quân bình thường như rất nhiều chị em ở Hải Thịnh, "giặc đến nhà đàn bà cũng đánh". May mắn cho tôi là được anh Quang Văn chụp ảnh. Bức ảnh đó là biểu tượng của dân quân Hải Thịnh chứ riêng gì cá nhân mình. Hơn nữa, chiến công đầu thuộc về những người trên mâm pháo", bà Nhiên tâm sự.

CÓ BAO GIỜ Bà dân quân "SỮA ĐẬU NÀNH" Hà Thị Nhiên dám NÓI LÊN SỰ THẬT là bà bị bắt KÉO cánh MÁY BAY GIẤY để chụp hình không ?

Một SỰ LÁO LẾU TRẮNG TRỢN của CS CẦN PHẢI LÊN ÁN - Cần phải nói cho tuổi trẻ biết là KHÔNG CÓ chiếc F4 nào bị Dân quân Hải Thịnh phối hợp với Bà "SỮA ĐẬU NÀNH" bắn rơi vào ngày 15/1/1966 cả.

Nguyễn Thùy Trang




12 October 2013

VC Phản Hồi - Nick Turse: Chính Westmoreland mới là kẻ nướng quân ở Việt Nam!

MỜI QUÝ VỊ XEM SỰ PHẢN HỒI CỦA CSVN NHÂN VỤ DƯ LUẬN ĐƯA RA NHẬN ĐỊNH:  TƯỚNG GIÁP LÀ 1 TƯỚNG VC NƯỚNG QUÂN GHÊ NHẤT LỊCH SỬ .

(GDVN) - Nếu không thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm trong chiến tranh Việt Nam, người Mỹ sẽ không thể hiểu được những gì đang xảy ra ở Afghanistan, Pakistan, Yemen và những nơi khác trên thế giới mà Mỹ đang tham chiến, Turse nói.
Tờ New York Times ngày 9/10 đưa tin, nhân sự kiện Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã đánh bại Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam vừa qua đời, một số người đã lên tiếng chỉ trích rằng chiến thắng của ông có được từ sự hy sinh "hoang phí" mạng sống của binh lính.

Tuy nhiên, một sử gia, nhà báo và tác giả của cuốn "Giết bất cứ thứ gì di chuyển: Cuộc chiến thực của Mỹ ở Việt Nam" Nick Turse đã có bài phân tích trên New York Times khẳng định Mỹ đã thua cuộc không phải bởi những cáo cuộc trên chống lại Tướng Giáp mà là kết quả trực tiếp của chính sách và chiến thuật của mình.

Nick Turse là một sử gia, nhà báo và tác giả của cuốn" Giết bất cứ thứ gì di chuyển: Cuộc chiến thực của Mỹ ở Việt Nam".

60.000 lính Mỹ thiệt mạng trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, nơi họ đã khiến hai triệu dân thường thương vong và bị mất nhà cửa, Turse trích dẫn ước tính của các nhà nghiên cứu và nguồn tin chính phủ cho biết.

Sự căm giận và chán ghét những hành động bạo ngược của quân đội Mỹ là nguyên nhân chính khiến những người dân thường nhỏ bé nhất ở Việt Nam cũng phải đứng lên chống lại lính Mỹ.

Bốn thập kỷ sau, ở vùng đất xa xôi như Pakistan và Afghanistan, người dân lại coi sự hiện diện của Mỹ trong "cuộc chiến chống khủng bố" là kẻ thù vì điều đó gây thiệt hại trực tiếp tới tài sản và sinh mạng của họ.

Nick Turse cho biết, các tài liệu quân sự được giải mật hơn một thập kỷ qua cho thấy tướng William C. Westmoreland cùng cấp dưới của mình mới chính là kẻ đã nướng quân trong chiến tranh Việt Nam. Lý do chính dẫn tới sự tổn thất lớn của Mỹ tại Việt Nam ở ngay chính chiến lược "tìm và diệt" trong "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ. Bản chất của kế hoạch này là đo thành công bằng số lượng mạng sống con người. 

William C. Westmoreland

Mỹ đã tuyên bố rằng những vùng nông thông ở miền Nam Việt Nam là vùng tự do bắn giết, là nơi những dân thường bị giết hại dã man. Tại đó, pháo binh được bắn phá liên tục với mục đích để đối phương phải sống trong tình trạng lo sợ liên tục. Là nơi bom đạn được rải như mưa đã cướp đi mạng sống của hàng trăm ngàn thường dân.

Để biện minh cho hành động sát hại dân thường dã man, các binh sĩ và tướng lĩnh Mỹ giải thích rằng dù họ bỏ chạy hay đứng im thì đều là hành động đáng ngờ. Nhưng theo Turse, trong những cuộc điều tra, các binh sĩ Mỹ đã khai nhận rằng họ được phép "giết bất cứ thứ gì di chuyển".

Nick Turse khẳng định, lập luận của Westmoreland rằng mạng sống của người phương Tây đáng giá còn của người Phương Đông thì rẻ mạt hoàn toàn là một sai lầm.

Ông kể rằng ông đã được trò chuyện với những người dân Việt Nam đã từng mất thân nhân trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Nhiều thập kỷ sau chiến tranh, họ vẫn thương tiếc cha ông mình. Họ kể cho ông nghe về những năm tháng họ đã sống dưới bom đạn của Mỹ, về tất cả những gì xảy ra ở Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Lính Mỹ càn quét, bố ráp một căn cứ cách mạng trong Chiến tranh Việt Nam.

Turse cho biết, Westmoreland là người gây ra nhiều tội ác nhất trong chiến tranh Việt Nam. Viên tướng này đã cầm đầu một lực lượng đặc biệt được gọi là nhóm tội phạm chiến tranh Việt Nam làm việc cho Lầu Năm Góc bí mật sát hại hàng ngàn người dân Việt Nam.

Mặc dù chính phủ Mỹ đã công bố thông tin về vụ thảm sát Mỹ Lai, nhưng Washington vẫn che giấu quy mô thực sự số lượng dân thường Việt Nam đã bị sát hại nhằm lừa dối thế giới rằng điều đó đã xảy ra một cách vô ý, không thể tránh khỏi.

Nếu không thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm trong chiến tranh Việt Nam, người Mỹ sẽ không thể hiểu được những gì đang xảy ra ở Afghanistan, Pakistan, Yemen và những nơi khác trên thế giới mà Mỹ đang tham chiến, Turse nói.

Theo ông, người Mỹ cần phải từ bỏ tiêu chuẩn kép khi nói đến sinh mạng con người.

05 September 2013

3.700 liệt sỹ VN trong mộ tập thể ở TQ

Tin từ Nhật Bản nói sau một trận đánh cách đây 26 năm, 3.700 lính Việt Nam tử nạn được chôn chung tại vùng núi biên giới Hà Giang nay thuộc về Trung Quốc.
Tài liệu được nói là của Đại học Phòng vệ thuộc Cục Phòng vệ Nhật Bản tức Bộ Quốc phòng đề cập tới trận đánh hôm 12/07/1984 giữa lính Việt Nam và Trung Quốc.
Tài liệu này được một người Việt ở Nhật Bản, ông Hà Minh Thành, dịch sang tiếng Việt và đăng tải trên một số trang mạng.
Theo tài liệu này, trận tiến công của quân đội Việt Nam nhằm chiếm lại điểm cao Núi Đất, hay Cao điểm 1509, được xem là một trong các trận đánh đẫm máu và khốc liệt nhất ở Á châu thời kỳ sau này.
Hai cao điểm Núi Đất (1509) và Núi Bạc (1250) nằm trên biên giới giữa hai nước được phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn.
Tài liệu của Nhật nói trong chiến tranh biên giới 1979, hai cao điểm này thuộc về phía Việt Nam và do Việt Nam chiếm giữ.
Tuy nhiên tháng Tư năm 1984, quân đội Trung Quốc lên kế hoạch đánh chiếm Lưỡng Sơn.
Trong khoảng thời gian một vài tháng, Cao điểm 1509 đã lần lượt đổi chủ, cho tới tháng Bảy 1984, khi nó nằm trong tay quân Trung Quốc và Việt Nam tổ chức tấn công để giành lại Núi Đất.

Mộ tập thể

Ngày 12/07/1984, Việt Nam đã điều sáu trung đoàn tham gia trận tập kích trên triền núi.
Thế nhưng kế hoạch của họ đã thất bại do bội phản "từ một sỹ quan quân báo cao cấp".
Trong cuốn sách 'Bí mật về cuộc chiến Trung-Việt' của ba tác giả Trung Quốc Kim Huy (Jin Hui), Trương Tuệ Sinh (Zhang Hui Sheng) và Trương Vệ Minh (Zhang Wei Ming) cũng có chương nhắc đến Bấmtrận Lão Sơn, đăng trên mạng quốc phòng china-defense.com.
Nhiều trang mạng tiếng Hoa và tiếng Việt khác hiện cũng có Bấmtư liệu gồm cả hình ảnhvề trận đánh ít được nói tới trên truyền thông chính thức tại Việt Nam.
Núi Đất lúc đó nằm trong lãnh thổ Việt Nam, thuộc xã Thanh Thuỷ, huyện Yên Minh, tỉnh Hà Tuyên, nay là tỉnh Hà Giang.
Các tài liệu đều nói trận đánh bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài tới 17 tiếng đồng hồ. Dù rất ngoan cường nhưng phía Việt Nam đã phải rút lui, để lại 3.700 xác tử sỹ tại chiến trường.
Thông tin trong cuốn 'Bí mật về cuộc chiến Trung-Việt' còn nói hai hôm sau đó, tức 14/07/1984, phía Trung Quốc tiêu diệt thêm 60 lính Việt Nam sang thu gom xác liệt sỹ.
Tất cả các xác binh sỹ Việt Nam sau đó được lính binh chủng hóa học của Trung Quốc hỏa thiêu bằng ống phun lửa.
Việt Nam tưởng niệm bộ đội hy sinh hồi chiến tranh Biên giới 1979
Trên blog của mình, ông Hà Minh Thành, người nói đã tới khu vực Núi Đất/Lão Sơn cuối năm ngoái, viết ông đã được giới thiệu hố chôn tập thể của các bộ đội Việt Nam.
Khu vực này nay đã hoàn toàn thuộc về Trung Quốc. Chưa biết liệu phía Việt Nam có kế hoạch quy tập con số tử sỹ này hay không.
Thông tin chưa được kiểm chứng mà một người dân địa phương cung cấp cho ông Thành nói một số bộ đội Việt Nam khi bị chôn vẫn còn sống.
Thông tin về giai đoạn xung đột Việt - Trung sau cuộc chiến 1979 ít được nhắc tới ở Việt Nam.
Trả lời BBC Tiếng Việt hôm 28/7, ông Bùi Tín, cựu đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam hồi đó nhưng hiện sống tại Paris, cho hay Bộ Tổng tham mưu của quân đội Việt Nam biết về thất bại của trận Núi Đất và quyết định cho rút quân vì thương vong quá cao (nghe phần audio).
Hai nước ký Hiệp ước biên giới trên đất liền vào năm 1999 nhưng mãi tới năm ngoái mới thống nhất được đường biên.
Quá trình đàm phán biên giới đất liền được nói kéo dài hơn 35 năm.

24 July 2013

Tội ác Mỹ Ngụy !







Máy chém này hả>? .CS nói" Lê máy chém đi khắp miền Nam " . Vô duyên, máy chém này chém đúng 2 người thôi, là ông Hoàng Lê Kha (CS) ở Tây Ninh và ông Ba Cụt ( Hòa Hảo) ở Cần Thơ. Luật 10/59 quá hay, đến hôm nay Hà Nội còn bị tức ...dái

05 July 2013

Tài liệu quý giá về cuộc chiến Việt -Trung năm 1979

“…Nhân dân Việt Nam hầu như không biết gì về chiến tranh biên giới 1979 và trận chiến khốc liệt nhất 1984-1989. Họ đang tìm cách xóa nhòa những ký ức về những cuộc chiến này. Đảng CS Việt Nam ngày nay đã hiện nguyên hình một tên đại bịp, dối trá đứng trên lịch sử, phá tan hoang dân tộc Việt Nam…”


 Những hình ảnh tài liệu trong bài này chắc chắn gây chấn động mạnh cho độc giả vì nó vô cùng tàn khốc. Nhưng đây là dẫn chứng duy nhất để tố cáo những hành vi man rợ của quân đội Trung Quốc đối với các nữ tù binh Việt Nam trong cuộc chiến biên giới Việt Trung kéo dài từ năm 1979 cho đến năm 1989. Đảng CSVN đã giấu nhẹm tất cả mọi tin tức liên quan đến cuộc chiến này. Tác giả Huỳnh Tâm viết bài này thay cho những nén hương gởi đến vong hồn những nữ tù bình Việt Nam đã hy sinh và chết một cách ô nhục cho Tổ Quốc Việt Nam mà không được một ai ghi nhớ. Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có cảnh tượng thảm thương như thế này.

Một nữ tù binh Việt Nam còn mặc quần áo bệnh xá, bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể,chúng đang gọi điện báo cho đồng bọn đến tiếp tục cưỡng dâm. Người nữ tù binh này được giải vây và cứu thoát. Ảnh: NF3.86.

Tội ác chiến tranh, lửa bốc khói ô nhục

Đêm 4/12/1987, pháo binh Việt Nam tăng cường lửa cối pháo trong vòng 43 phút, rót xuống đầu binh lính Trung Quốc. Toàn vùng biên giới Lão Sơn tràn ngập một màu lửa đỏ cháy ngùn ngụt, khốc liệt. Cùng vào thời điểm này, pháo binh Việt Nam bất ngờ đánh trúng vào kho đạn của núi 277, thuộc Sư đoàn 199 Trung Quốc, kéo theo hàng loạt đạn pháo liên tục nổ ầm ì, trên mức độ bình thường; đạn cày tung toé đất đá, bụi, khói lửa bay mịt mù. Đứng giữa chiến trường ngơ ngác trước cảnh điêu tàn chưa bao giờ thấy, binh lính Trung Quốc chui rúc xuống giao thông hào sâu trong lòng đất, chỉ để lại trên mặt đất những tên lính thủ chiến. Bọn họ đã trở thành một loài côn trùng lớn bé lúc nhúc đi tìm chỗ dung thân, nhưng tất cả hầu như bị hủy diệt vì lửa đạn.

Đạn pháo rung chuyển mạnh, từng phút một, đã đánh thức cả vùng biên giới núi Lão Sơn. Quân đội Trung Quốc từ lâu vẫn xay mê với chiến thuật biển người. Lần này chiến binh Việt Nam dùng pháo binh mạnh, đàn áp chiến lũy Trung Quốc và cho họ một bài học chiến sự. Quả nhiên những tên bành trướng Trung Quốc đã tỉnh ngộ không còn xem thường hỏa lực tác chiến của chiến binh Việt Nam.

Hiện thời Sư đoàn 199 và 67 vẫn ra sức cố thủ để còn đất dung thân, tất yếu phải thay đổi chiến thuật, không tin tưởng nhiều vào mật danh do những tình báo Hoa Nam cung cấp và những tên phản dân tộc Việt Nam đang bị bộ máy chiến tranh Trung Quốc nghi ngờ. Có thể uy tín của họ đang xuống thấp, bởi trận mưa cối pháo vừa rồi, do pháo binh Việt Nam tự phát, cho nên tình báo Hoa Nam không có sự kiện để đưa vào kế hoạch chiến trường Lão Sơn.

Cùng ngày, quân đội Việt Nam ngừng bắn pháo trước một giờ, tạo cơ hội thuận lợi cho những đơn vị quân đội Trung Quốc di chuyển đến vị trí phòng thủ mới, và bệnh xá Tập đoàn 25 đồng di chuyển thương binh đến vị trí an toàn. Những quân đoàn Trung Quốc, hối hả tổ chức lại kế hoạch phòng ngự, lệnh tiến hành cố thủ 45 đỉnh núi thuộc vùng núi Lão Sơn,nbảo đảm kiên cố chiến lược, mặt khác kết nối toàn vùng, bao vây quân địch (Viêt Nam), cho đến chiến thắng cuối cùng.

Trong cảnh hỗn mang rối loạn hàng ngũ tại bệnh xá Tập đoàn 25, những thi thể của những nữ tù binh Việt Nam bất ngờ bị phơi bày. Trên lý thuyết, những nữ tù binh đến đây điều trị thương tích nhưng không may cho họ vào thời điểm này, họ lâm vào cảnh ngộ vô cùng bi đát và thảm khốc. Nữ tù binh Việt Nam không chết vì súng đạn, mà chết vì bị hãm hiếp. Những xác chết này nằm lăn lóc, thân thể trần trụi, chết trong căm hờn tủi nhục, đôi môi mím chặt đau đớn, phá tan tất cả thân xác của phụ nữ Việt Nam. Không ai có thể ngờ ở chốn chiến trường lại có cảnh tượng thô bạo như vậy, khó ai tin được người lính Trung Quốc dã man đến thế!

Một số Hải Âu, và NF3.86 đồng chứng kiến bi kịch khiếp đảm, rùng rợn cả người, cho đến mấy mươi năm sau hình ảnh thi thể của những nữ tù binh Việt Nam vẫn còn ám ảnh tâm trí họ. Họ không thể nào quên:

‒ Ngày 4/12/1987, D514, thuộc F199, có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ bệnh xá Tập đoàn 25 Trung Quốc. Theo kế hoạch của bộ chỉ huy chiến trường. Di chuyển toàn bộ thương binh Trung Quốc ra khỏi vùng nóng, còn thương binh Việt Nam sẽ được di chuyển cuối cùng. Thực tế trong cuộc tháo chạy, họ đối xử phân biệt thương binh, đưa đến tình trạng mất kiểm soát căn cứ. Trong cơn binh biến hỗn tạp, binh lính D514 nổi cơn thèm khác dục tính, thi nhau hãm hiếp nữ tù binh cho đến chết và sau đó thủ tiêu thi thể. Họ đã chết trong đau đớn và tủi nhục mà không một ai biết đến, thương tổn lớn cho nữ tù binh Việt Nam. Khủng khiếp hơn nữa, nữ tù binh Việt Nam đã bị bọn giặc dã man Trung Quốc
cắt lấy bộ ngực, bộ ngũ tạn và đôi bắp đùi chân tay để ăn thịt.

Bệnh xá Tập đoàn 25 của Trung Quốc, theo kế hoạch di chuyển thương binh đến vị trí an toàn. Ảnh: NF3.86.

Bi kịch dã man này đã diễn ra từ lúc Đặng Tiểu Bình mở cuộc chiến xâm lấn Viết Nam vào ngày 17/2/1979 và kéo dài cho đến cho năm 1989. Không biết đã có bao nhiêu nữ tù binh Việt Nam rơi vào hoàn cảnh bị hãm hiếp và mất tích. Điều này hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc đã bí mật ém nhẹm, không hề một có tư liệu hay hồi ký nào xuất hiện ghi lại cuộc tàn sát những nữ thương binh này tại biên giới Lão Sơn, Lào Cai, Việt Nam. Người ta chỉ được biết qua truyền khẩu.

Những hình ảnh do chính quân đội Trung Quốc chụp lại cho thấy họ ung dung hành động theo bản năng thú tính tàn ác. Hình ảnh những nữ tù binh Việt Nam đã bị hãm hiếp tập thể cho đến kiệt sức, thân thể trần trụi, cho thấy sự ô nhục thảm khốc, xúc phạm đến nhân phẩm của người nữ tù binh Việt Nam. Những người lính Trung Quốc tàn nhẫn quá đáng, sau khi thỏa mãn dục vọng, họ cắt luôn những bộ phận nhạy cảm nhất trên người phụ nữ, khi chết thân thể nữ tù binh Việt Nam không còn nguyên vẹn.

Thi thể của nữ tù binh Việt Nam bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, sau đó cắt lấy bộ ngực, bộ ngũ tạng, đôi bắp đùi chân tay để ăn thịt. Thi thể tại hiện trường đang nằm trên băng ca cứu thương của bệnh xá Tập đoàn 25. Ảnh: NF3.86.

Không có nỗi nhục nào hơn nỗi nhục trên đất Việt quê hương của mình, chính mình bị làm tù binh chiến tranh dưới tay quân đội Trung Quốc. Họ xem nữ tù binh Việt Nam như một món vật mua vui sinh lý. Những ca hãm hiếp, chôn vùi thi thể nữ tù binh không chỉ xảy ra một lần. Những cấp chỉ huy Trung Quốc vờ không biết, và ém nhẹm nội vụ nữ tù binh Việt Nam bị chôn vùi dưới lòng đất lạnh, mộ phần vĩnh viễn vô danh. Hãi hùng hơn nữa, đảng CS Việt Nam không hề lên tiếng và bày tỏ tri ân và thương tiếc người lính xấu số đã hy sinh mạng sống trên chiến trường! Quả thật vô cùng bất hạnh khi con người sinh rồi mất tích không ai biết xác chôn nơi nào để người thân cầu siêu.

Trên chiến trường, cả hai bên Việt Nam-Trung Quốc đều có tù binh. Phía Việt Nam luôn luôn ưu đãi các tù binh chiến tranh Trung Quốc. Trái lại tù binh Việt Nam, nhất là nữ tù binh, đã bị Trung Quốc đối xử tàn nhẫn, xem đây một thứ rác phế thải không tái chế. Trung Quốc chưa bao giờ tôn trọng theo lời cam kết "không hành động tàn bạo hay gây sốc đối với tù binh nữ giới". Những ai có đến hiện trường tìm hiểu và chứng thực quân đội Trung Quốc vô nhân đạo, đối xử với nữ tù binh rất tàn ác. Cộng sản Trung Quốc dàn cảnh chụp hình những nữ tu bình Việt Nam ở trong trại giam được đối xử tử tế, nhưng người biết chuyện thấy rõ đây chỉ là trò trình diễn nhân đạo có tính toán chính trị.

Nữ tù binh Việt Nam, sau khi bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, và ức bách cho đến chết, áo ngược bị xé rách toang từng mảnh, cho thấy cự tuyệt thất vọng, thi thể vứt bỏ tại bìa rừng núi 227, cách bệnh xá Tập đoàn 25, 2 km. Ảnh: NF3.86

Trên hành trình di chuyển đến điểm núi 255, trong tôi có lắm suy nghĩ cuồng kháng, muốn hét lên một tiếng thật lớn để phá tan những uất hận cho những oan hồn của những nữ tù binh bị hãm hiếp đến chết. Tiếng kêu uất nghẹn, không thành lời. Tôi vẫn chưa hình dung được một phóng sự nào nói về nữ tù binh Việt Nam, mà tôi đã gặp trên đường đi. Hình ảnh những tử thi của nữ tù binh vẫn còn dán cứng vào mắt, trong tim, càng suy nghĩ nhiều càng rối rắm không đầu đuôi sự kiện, cứ thế theo bước chân hối hả. Đi không được bao lâu lại thấy trước giao thông hào một thi thể trần trụi, nằm dài trên mặt đất, không có một thứ gì trên người, xem ra những thi thể vô danh tiếp tục xuất hiện.

Hải Âu DF-1, F67, tò mò, muốn biết vì sao có thi thể người phụ nữa ở giữa núi rùng đang có chiến tranh, khi dỡ tấm nilon ra, thấy một phần cây tròn đâm sâu vào trong cửa mình người phụ nữ, máu chảy ra nhiều đã đông đặc tự bao giờ, mồm còn hả to, có lẽ van xin sự sống, hai cánh tay sải rộng cho thấy đau đớn tận cùng vào lúc chết buông xuôi, xác đã lạnh, với những vết bầm tím vắt ngang dọc cả thân người, nơi bắp đùi có vết thương, những thanh nẹp băng bó vải thưa, gấp chữ V còn mới.

Hải Âu DF-1, F67 khẳng định:

– Chính thi thể nữ tù binh Việt Nam đang điều trị tại bệnh xá của Tập đoàn 25.
Riêng tôi đoan quyết:

– Nữ tù binh này người Việt Nam, vì trên nét mặt rất Việt.

Tôi điềm tĩnh lại, muốn làm một cử chỉ nhỏ, rồi tự hỏi:

– Có nên thực hiện một việc nhẹ mà lại vô cùng nặng "tình lý" không, và cũng có nhẽ hổ thẹn với đời chăng?

Tôi lấy quyết định vì đồng tộc Việt, tự khom lưng xuống, đôi tay rút thanh cây gỗ tròn từ trong cửa mình người phụ nữ, máu ứ động trong người phun ra thành vòi đã ngã màu đỏ bầm. Mọi người trố mắt nhì nhau, ngạc nhiên thấy thanh cây gỗ tròn, bán kính 0,5 mm, đầu hơi nhọn, dài 2 m, đâm sâu vào người gần 4 mm, cả người tôi toát mồ hôi lạnh.

Nhân tiện có sẻng cá nhân, chung nhau đào huyệt, 15 phút sau hoàn tất, bắt tay vào tẩm liệm, tiễn người nữ tù binh xấu số xuống lòng đất quê hương. Trên phần mộ có cắm sâu cột gỗ 1,5 mét. [1]

Hải Âu DF-1, D350, cho biết:

– Trước đây vài giờ nhận được tin, bệnh xá Tập đoàn 25, chuyển thương binh đến nơi an toàn, không ngờ lại có sự kiện nữ tù binh Việt Nam bị hãm hiếp đến thế này!

Nữ tù binh Việt Nam, sau khi bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể, và hành hung cho đến chết, thi thể vứt ném sau giao thông hào, chỉ phủ lên một lớp nilon của bệnh xá Tập đoàn 25. Ảnh: NF3.86.

Tại mặt trận biên giới Tây Bắc Việt Nam từ 1979-1987, đảng CS Việt Nam biết rõ những sự kiện này, nhưng đã im lặng, giấu nhẹm không hề công bố về số phận của những nữ tù binh bị hãm hiếp, quằn quại trên chiến trường, đối mặt với những tên lính vô cảm của Trung Quốc.

Ngoài ra, quân đội Trung Quốc đã từng vấy máu tanh, tấn công bệnh xá của Việt Nam, cướp đi những nữ thương binh và cả nữ y tá, chỉ để làm một việc bất nhân hãm hiếp, rồi sau đó thủ tiêu. Quân đội Trung Quốc không thua gì thảo khấu, cực kỳ tàn nhẫn.
Chúng tôi tiếp tục lên đường, từ xa, ở phía trước lưng núi 221, đã có tiếng cầu cứu quen thuộc "Cứu tôi, cứu tôi", bằng ngôn ngữ Việt, dù biết kêu vô vọng bởi không còn ngôn ngữ nào khác, âm ngữ của mẹ Việt bao dung, làm động cơ thôi thúc thành lời, đang vang động trời đất bao la. Tiếng kêu vào không trung tuyệt vọng, hay tiếng kêu cứu trong hy vọng mong manh.

Một nữ tù binh Việt Nam còn mặc quần áo bệnh xá, bị lính Trung Quốc hãm hiếp tập thể,chúng đang gọi điện báo cho đồng bọn đến tiếp tục cưỡng dâm. Người nữ tù binh này được giải vây và cứu thoát. Ảnh: NF3.86.

Phát hiện trong tiếng "Cứu tôi, cứu tôi" có âm lượng thân thương, từ xa đã rót vào tai, phản ứng tự nhiên tay làm hiệu nhờ những Hải Âu tiến đến điểm có tiếng âm thanh người Việt Nam.

Không sai người nữ chiến binh rơi vào tay lực lượng quỉ râu xanh Trung Quốc, lúc chạm mặt, bọn chúng cả thảy nửa Tiểu đội lật bật mặc quần, và chạy xuống núi, chỉ còn lại một tên Hán vẫn lõa lồ chưa kịp mặt quần, đang gọi điện báo, riêng nữ tù binh Việt Nam thân thể xòa dài dưới đất, thân lết bết khó nhọc, tay túm lấy chiếc váy để che hạ thể, do bệnh xá cấp, ể oải ngồi dậy với tư thế sợ hãi.
Tôi hỏi bằng ngôn ngữ mẹ đẻ thân yêu:

– Em, thể nào, cho anh biết, vì cớ nào lại có mặt ở đây?

Trên khuôn mặt của cô ta, có cả hai nét mặt, vừa mừng, vừa sợ, cô nói:

– Em muốn biết quý anh là ai ?

– Em đừng sợ, ở đây không tiện tỏ hết lời. Em tự nhiên theo các anh thì may ra sống.

Tôi ra hiệu, nhờ Hải Âu trừng trị tên Hán, không ngờ Hải Âu rút súng ra chuẩn bị bắn, tôi ngăn cản lại kéo Hải Âu ra xa nói nhỏ:

– Anh phải lấy thẻ số quân, tên tuổi, đơn vị, rồi tặng cho y vài cú đạp mạnh, sau đó cài một quả lựu đạn cho nổ máy điện đàm, tiếp theo bắng dưới chân để y chạy thoát, cho y sống sau này sẽ làm nhân chứng tội ác chiến tranh, những tên khả ố này phải treo tội ác lơ lửng trên đầu, không thể tha thức để chúng nó ung dung sống trong trạng thái bình an ngoài vòng pháp luật. Hải Âu có đồng ý phương thức giải quyết này không?

– Vâng, thưa anh, thượng sách, tôi thực hiện theo ý của anh.

Giải quyết nhanh tay, tên Hán chạy mất dạng, chúng tôi lên đường, nói:

– Mời cô em, cùng đi với chúng tôi.

– Thưa, em không thể đi được vì bên hông trái trúng thương nặng, và bị 6 thằng lính Trung Quốc hãm hiếp hơn 3 giờ liền, em không còn sức để đứng lên, các anh cứ đi, em chết ở đây cũng toại nguyện lắm rồi, và tạc dạ nhớ ơn của quý anh cứu sống, em xin cúi đầu bái tạ ân nhân cứu mạnh, đa tạ quý anh.

Cô ấy vái lạy như tế sao, như người lên "đồng cô" tại Điện Hòn Chén, đối diện lăng Vua Minh Mang, Huế. Vội vã đỡ cô ấy, nói:

– Chúng tôi xin cô đừng xá nữa.

Cùng lúc tôi nhờ những Hải Âu thi nhau cõng cô ấy, với sức nặng 50 ký ngoài, không là bao, tuy nhiên đi đường xa có vấn đề, trên đường đi nhân tiện hỏi về thân thế và sự nghiệp của cô ấy:

– Em có thể cho biết quý danh để tiện mồm được không?

– Dạ, em tên Trần Thị M…..thuộc đơn vị E81, F365, QK2. Quân hàm Thiếu úy, bị thương đêm 28/11/1987, sáng 29/11/1987, em bị lính Trung Quốc bắt làm tù binh. Quê quán thị xã Lào Cai, địa chỉ số: 74, đường..........

Đã đi được 1 giờ đường, tôi nhờ Hải Âu DF-1, F138 tiếp sức cõng cô M.....1 giờ nữa đến căn cứ 255 của Sư đoàn 138 thuộc Quân đoàn 46 Trung Quốc. Thấy cô M.....ngủ say, vô tư trên lưng của Hải Âu, có dáng mệt mỏi. Tôi đề nghị Hải Âu:

– Nhờ anh Hải Âu DF-1, F138 đưa cô này đến bệnh xá Quân đoàn 46 để điều trị, khai báo theo thủ tục tù binh, tùy anh ứng biến.

– Vâng, tôi hiểu phải làm thủ tục như thế nào rồi.

– Cũng nhờ anh thường xuyên đến bệnh xá thăm cô ấy, sau đó anh liên lạc với bệnh xá hỏi họ sẽ đưa cô này đến trại tù binh nào, nhớ anh cho tôi biết địa chỉ để đến thăm cô ấy nhé.

– Vâng, đúng thế phải làm thủ tục nhập trại tù binh, theo qui chế chiến tranh.

Cô M....vừa tĩnh dậy hỏi:

– Thưa, quý anh đã đến nơi chưa?

– Chỉ còn 5 phút nữa là chúng ta chia tay, anh Hải Âu DF-1, F138 đưa cô đến bệnh xá Quân đoàn 46, còn chúng tôi tiếp tục hành trình, sau khi cô ổn định thủ thục tù binh, tôi đến trại thăm cô và những anh em tù binh đồng hương.

Đến đây chúng tôi và cô M..... tạm biệt đi hai hướng, cô M....hỏi:

– Thế thì anh tên gì để báo ân?

– Không tiện sẽ có ngày gặp lại, chào tạm biệt cô M.....

Trên đường đi tôi suy nghĩ nhiều về thân phận làm người phụ nữ Việt Nam quá gian nan, phải tiếp nhận những ngỡ ngàn trong chiến tranh phức tạp. Nhờ tiếp cận mới nhận diện bộ mặt thật của đảng CS Việt Nam và Trung Quốc, nay đã hiện rõ về họ. Chính họ am tường những tội phạm chiến tranh, biết những trường hợp hãm hiếp nữ tù binh, thế nhưng vẫn làm ngơ không can thiệp, trái lại còn khuyết khích đối xử tồi bại hơn, xâm phạm tiết hạnh của nữ tù binh, hai đảng CS không hề có cảm giác xấu hổ đối với hai dân tộc, cho đến nay hồ sơ hãm hiếp tù binh vẫn bí mật khép kín.

Rõ ràng đảng CS Việt Nam đã đồng lõa trong nội vụ này, và không lên tiếng phản kháng Trung Quốc về sự kiện nữ tù binh Việt Nam bị hãm hiếp. Đảng CS Việt Nam đã để lộ "lề thói" chư hầu, coi như đã hết thuốc chữa trị. Họ sống ung dung, vô trách nhiệm trước dân tộc Việt Nam. Hy vọng một ngày, sự kiện về nữ tù binh Việt Nam được bạch hoá, về mọi hành vi dã man, kinh tởm sẽ có lúc hiển thị, thay lương tâm nhân loại, công bố cáo bạch.

Người nữ tù binh Việt Nam còn phải chịu đựng quá nhiều nghịch cảnh bi thương khác, như trường hợp nữ tù binh bị hãm hiếp mang thai, giam hãm nơi bệnh xá bí mật, họ bị đem ra trừng phạt bằng phẫu thuật cắt bỏ tứ chi, chôn sống và ức bách. Có những trường hợp bị tiêm thuốc tuyệt tiêu khả năng sinh đẻ! Tại chiến trường Lão Sơn, CS Trung Quốc đã có sẵn kế hoạch bẩn thỉu vừa hãm hiếp tập thể vừa trừng phát. Có một số nữ tù binh Việt Nam sống không bằng chết, đành quyên sinh để đổi lấy trinh tiết. [2]

Cảnh tượng hãm hiếp không đơn lẻ nhưng được thi hành rộng rãi tại chiến trường Lão Sơn. Trong cuộc chiến biên giới Việt –Trung, cả hai đảng đều có cùng một mẫu số hèn hạ, tạo ra quá nhiều bạo lực, và phủ nhận hành vi tội ác trước hai dân tộc Việt-Hán.

Vẫn chưa hết, nữ từ binh Việt Nam gặp phải trăm ngàn hung thủ gian ác Hán bao quanh, chúng muốn sự thống khổ của người phụ nữ Việt Nam kéo dài lê thê suốt cuộc đời bằng những sĩ nhục về tinh thần lẫn thể xác. CS Trung Quốc không những làm ngơ mà lại khuyến khích cho phép binh sĩ chà đạp thân thể của người phụ nữ Việt Nam. Họ Đặng là thủ phạm nhưng không ai có thể quy trách nhiệm lên nhà tổ chức chiến tranh họ Đặng này. Đúng là một bè lũ ký sinh hoại loạn. Họ dùng 107 nữ tù binh Việt Nam làm trò giải trí vài lần hãm hiếp tập thể để phục vụ chiến trường.[3]

Nhân dân Việt Nam hầu như không biết gì về chiến tranh biên giới 1979 và trận chiến khốc liệt nhất 1984-1989. Đảng CS Việt Nam thành công tước đoạt quốc gia Việt Nam. Việc nước đại sự biến thành của riêng họ không một người dân nào được đụng vào! Họ đang tìm cách xóa nhòa những ký ức về những cuộc chiến này. CS Việt Nam ngày nay đã hiện nguyên hình một tên đại bịp, dối trá đứng trên lịch sử, phá tan hoang dân tộc Việt Nam.

Từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 cho đến nay đã trải qua 34 năm, đảng CS Việt Nam vẫn bí mật ém nhẹm không công bố thống kê, tổn thất chiến tranh, tài sản nhân dân, tài sản quốc gia, biên giới lãnh thổ mất bao nhiêu cây số, quân số tham chiến, tử vong, thương binh, tù binh nam nữ được trao trả, mất tích, địch đối xử thế nào với tù binh Việt Nam. Sau cuộc chiến đảng CS Việt Nam chưa hề có ưu đãi xứng đáng nào đối với thương binh, gia đình tử sĩ, v.v...

Đảng CS Việt Nam có thể bóp méo suy nghĩ người dân Việt Nam được một ngày, chứ không thể thay đối vĩnh viễn, bởi những hành động dối trá và lừa bịp không thể tồn tại lâu dài. Nếu lịch sử là một chuỗi dài những kịch bản trên sân khấu, đảng CS Việt Nam chỉ là một kịch bản tồi dở, màn hạ xuống là hết. Nhân dân Việt Nam không phải là con rối để mọi khuynh hướng chính trị đùa cợt.

Nước Việt Nam tồn tại cho đến ngày nay là nhờ ở một hằng số bất biến: chống xâm lược phương Bắc. Dân tộc Việt Nam có phương thức dựng nước bẳng "tình nghĩa đồng bào" sẽ đối phó quyết liệt như lịch sử dân tộc Việt Nam đã từng bao lần thể hiện. Gần đây Trung Quốc đã xua quân mở những cuộc chiến tranh cướp biên giới đất liền và biển đảo của Việt Nam vào những năm 1956, 1972, 1974, 1979, 1984 và 1989, đó là chiến tranh bi thảm đến từ phương Bắc, khơi lại lên vết thương lịch sử dân tộc Việt Nam khó thể quên được.

Dân tộc Việt Nam không thể quên những lời truyền dạy năm 1978 của Đặng Tiểu Bình: "Ta muốn chiến thắng Việt Nam hãy thực hiện giết sạch, đốt sạch, hãm hiếp sạch. v.v..." [4]

Lời tuyên bố phi nhân của họ Đặng, chống nhân loại, chỉ thị cho quân đội Trung Quốc nổi sóng gió máu tanh, hằng ngàn người Việt vô tội, dân lành bị hành hạ tại các tỉnh biên giới, như thị trấn Đồng Chúc, Hưng Đạo, Thanh Thủy, Vị Xuyên.

Những tỉnh Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, người chết trôi sông, thi thể mất đầu, và thê thảm hơn nữa thân thể phụ nữ loã lồ, cây thọc vào cửa mình, trẻ em vô tội xác lìa hai nơi, chưa kể về những cảnh chết của người du kích địa phương v.v…

Trung Quốc khuyến mại hận thù trên tầm quyết sách. Khi có điều kiện, binh lính Hán triều không cần suy nghỉ, sẵn sàng vấy máu trên mười đầu ngón tay. Tính khoan dung, hiền hòa nhường cho chỗ thú tính man rợ, tàn ác. CS Trung Quốc chưa bao giờ biết tôn trọng nhân phẩm con người, chỉ biết giết, giết và CS Việt Nam, đệ tử thân tín của đàn anh phương Bắc cũng dùng quỉ-thuật giết người đôi khi còn tàn bạo hơn cả CS Trung Quốc.

Giết người cũng cần có đồng minh, cho nên CS Việt Nam và CS Trung Quốc phải kết bè bọn, cao giọng tung hô phương châm 16 chữ vàng "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng đến tương lai", và tinh thần 4 tốt, "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt". Thực chất, Trung Quốc đã cài lưới điện vào hai cụm từ trên, đều nằm trong chiến lược đô hộ Việt Nam lâu dài.

Nhân dân Việt Nam không thể tiếp nhận người bạn xấu phương Bắc bằng ngôn ngữ anh em, cần xét lại quan hệ với Trung Quốc, và đặt các vấn đề hậu chiến tranh từ năm 1956 cho đến năm 1989, từ biên giới đất liền cho đến biển Đông thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Từ khi Trung Quốc phát động chiến tranh, ngày 17 tháng 2 năm 1979 đến năm 1989, binh sĩ Trung Quốc đã hãm hiếp không biết bao nhiêu nữ tù binh Việt Nam, để lại những vết thương không tẩy xóa được trong tâm não của nữ tù binh đáng thương. Họ mang trong lòng mặc cảm tủi nhục và tuyệt vọng. Họ đã mất hết niềm tin vào tình người, cuộc đời trở nên vô nghĩa, rơi vào tình cảnh trầm cảm khôn nguôi, thân tâm luôn cảm thấy đau đớn. Họ không được bảo vệ theo đúng qui ước chiến tranh. Cả hai đảng CS Việt Nam và Trung Quốc cùng nhau thi thố xem ai tàn ác hơn ai trong cuộc chiến này, xô đẩy toàn dân đến chỗ diệt vong về tinh thần và vật chất. Họ đã vi phạm trắng trợn qui ước chiến tranh và đã xúc phạm đến nhân phẩm của người thất trận, thay vì tạo ra tâm lý bình yên. Trung Quốc đã vi phạm quy ước quốc tề về tù binh, gây tội ác chiến tranh, nhân loại sẽ không tha thứ. Lưới trời tuy thưa, nhưng khó lọt, những kẻ gây tội ác chiến tranh tại biên giới Việt Trung không thể thoát khỏi phán quyết của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) về tội ác chống nhân loại.

Huỳnh Tâm
Theo Huỳnh Tâm blog



[1] Vào thời điểm này, vùng núi Lão Sơn vẫn còn thuộc biên giới Việt Nam.
[2] 10% Nữ quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
[3] 107 nữ tù binh chiến tranh hiện diện tại chiến trường Lão Sơn, Việt Nam.
[4] Đặng Tiểu Bình, tuyên bố ngày 20/12/1978, tại hội nghị Quân Ủy Trung Ương (CPC).

26 March 2013

Anh hùng VC La Văn Cầu và trận đánh đồn Đông Khê, 1950!

Anh La Văn Cầu  sinh năm 1932 trong một gia đình nghèo, dân tộc Tày, tỉnh Cao Bằng. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, được nhiều cán bộ tuyên truyền giác ngộ, anh đã hiểu rõ nguồn gốc sự cực khổ của người nghèo và người dân mất nước, nên hăng hái tham gia vào công cuộc kháng chiến ở quê hương. Với khát khao được cầm súng giết giặc giải phóng đất nước, La Văn Cầu mới 16 tuổi đã khai tăng lên 18 tuổi để được vào bộ đội. Lúc đó là năm 1948, thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Nhưng niềm vui và ý chí đã giúp anh vượt qua khó khăn, vươn lên rèn luyện thành một chiến sĩ gương mẫu, giàu lòng nhân ái, nên được anh em đồng đội rất quí mến. Anh đã tham gia chiến đấu nhiều trận và lập được nhiều chiến công. Một trong những chiến công  mà từ đó tên tuổi của anh đã đi vào sử sách là Trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai (từ 16 - 18.9.1950). Trong trận đánh này, anh được phân công chỉ huy tổ bộc phá làm nhiệm vụ phá hàng rào và đánh lô cốt đầu cầu (cửa mở trận đánh). Trong trận đánh, anh bị thương nát tay phải và đã nhờ đồng đội chặt đứt cánh tay ấy cho khỏi vướng rồi tiếp tục đánh bộc phá mở đường cho đơn vị xung phong.


Nếu chỉ đọc những dòng chữ ghi tóm tắt chiến công đó thì chúng ta chưa thể hình dung hết được sự ác liệt của trận đánh và chúng ta cũng không thể hiểu hết được khí thế hừng hực của chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã được hun đúc trong con người anh, người chiến sĩ mới mười tám tuổi đời và hai tuổi quân. Để thế hệ trẻ hôm nay hiểu được trí thông  minh, lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ, sẵn sàng hi sinh tất cả để giành lại độc lập tự do cho dân tộc của thế hệ cha anh nói chung và của Anh hùng La Văn Cầu nói riêng, chúng tôi xin trích giới thiệu một phần bản tự thuật của anh La Văn Cầu về trận đánh đồn Đông Khê lần thứ hai được ghi trong “Biên bản Đại hội Toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu” diễn ra tại Việt Bắc từ ngày 01 tháng 5 đến ngày 06 tháng 5 năm 1952, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phông Phủ Thủ tướng, Hồ sơ 467: 


“…Tiếp đến Chiến dịch Biên giới. Tôi tham gia trận Đông Khê. Trận này là trận đánh Đông Khê lần thứ hai, tôi làm nhiệm vụ bộc phá viên của đơn vị Đại đội. Trước khi ra mặt trận chúng tôi được lệnh gói bộc phá - lúc đầu vì không có kinh nghiệm nên chúng tôi gói bằng lá tươi và buộc bằng lạt thường, do đó bộc phá nổ không mạnh và hay hỏng - về sau tôi có sáng kiến lấy lá chuối khô bọc bộc phá và buộc bằng lạt nấu nước sôi cho chắc. Bởi thế nên có kết quả.


Trước khi ra trận tôi họp anh em trong tổ bộc phá để thảo luận về nhiệm vụ. Tôi đưa ra ý kiến là tất cả anh em trong tổ đều phải quyết tâm làm nhiệm vụ đến phút cuối cùng, dù phải hi sinh. Tôi lại bảo “Anh em chúng ta phải cố gắng phá hàng rào và giao thông hào, lô cốt cho thật nhanh và cho đến nơi đến chốn để đỡ xương máu cho anh em xung kích”. Các anh em trong tổ đều đồng ý với tôi và hăng hái hứa cùng nhau làm cho được nhiệm vụ, dù chỉ còn lại một người cũng quyết tâm làm xong nhiệm vụ của tổ.


Tổ tôi có 5 người do tôi làm tổ trưởng, lần này là lần đầu tiên chúng tôi đánh bộc phá - đơn vị tôi là đơn vị bộc phá đầu tiên.


Ngày 15 chúng tôi được lệnh xuất phát - chiều 16 đơn vị tôi bố trí sát vị trí Đông Khê. Ban Chỉ huy ra lệnh cho đội bộc phá chúng tôi phải phá cho được đồn to của vị trí. Tổ của tôi tiến lên phá hàng rào trong đêm tối. Nhận thấy bộc phá có ít nên tôi nảy ra sáng kiến lấy mìn của địch giật ở hàng rào dây thép gai phá hàng rào của nó. Chúng tôi lấy được mấy chục quả mìn của địch chôn ở hàng rào, rồi làm nổ mìn và phá được hàng rào của địch. Sau đó, chúng tôi tiến thẳng lên lô cốt. Lúc này, địch bắn xuống như mưa. Tôi hỏi anh em có ai bị thương không. Trong anh em, tôi biết có anh bị thương nhẹ, nhưng anh đó cũng không báo cáo thật, sợ mất tinh thần anh em khác, nên đã giả lời không ai việc gì cả. Thấy tinh thần anh em cao như thế, tôi rất phấn khởi. Tôi hô anh em xung phong. Tiến lên được một quãng thì hai anh trong tổ bị trúng đạn, bị thương nặng, không thể chiến đấu được. Các anh đó nhận thấy không thể tiếp tục theo chúng tôi được nên có bảo ba chúng tôi thế này: “Chúng tôi bị thương nặng không làm được nhiệm vụ nữa. Các anh cố gắng làm xong nhiệm vụ và trả thù cho chúng tôi. Các anh nhớ lời anh Cầu bảo chúng ta trước khi ra đi. Còn một người cũng cứ chiến đấu làm tròn nhiệm vụ đến phút cuối cùng”. Thấy các anh vừa nói vừa khóc, chúng tôi thương hai anh quá. Nhưng nghĩ đến nhiệm vụ, ba chúng tôi lại hăng hái xông lên, nhất quyết làm cho được nhiệm vụ để trả thù cho hai anh. Lúc đó tôi cảm thấy căm thù bọn giặc quá. Chúng tôi tiến lên lô cốt địch, cách lô cốt độ 15 thước thì hai anh bạn đồng đội của tôi bị địch bắn trúng và bị hy sinh. Tôi thấy hai anh bị hy sinh tôi thương quá. Nhân lúc hai anh còn nóng, tôi ôm lấy hai anh hôn. Tôi nghĩ lúc ấy tôi thay mặt Tổ quốc hôn hai anh để cảm ơn hai anh. Hôn xong tôi lại thấy căm thù giặc hơn nữa. Tôi nghĩ phải nhất quyết phải trả thù cho hai anh và làm cho xong nhiệm vụ. Quân địch vẫn bắn ra rất nhiều. Tôi hăng máu xông lên, tìm cách tránh đạn địch, rồi vượt luôn ba giao thông hào - lúc này địch bắn si nhan sáng loáng - chắc hẳn là nó nom thấy bóng tôi nên tôi nghe hô “a-lat-xô Việt Minh”. Tôi vẫn bình tĩnh tiếp tục tiến lên lô cốt - đến gần lô cốt độ 10 thước thì tôi bị trúng đạn liên thanh của địch. 


Đạn bắn trúng cánh tay phải của tôi và trúng vào má bên phải của tôi. Tôi bị ngã và ngất đi trong mấy phút. Tôi tưởng chết, cố hô Hồ Chủ tịch muôn năm, Việt Nam độc lập muôn năm. Khi tỉnh lại, tôi kiểm điểm lại người tôi, thì thấy một bên mình đã tê đi, sờ đến cánh tay phải thì lủng lẳng, má bên phải thì mất. Lúc đó tôi lại nghĩ đến nhiệm vụ của tôi. Tôi vùng dậy, tìm gói bộc phá thì thấy gói đó bị văng đi cách chỗ tôi mấy thước. Quả bộc phá nằm trên miệng giao thông hào chưa rơi xuống. Tôi nghĩ may quá, nếu nó rơi xuống hào thì nổ mất còn gì - tôi đến lấy tay trái nhặt quả bộc phá ôm vào người và tiến vào lô cốt - nhưng trong lúc đi lại tôi thấy cánh tay phải lủng lẳng khó đi quá. Tôi liền nghĩ là phải quay giở xuống tìm một anh bạn nhờ chặt tay đi thì mới làm được nhiệm vụ. Rồi tôi quay xuống ngay. Đến nửa đường tôi gặp anh tiểu đội trưởng tiểu đội xung kích đang tiến lên. Tôi bảo anh chặt hộ tay cho tôi. Anh ngạc nhiên và bảo tôi quay xuống cho y tá băng bó. Tôi nói cho anh rõ ý định của tôi và nhất định yêu cầu anh cứ chặt tay cho tôi để tôi làm xong nhiệm vụ. Anh tiểu đội trưởng lúc đó mới hiểu, bèn lấy mác chặt cái tay bị thương đã gãy. Xong anh xé áo buộc cho tôi. Nhưng anh quên làm ga-rô, nên đi được một quãng tôi thấy máu ở cánh tay phải cứ chảy ra ròng ròng làm ướt đẫm một miếng vải buộc. Về sau miếng vải đó cũng bị tuột ra. Nhưng tôi không để ý đến cánh tay nữa, tôi cũng không biết đau nữa cứ chạy lên con đường cũ. Tôi đến chỗ giấu bộc phá nhặt lấy rồi tiếp tục lên phá lô cốt. Quả bộc phá nặng 12 ki lô nhưng tay trái tôi vẫn đủ sức xách lấy nó. Tôi lại vượt qua mấy giao thông hào. Nhưng tôi nhảy hụt ở giao thông hào thứ nhất, lăn xuống giao thông hào. Tôi lóp ngóp bò lên và tiếp tục tiến vào lô cốt. Qua giao thông hào thứ ba, tôi lại nhảy hụt lần nữa, vì sức tôi đã yếu rồi. Tôi lăn xuống hào rồi lại lóp ngóp bò lên. Tiếng súng liên thanh của địch cứ nổ ran, những lỗ châu mai của nó cứ nhả đạn liên hồi - ở dưới giao thông hào tôi thấy mệt mỏi quá. Nhưng tôi nghĩ lại nhời Ban Chỉ huy dặn phải phá cho bằng được lô cốt này, vì vị trí Đông Khê là vị trí rất quan trọng, nó bảo vệ đường số 4. Lô cốt này nó bắn xuống đường Thất Khê và bắn yểm hộ bốt Cam Vây. Nếu không phá được lô cốt ấy thì quân ta khó tiến. Nghĩ thế, tôi lại thấy hăng, lại xách bộc lôi nhảy lên. Tôi tiến đến gần chân lô cốt. Tôi lấy quả lựu đạn giắt ở bên người, lấy răng rút chốt an toàn, ném vào phía có lỗ châu mai để uy hiếp tinh thần địch. Lựu đạn trúng lỗ châu mai, nổ, nhưng súng liên thanh của địch vẫn nhả đạn ra. Tôi men lại lỗ châu mai, chờ cho địch thay băng đạn. Khi súng địch tạm im không bắn, tôi xông lại, đút quả bộc lôi vào lỗ châu mai. Địch ở trong trông thấy lấy báng súng đẩy ra hai lần. Lần đầu tôi lấy tay đẩy vào nhưng tay tôi yếu không đẩy vào sâu được nên địch lại đẩy ra. Tôi thấy thế nảy ra sáng kiến lấy chân đẩy quả bộc phá vào. Lần này, nhờ có sức mạnh chân, tôi đẩy được quả bộc phá vào sâu, quả bộc phá bịt chặt lấy lỗ châu mai, địch không đẩy ra được nữa. Ngay lúc đấy tôi giật nụ xòe rồi chạy ra xa lô cốt độ mươi mười lăm thước. Quả bộc lôi nổ rất to. 

Tôi bị sức ép của quả bộc phá làm ngất đi mấy phút. Lúc tỉnh lại còn nằm ở dưới đất, mở mắt nhìn ra tôi thấy lô cốt đã tan tành, chỉ còn  một đống gạch trắng xóa, tôi lại thấy bóng các anh xung kích từng loạt, từng loạt lướt qua mắt tôi vội nhảy vào vị trí Đông Khê. Tôi thấy sung sướng quá, nghĩ bụng đã trả thù được cho bốn bạn trong tổ của tôi. 


Tôi đứng lên, chạy xuống tìm Ban Chỉ huy và xin Ban Chỉ huy cho phép tôi lên phá nốt mấy cái lô cốt nữa. Ban Chỉ huy không đồng ý và ra lệnh cho tôi phải về trạm quân y ngay. Tôi quay xuống chân đồi. Vừa xuống tới chân đồi thì mấy quả đại bác của địch rót tới, nổ ngay gần chỗ tôi đứng. Tôi bị bắn lên quá mặt đất mấy thước rồi mới rơi xuống, ngất đi một lúc. 

Lúc tỉnh dậy, tôi thấy bốn chị cứu thương đứng gần tôi, các chị bảo tôi nằm lên cáng để các chị cáng về. Lúc đấy trong đại đội tôi bị thương vong nhiều, tôi nghĩ tôi còn hai chân có thể đi một mình về trạm giải phẫu được để cho các chị cáng anh em khác lợi hơn. Bởi thế tôi không để các chị cáng, tôi đi một mình. Đường đi đến trạm giải phẫu cách bốn cây số. Tôi đi một lúc thì mệt quá phải nghỉ lại, rồi lại đứng dậy đi. Nhưng sau thì cứ đi một quãng lại ngã. Nhưng tôi nghĩ phải quyết tâm đi đến trạm giải phẫu. Dọc đường nhiều lần tôi khát nước quá, nhưng tôi nhớ lời dặn của bác sĩ, không được uống nước, nếu uống nước nhiều lúc ấy có thể chết. Tôi lại tranh đấu bản thân, cố nhịn không uống nước suối. Tôi phải trèo qua mấy cái đèo, nhọc quá. Đến sáng tôi mới về đến trạm giải phẫu. Chiều 17, bác sĩ cưa cụt cả tay phải của tôi đến bả vai. Được mấy hôm sau tôi thấy đã khỏe, tôi có đề nghị bác sĩ cho tôi trở về đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ để góp phần chiến đấu với anh em. Bác sĩ không cho phép.


Xong chiến dịch, anh em trong đơn vị bình công, đề cử thưởng Huân chương Quân công hạng Ba cho tôi. Đề nghị đó được Bộ Tổng tư lệnh duyệt y. Ngoài ra, cấp Trung đoàn có quyết nghị khen tôi”…


Tấm gương chiến đấu của anh La Văn Cầu đã cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công trong toàn  quân và trở thành lá cờ đầu trong phong trào thi đua sử dụng bộc phá công đồn, một hình thức chiến thuật mới của quân đội ta mở ra từ chiến dịch Biên Giới năm 1950. Với những chiến công của mình, anh La Văn Cầu được tặng thưởng một Huân chương Quân công hạng ba (năm 1950), Huân chương Kháng chiến hạng nhất và được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đợt đầu (năm 1952). Đã 59 năm trôi qua kể từ ngày anh La Văn Cầu tham gia đánh trận Đông Khê, đất nước đã thanh bình, Anh hùng La Văn Cầu đã nghỉ hưu, trở về với đời thường nhưng phẩm chất của người anh hùng mãi mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ Việt Nam./.

Phạm Hải Yến- Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III

01 January 2013

Huyền thoại tay không “quật ngã” trực thăng UH–1 của Mỹ

(Người nổi tiếng) - Ông rưng rưng nước mắt: “Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được”.

Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, từ biệt quê hương Tân Dương (Thủy Nguyên, TP.Hải Phòng), ông khoác ba lô lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng – Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay).
 
Hơn 15 năm cầm súng chinh chiến dọc một dãi chiến trường miền trung, ông đã lập nên những kỳ tích huyền thoại khi hạ một mình hơn 8 chiếc máy bay UH – 1 và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy.

Đất nước giải phóng, dù bận rộn với cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn, nhưng người cựu binh năm nào vẫn còn đau đáu một nỗi lòng với những người đồng đội đang nằm lại nơi rừng xanh, núi cao chưa tìm thấy hài cốt.

Từ năm 1990 đến nay, ông đã thực hiện hàng trăm chuyến băng rừng, vượt suối về lại chiến trường xưa để tìm kiếm, cất bốc mộ đồng đội.

Người cựu binh nặng lòng với quá vãng ấy là ông Bùi Minh Kiểm (SN 1942, trú tại đường số 5, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng), một “địa chỉ đỏ” trong hành trình đi tìm mộ liệt sĩ của thân nhân những người lính ngã xuống trên chiến trường Quảng – Đà.

Huyền thoại tay không “quật ngã” trực thăng UH – 1 của Mỹ - ngụy
Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.
Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.
Sau nhiều lần tìm đến nhà, cuối cùng, chúng tôi cũng gặp được ông vừa trở về sau chuyến đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực rừng núi Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam).

Căn nhà nhỏ nằm khuất sau con hẻm bỗng trở nên vui nhộn hơn thường ngày bởi tiếng cười nói của những người khách, cán bộ phường đến thăm.

Nhìn người đàn ông tuổi ngoài lục tuần, thân hình nhỏ nhắn nhưng rắn chắc, khỏe mạnh, ít ai biết được rằng ông đã từng dùng đôi bàn tay ấy để ghì chặt một chiếc máy bay UH – 1 của Mỹ xuống mặt đất.

Dẫn chúng tôi lên căn phòng chất đầy những kỷ vật một thời lửa đạn như: bi đông nước, ba lô con cóc, dép cao su…, ông kể: “Gia đình tôi có 4 anh em trai thì hết 3 người xung vào quân đội, 4 chị em gái cũng lần lượt vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế cho chiến trường lớn miền Nam.
Riêng tôi con út nên được ở nhà, miễn nghĩa vụ quân sự. Nhưng đất nước đang chiến tranh, giặc giã, bạn bè cùng trang lứa đã xếp bút nghiêng lên đường, mình ở nhà sao được?”.

Mặc cho gia đình can ngăn, ông vẫn viết đơn nhập ngũ và xin vào chiến đấu ở mặt trận Quảng – Đà, một trong những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ.

Sau gần nửa năm huấn luyện trong gian khổ, ông được biên chế vào đơn vị 91 Đặc công (thuộc Quân khu V), thực hiện các nhiệm vụ đánh “thọc” sâu bên trong lòng địch, bảo vệ các cứ điểm quan trọng.
Với một người lính trẻ vừa kết thúc mấy tháng quân trường, đó bước thử thách khắc nghiệt, khó khăn. Trải qua những trận đánh ác liệt, có những lúc đối diện với cái chết trong gang tấc đã hun đúc tinh thần người lính trẻ.

Sự ác liệt của chiến tranh, sự hy sinh mất mát của nhiều đồng đội, cũng không thể khiến ông khuất phục.

Trong đời binh nghiệp của mình, ông nhớ nhất là trận đánh “không ngang sức” với kẻ thù, buộc ông phải gieo mình xuống sông để tránh bị rơi vào tay kẻ thù. Nhắc lại chuyện xưa, trong đôi mắt của người lính già ngấn lệ, hồi tưởng về một thời máu lửa đã qua.

Ông kể, đó là vào khoảng 9 giờ một ngày tháng 4/1968, khi đơn vị của ông gồm 4 người (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140 – Bộ Quốc phòng) đang đào hầm trên bãi cát gần bờ sông Vu Gia (thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam – PV) để bảo vệ một điểm trung chuyển đạn dược phục vụ mặt trận Quảng – Đà.

Trong lúc 4 người đang đào công sự thì địch sử dụng máy bay do thám phát hiện. Chỉ khoảng một giờ sau, hàng chục chiếc trực thăng của địch bất ngờ đổ bộ xuống vị trí cách đơn vị ông chưa đến 20 mét.

Trước khi đưa lính tới càn, bọn chúng đã cho pháo tập kích, dập tả tơi quanh khu vực bán kinh 1km trở lại. Trận pháo kích dữ dội đã làm 2 chiến sĩ của đơn vị trúng đạn, hy sinh.

Biết địch chắc chắn sẽ cho quân càn tới để tiêu dịch cứ điểm quan trọng này nên ông và đồng đội Nguyễn Phú Thao (ngụ TP.Hải Phòng) quyết một phen sống mãi với quân thù.

Ngoài hai khẩu AK, ba quả lựu đạn và một số ít cơ số đạn còn lại, hai người phải chống chọi với một tiểu đoàn trực thăng biệt động 37 của ngụy cùng hơn 150 lính biệt kích, có sự yểm trợ của pháo binh địch.

“Lúc này, hai anh em chúng tôi chỉ liếc mắt nhìn nhau rồi lặng lẽ tiến vào công sự, đạn đã lên nòng và lựu đạn cũng sẵn sàng rút chốt. Không ai nói một lời, nín thở chờ tụi biệt kích tiến vào tầm ngắn. Tụi nó sục sạo khắp nơi và khi đến gần phía bờ sông thì chúng tôi nhả đạn” - ông Kiểm nhớ lại.

Gặp chốt chống cự, địch nhanh chóng tản ra tạo thành thế gọng kìm để bao vây hai người vào giữa. Nhưng những loạt đạn AK tạo ra vành đai lửa khiến địch không thể tiến lên.

Sau ba giờ cầm chân địch, ông bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiên trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn róc két, pháo kích lần hai.

Người lính già Bùi Minh Kiểm (đứng bế cháu, thứ 3 từ phải sang trái) cùng thân nhân những người đi tìm hài cốt liệt sĩ.
Người lính già Bùi Minh Kiểm (đứng bế cháu, thứ 3 từ phải sang trái) cùng thân nhân những người đi tìm hài cốt liệt sĩ.

Quân Mỹ - ngụy tưởng rằng, chúng đang đụng độ với một đơn vị bộ đội của ta nên tiếp tục cho quân đổ bộ và tăng cường hỏa lực trấn áp.

“Quân địch sợ bị rơi vào điểm phục kích nên không dám tiến lên mà chỉ dùng hỏa lực tấn công từ xa. Nhưng nguy hiểm nhất là các trực thăng liên tục quần thảo trên đầu, súng máy và AK không thể xuyên thủng lớp thép phía dưới bụng máy bay” ông Kiếm kể.

Giữa lúc “dầu sôi, lửa bỏng” ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo. Khi chiếc UH – 1 rà tới chuẩn bị hạ thấp để bắn róc két thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống.

Đôi bàn tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH – 1 xuống gần sát mặt đất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị anh Thao từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái. Chiếc máy bay mất thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác.

Tiếng nổ của chiếc UH – 1 đầu tiên đã khiến phía địch hoảng loạn, gọi cầu viện. Đến trưa cùng ngày, ông Kiểm và đồng đội vẫn giữ vững cứ điểm, không để địch tiến về phía bờ sông.

Đợt pháo kích thứ ba của địch vừa dứt thì ba chiếc trực thăng UH – 1 hạ cánh xuống khu vực chiếc trực thăng bị rơi để tìm kiếm xác. Lợi dụng cơ hội này, hai người trườn tới vị trí thuận lợi để bắn hạ ba con “chim sắt”.

Ông Kiểm hồi ức như mới vừa xảy ra đây “Trong khi anh Thao lên đạn súng máy thì tôi chạy thắng tới đuôi chiếc máy bay rút chốt lựu đạn quăng vào buồng lái.

Chiếc thứ nhất nổ tan tành khiến hai chiếc kia hoảng sợ cất cánh bỏ chạy, nhưng đã bị lưới đạn của anh Thao nhả xuống, hai chiếc còn lại cũng bị hạ nốt”.

Đến cuối giờ chiều, hai khẩu súng đã gần hết đạn, không thể tiếp tục chống cự thêm. “Lúc đó hai tai tôi đã lãng đi vì tiếng nổ, đầu nhức, mắt mờ. Anh Thao cũng bị thương chảy máu khá nhiều. Hai chúng tôi hi vọng sẽ cầm cự đến được chiều tối, bọn địch sẽ phải rút lui, hoặc phía quân ta sẽ bổ sung lực lượng cứu viện” - ông Kiểm kể.

Khi phát hiện hỏa lực phía ta bị suy giảm, địch bắt đầu cho quân tiến lên, quyết tâm bắt sống ổ kháng cự. Hai người vừa chiến đấu vừa tìm cách bò ra mép sông để tìm cơ hội thoát khỏi sự truy kích và đánh lạc hướng quân địch.

Nhưng cả hai chưa bò ra đến nơi thì ông Thao trúng mảnh pháo xuyên qua đầu, hy sinh. Lúc đó, ông Kiểm nghĩ mình cũng sẽ chết vì chỉ còn lại ba viên đạn trong băng. Ông cố lôi xác đồng đội ra sông để cả hai cùng thả trôi theo dòng nước, không phải chết trong tay quân Mỹ - ngụy.

Lê chút sức tàn ra tới sông, ông Kiểm thả mình xuống dòng nước bất tỉnh. Trôi theo dòng nước gần 6 km, sóng đánh ông tấp vào bờ. Tưởng chừng như đã nắm chắc cái chết, nhưng ông Kiểm được người dân trong vùng vớt lên, cứu sống.

Kể đến đây, ông Kiểm quay sang nhìn tấm di ảnh của ông Thao treo trang trọng trong nhà và ông xúc động:

“Đến bây giờ, tôi cũng không nghĩ là mình may mắn còn sống. Cả đơn vị tôi hôm ấy đã hy sinh gần hết, chỉ còn lại tôi. Bà con đã nuôi dấu tôi hơn 2 tuần cho hồi phục rồi tìm đường trở lại đơn vị chiến đấu”.

Sau trận ấy, ông được đơn vị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đó xem như là phần thưởng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người lính trẻ năm nào. Trở về đơn vị, ông và đồng đội lại bước vào những trận chiến gian khổ và khốc liệt hơn.

Năm 1970, ông chuyển về công tác, chiến đấu và giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, Đoàn pháo binh 575. Cuối năm 1971, ông được đơn vị giao nhiệm vụ trinh sát, đặt đài quan sát trên đỉnh Bà Nà - Núi Chúa để theo dõi tình hình hoạt động của địch ở sân bay Đà Nẵng.

Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào tháng 8/1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy.

Trước đó, công tác chuẩn bị cho trận đánh “lịch sử” đã được lãnh đạo thống nhất phương án. Táo bạo và bất ngờ, các trận địa pháo của Đoàn 575 đặt tại trận địa Hòa Bình (Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) và Điện Sơn (Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) phát hỏa lúc 5 giờ 35 ngày 2/8, ngay trước mũi hành quân tìm diệt của địch (cách trận địa Hòa Bình chỉ vài trăm mét).

80 viên hỏa tiễn “tìm” đúng mục tiêu, phá hủy 57 máy bay, diệt 147 tên Mỹ hầu hết là sĩ quan, giặc lái, kho xăng trong sân bay bốc cháy dữ dội 5 giờ liền, nhiều phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy. Trận đánh để đời của Đoàn 575 đã làm giặc Mỹ ngớ ra không kịp đối phó...

Lật giở tấm bản ghi thành tích chiến đấu của đơn vị năm nào, ông cười tự hào, “Gần 10 năm (1966-1975), Đoàn pháo binh 575 đã đánh hơn 500 trận, tiêu diệt 6.000 tên địch với hàng ngàn sĩ quan, phá hủy 780 máy bay, 1.000 xe quân sự, 200 khẩu pháo các loại, thiêu cháy 50 triệu lít xăng dầu và rất nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ.

Đơn vị được tặng 10 Huân chương Quân công, hàng trăm Huân chương Chiến công, được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 31/3/1973...”.

Trong thời gian 1964-1975, với những thành tích xuất sắc đã đạt được, ông Kiểm được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công, 4 danh hiệu Dũng sĩ (diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, diệt xe cơ giới), 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 1 Huân chương Kháng chiến và 31 bằng khen, giấy khen các loại...

Cuộc trò chuyện bỗng trầm xuống khi chúng tôi nhắc đến những chiến thắng, ông rưng rưng nước mắt:

“Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được”.


31 December 2012

Sự thật: MIG-21 của Việt Nam có thực sự bắn rơi B-52 ?

Source: 
B52 ở Georgia. Ảnh: HM
B52 ở Georgia. Ảnh: HM
MIG21 và Atoll - K13 ở Air Space Museum tại Virginia. Ảnh: HM.Atoll do phía Mỹ cung cấp cho Taiwain trên máy bay F86 và trong một lần đối đầu năm 1958  với máy bay Trung Quốc, họ đã bắn ra nhưng tịt ngòi. Trung Quốc mò lên và tặng Liên Xô. Cường quốc này trộm luôn và biến thành đồ Atoll - K13 bắn lại Mỹ. (Bảng chỉ dẫn)
MIG21 và Atoll – K13 ở Air Space Museum tại Virginia. Ảnh: HM.
Atoll là mã NATO gọi tên lửa K13 của Liên Xô. Nguồn gốc K13 lấy từ tên lửa Sidewinder do phía Mỹ cung cấp cho Taiwain trên máy bay F86 và trong một lần đối đầu năm 1958 với máy bay Trung Quốc, họ đã bắn ra nhưng tịt ngòi, rơi xuống biển. Trung Quốc mò lên và tặng Liên Xô. Cường quốc này trộm luôn và biến thành đồ K13 bắn lại Mỹ. (Bảng chỉ dẫn). Thông số kỹ thuật: dài 2,6m, nặng 45,5kg, đầu đạn mang 5,9kg thuốc nổ, tầm bắn 8,7km. Xem thêm http://airandspace.si.edu/collections/artifact.cfm?id=A19930363000. Chính là quả tên lửa Atoll mà tôi chụp ở Viện bảo tàng VA (Chantily).
Lẽ ra kỷ niệm 40 năm chiến dịch Christmas Bombing – Ném bom dịp Giáng Sinh vào Hà Nội từ 18 đến 30-12-1972, người ta chờ đợi một sự thật: MIG21 của Việt Nam có thực sự bắn rơi B52 như phía Việt Nam công bố hay không?
Nếu MIG21 cận chiến thật thì ai đã làm việc đó, Phạm Tuân hay Xuân Thiều, hay cả hai đều lập chiến công?

Anh Basam đã có bài chi tiết về vấn đề này, có vài chứng cứ lấy từ Wiki, một tài liệu mở trên internet, người ta dễ dàng sửa đi, làm cho người đọc cảm thấy băn khoăn không biết nguồn nào đáng tin cậy.
Báo chí nước nhà thiên về chiến thắng oanh liệt nhưng các số liêu cũng không nhất quán. Với lối viết kiểu tuyên truyền, bạn đọc ngầm hiểu, MIG 21 của Việt Nam từng bắn rơi 3 máy bay B52 (Wiki tiếng Việt phần về MIG21).
Cho đến gần đây, tôi vẫn luôn tin như vậy và thấy Wiki viết đúng.
Trường hợp đầu tiên do phi công Vũ Đình Rạng bắn trúng B-52 ngày 20 tháng 11 năm 1971. Chiếc này hỏng nặng, phải hạ cánh khẩn cấp xuống sân bay Nakhom-Phanom, Thái Lan.
Trường hợp thứ hai được phía Việt Nam ghi nhận là do phi công Phạm Tuân lái chiếc MIG21 bắn rơi tại chỗ B52 vào ngày 27 tháng 12 năm 1972.
Trường hợp thứ ba diễn ra ngay vào ngày hôm sau, 28 tháng 12 năm 1972, được ghi nhận do phi công Vũ Xuân Thiều sau khi đã bắn tên lửa mà không hạ được B-52, đã lao máy bay vào chiếc B-52.
Nhưng đọc lịch sử về chiến tranh, tài liệu của phía bên kia, thì thống kê về B52 bị bắn rơi, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ chỉ thừa nhận SAM2 bắn, không có chuyện MIG21 hạ pháo đài bay.
Nếu tra phần Wiki tiếng Anh, phần giới thiệu về MIG21 tương ứng, thì Phạm Tuân phóng tên lửa cách mục tiêu 2KM nhưng chưa chắc đã diệt được máy bay, bởi lúc đó có tên lửa SAM2 bắn cháy một B52, nên phi công Phạm Tuân lầm tưởng mình đã bắn trúng.
Đầu B52F. Ảnh: HM
Đầu B52. Ảnh: HM
Phía Việt Nam còn nói, ngày hôm sau, có máy bay của Vũ Xuân Thiều bắn B52 cháy ở mục tiêu quá gần nên đã bị nổ theo. Theo nguồn tin này, thì hôm đó một Phantom của Mỹ đã hạ một MIG21 và được cho là của Vũ Xuân Thiều.
Ngoài ra, 12 ngày đêm có nhiều tin khác nhau về số lượng B52 bị bắn hạ. Phía Việt Nam nói có 34 chiếc bị SAM2 và MIG21 bắn cháy, nhưng phía Mỹ chỉ công nhận có 15 chiếc.
Có lẽ Hoa Kỳ biết chính xác chiếc nào bị bắn rơi, chiếc nào bị lỗi kỹ thuật, phi công nhảy dù, cho máy bay tự lao xuống biển hay đất liền.
Như vậy Wiki tiếng Việt do người Việt viết, rất có thể bên chiến thắng biên tập theo hướng có lợi cho mình. Phần tiếng Anh do người Mỹ biên tập, dẫn nguồn khác nên đưa đến sự khác biệt.
Nguồn Wiki mở chỉ mang tính tham khảo nên người viết cần hết sức thận trọng.
Entry này không có ý định tranh cãi về MIG21 có bắn rơi B52 hay không, hoặc Phạm Tuân và Xuân Thiều, ai là người có công bắn B52 trên bầu trời Yên Bái.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng ngũ tướng không quân thời đó biết rõ hơn ai hết. Riêng Phạm Tuân biết chắc tên lửa của anh có đến mục tiêu hay không. Phía Mỹ cũng đủ tài liệu kỹ thuật để chứng minh thực tế trận chiến trên không những ngày ấy.
Nếu đưa ra bức ảnh những mảnh xác MIG21 trộn lẫn với B52 hay đuôi B52 bị MIG đâm chụp tại hiện trường thì chuyện phản lực lao vào B52 hay bị nổ  do bắn ở cự ly quá gần là có thật.
Trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, từng có nghi ngờ về chiếc xe tăng vào Dinh Độc lập, ai thảo văn kiện đầu hàng, ai là người cắm cờ trên Đồi Him Lam hay sau này ở Dinh Độc Lập, cuối cùng đã và sẽ được làm sáng tỏ, không thập kỷ này thì thập kỷ sau, hoặc thế kỷ sau. Vì sự thật chỉ có một và một mà thôi.
Như một sự trùng lặp, tôi thăm  Bảo tàng Không quân Georgia đúng vào ngày 26-12-2012, 40 năm sau trận Christmas Bombing và trước mắt tôi là chiếc B52 khổng lồ.
So với MIG21, dài 15m, sải cánh 7,5m, trọng lượng 8,7 tấn, B52 dài 50m, sải cánh 34m, trọng lượng kể cả bom đạn khoảng 120 tấn, thì MIG21 như chim sẻ bay cạnh chim ưng B52.
Nhìn bề ngoài B52 kín như một cục thép đen xì. Nếu MIG21 lao vào khối sắt này thì sẽ tan từng mảnh trước khi B52 có thể bị phá hỏng.
Quan sát B52 xong, tôi tưởng tượng nó bay ở độ cao 10km, với sự bảo vệ trùng trùng lớp lớp của các loại máy bay hộ tống, tên lửa tìm diệt, nhiễu radar dầy đặc, thì tôi hiểu SAM2 hạ B52 tại Hà Nội quả là phi thường, chưa có quốc gia nào làm nổi.
Còn MIG21 tiếp cận được và lao vào mục tiêu như  Vũ Xuân Thiều thì quả là thánh thần.  Dẫu vậy, hãy để cho lịch sử phán xét và tìm ra sự thật.
Mời các bạn xem vài ảnh về bảo tàng máy bay quân sự lớn nhất nhì thế giới ở Waner Robins cách Macon 50km.
Bài và ảnh Hiệu Minh. Macon 26-12-2012
Triển lãm máy bay quân sự ở Georgia. Ảnh: HM
Triển lãm máy bay quân sự ở Georgia. Ảnh: HM
F15 Cockpit. Ảnh: HM
F15 Cockpit. Ảnh: HM
Trong khoang phi công của máy bay phản lực. Ảnh: HM
Trong khoang phi công của máy bay phản lực. Ảnh: HM
Một góc gian triển lãm. Ảnh: HM
Một góc gian triển lãm. Ảnh: HM
Blue Bird. Ảnh: HM
Blue Bird. Ảnh: HM
B1 Bomber tàng hình. Ảnh: HM
B1 Bomber. Ảnh: HM
Khoang lái F105. Ảnh: HM
Khoang lái F105. Ảnh: HM
Khoang phi công F4 tìm diệt rada dùng tên lửa Shrike. Ảnh: HM
Khoang phi công F4 tìm diệt rada dùng tên lửa Shrike. Ảnh: HM
B2. Ảnh: HM
B2. Ảnh: HM
MIG 17. Ảnh: HM
MIG 17. Ảnh: HM
B52 ở Georgia. Ảnh: HM
B52 ở Georgia. Ảnh: HM
Xem thêm: Một ngày trên sân bay Andrews


 Phản ứng của Hoa Kỳ- Bắn rơi 3 Mig-21 của Bắc Việt 1972
 B-52 Tail-gunner Recalls MiG Downing (Vietnam)
Office of the Secretary of Defense Public Affairs ^ | 12.27.2010 | Air Force Staff Sgt. Don Branum

Posted on Monday, December 27, 2010 8:44:19 PM by sukhoi-30mki
News: Face of Defense: B-52 Tail-gunner Recalls MiG Downing
Office of the Secretary of Defense Public Affairs
Courtesy Story
By Air Force Staff Sgt. Don Branum
U.S. AIR FORCE ACADEMY, Colo. - If the landmarks here could speak, the B-52 Stratofortress bomber sitting near the academy's north gate would have quite a Vietnam War story to tell.
The crew of the "Diamond Lil," a B-52D, tail number 55-083, took off from Utapao Royal Thai Naval Airfield on Christmas Eve in 1972. The crew's mission was to bomb the North Vietnamese railroad yards at Thai Nguyen as part of Operation Linebacker II, which took place Dec. 18 to 29, 1972.
However, the Diamond Lil's crew faced enemy air power. A North Vietnamese MiG-21 raced to intercept the B-52. The bomber's tail gunner, Airman 1st Class Albert Moore, noticed the MiG's approach.
"I observed a target in my radar scope 8:30 o'clock, low at eight miles," Moore wrote six days later in his statement of claim for enemy aircraft destroyed. "I immediately notified the crew, and the 'bogie' started closing rapidly. It stabilized at 4,000 yards, 6:30 o'clock. I called the pilot for evasive action and the [electronic warfare officer] for chaff and flares.
"When the target got to 2,000 yards, I notified the crew that I was firing. I fired at the bandit until it ballooned to three times in intensity then suddenly disappeared from my radar scope at approximately 1,200 yards, 6:30 low. I expended 800 rounds in three bursts."
Another gunner aboard the B-52, Tech. Sgt. Clarence Chute, verified Moore's kill in his report.
"I went visual and saw the 'bandit' on fire and falling away," Chute wrote. "Several pieces of the aircraft exploded, and the fireball disappeared in the under-cast at my 6:30 position."
Moore's kill is one of only two confirmed kills by a B-52D in the Vietnam War and the last confirmed kill by a tail gunner in wartime using machine guns.
Following the MiG kill, Moore wrote, "On the way home I wasn't sure whether I should be happy or sad. You know, there was a guy in that MiG. I'm sure he would have wanted to fly home, too. But it was a case of him or my crew. I'm glad it turned out the way it did. Yes, I'd go again. Do I want another MiG? No, but given the same set of circumstances, yes, I'd go for another one." Moore died in 2009 at age 55.
Linebacker II brought the North Vietnamese government back to the negotiating table after earlier talks had broken down. A month after the campaign, North Vietnam and the United States signed a ceasefire agreement.
Diamond Lil continued serving long after the end of the Vietnam War. In all, the aircraft flew more than 15,000 hours and more than 200 combat missions between its commissioning in 1957 and its decommissioning in 1983. It came to the Air Force academy shortly after it was decommissioned.

TOPICS: Foreign Affairs; News/Current Events
KEYWORDS: aerospace; afa; b52; mig; usafa; vietnam
Today, the bomber is located near the north gate of the United States Air Force Academy, near Colorado Springs, Colorado.
(http://www.check-six.com/lib/Drinks/toast_2_the_Diamond_Lil.htm)
1 posted on Monday, December 27, 2010 8:44:23 PM by sukhoi-30mki

To: sukhoi-30mki
Bagged him a Russki pilot, eh?
2 posted on Monday, December 27, 2010 8:52:33 PM by NonValueAdded (Palin 2012: don't retreat, just reload)

To: 4mer Liberal
ping
3 posted on Monday, December 27, 2010 8:59:38 PM by T Minus Four ("Vital truths were restored by God through Joseph Smith. I just can't think of one")

To: sukhoi-30mki
Another reason to read the pages of Free Republic! Great articles to show those young aspiring aerospace warriors amongst us!
4 posted on Monday, December 27, 2010 9:06:29 PM by Tea Party Reveler

To: T Minus Four
Last combat usage On 18 December 1972, during Operation Linebacker II (also known as President Richard Nixon's, "Christmas Bombing"), USAF B-52 Stratofortresses of the Strategic Air Command conducted a maximum effort bombing campaign against North Vietnam. As the bombers approached the target, SAMs (Surface To Air Missiles) commenced to explode around the StratofortressesMcCarthy, p. 139. One bomber, callsign "Brown III", completed its bomb run, and while turning outbound was warned that Vietnam People's Air Force MiGs were now airborne. Brown III's tailgunner, SSGT Samuel O. Turner, locked onto a fast approaching MiG-21 interceptor and shot it down with a burst of his four .50 caliber machine guns. Turner became the first bomber tailgunner to shoot down an enemy aircraft since the Korean War. His B-52 Stratofortress, tail number 55-0676, is currently preserved and on display at Fairchild AFB, Spokane, Washington. On 24 December 1972, during the same bombing campaign, the B-52 Stratofortress "Diamond Lil", now on display at the United States Air Force Academy in Colorado, was attacking the railroad yards at Thai Nguyen. Rising for the interception was another NVAF MiG-21, Diamond Lil's tailgunner, Airman Albert E. Moore locked onto the MiG at 4,000 yards, and opened fire with his quad .50 caliber machine guns. Moore's kill was witnessed by another B-52 tailgunner, TSGT Clarence W. Chute, who observed the MiG-21 to fall away on fire. Moore was the last bomber tail gunner to shoot down an enemy aircraft with machine guns during war time.
The last time tail gunners themselves were ever used in combat were in the Gulf War of 1990-1991, where B-52Gs were used in air-strikes against Iraqi positions in Kuwait and Iraq. However after a controversial incident wherein a missile, locked onto the signal of the tail gunner's radar, struck a B-52, tail gunners started being deactivated on all B-52s starting on October 1, 1991. No air-to-air kills were made by B-52s in the Gulf War, and tail gunners have never been used in combat since.
http://reference.findtarget.com/search/Tail%20gunner/
5 posted on Monday, December 27, 2010 9:07:28 PM by KeyLargo

To: sukhoi-30mki
I knew a former Tail-gunner Vietnam veteran, and he told me that he felt that the position was outmoded and should have been abolished. Maybe if he had been more optimistic, he could have had results like mentioned here in this article.
6 posted on Monday, December 27, 2010 9:12:46 PM by Fractal Trader

To: Fractal Trader
Can’t blame him since the odds were stacked against him. That position was relevant in the era preceeding newer supersonic aircraft and SAMs.
7 posted on Monday, December 27, 2010 9:15:01 PM by sukhoi-30mki

To: NonValueAdded
Let’s see, he would have been 17 or 18, born in 54 if he died in 2009(died at age 55). Man he would have been barely out of high school and inducted into the Air Force...out of his schooling and into a tail gunner’s position by 12/72 when the incident happened. Not doubting the story, but man what an experience for a still then teen ager. Bet he grew up quick!
8 posted on Monday, December 27, 2010 9:22:15 PM by mdmathis6 (True enlightenment occurs when one discovers just how much like God, one is NOT!)

To: sukhoi-30mki
There is one other B-52 that downed a MiG. B-52D 56-0676, located on static display at Fairchild AFB, Spokane, Washington. It participated in the Operation Linebacker II and is credited as a MiG Killer on 18 December 1972 when Tail gunner SSgt Samuel O. Turner downed a MiG-21.
Like “Diamond Lil”, it’s painted black. It also has a red star near the tail, signifying the kill. However, it is not sitting on posts, but is on the ground on it’s wheels.
9 posted on Monday, December 27, 2010 9:31:19 PM by hoagy62 (.)

To: mdmathis6
Bet he grew up quick! There were many duties in the military that make you grow up real fast. Still holds true today.
I was 18 years old and had the knowledge and training to be able to arm and launch a ICBM with a nine megaton warhead on top. In the time of war I had the tools and knowledge to fix everything on that bird except for the warhead itself and the guidance internals.
10 posted on Monday, December 27, 2010 9:33:52 PM by OldMissileer (Atlas, Titan, Minuteman, PK. Winners of the Cold War)

To: T Minus Four
“Atta boy! Give ‘em the gun....”
11 posted on Monday, December 27, 2010 9:44:47 PM by 4mer Liberal

To: GreyFriar; Interesting Times
B-52 gunner at work.
12 posted on Monday, December 27, 2010 10:05:55 PM by zot

To: T Minus Four
Here’s my “Five O’Clock Folly” story from when I attended my first and last Pentagon press briefing in the early 70’s.
They give you a “Current Events” set of newspaper clippings of current news and in one of them, I notice that a MIG 21 had flown thru “a B-52 cell” (i.e. 3 planes.).
I openly asked Press Officer Jerry Friedheim (A nice guy with a bad job) whether the B-52 had fired on the MIG, and Jerry said, with a straightface, it was classified.
To which I replied: “The Communist pilot knew if he was fired on, the B-52 crewman knew if he fired on the MIG, the crew knew, the Air Force knew, Hanoi knew, so why can’t we know?”
My point was to find out if our B-52’s had A/A machine guns, esp. on the tails as it was reported that a number of models didn’t have MGs for self-defense (just as many F-4’s, esp. Recon models and Sidewinder models), didn’t - which pissed of a lot of pilots and may have cost us some of them).
I left the press briefing in a really bad mood and went up to Gen. Chappie James (also in the press office), and said, “this really is stupid”, to which big Chappie just smiled in acknowledgment.
Most press conferences are a waste of time which is why I never attended any in Vietnam at JUSPAO II. If I needed to know something, I knew who to go to for it.
Military Advisors were much more open and honest in answering questions that did not involve security.
13 posted on Monday, December 27, 2010 10:38:43 PM by MadMax, the Grinning Reaper

To: mdmathis6
Normal rank progression in the USAF is start as Airman Basic (E-1,) 6 months later automatically promoted to Airman (E-2,) then after one year time in service automatically promoted to Airman First Class (E-3.) Promotions based on merrit after that.
Since a B-52D normally carried a single tail gunner, but a second tail gunner was onboard (a TSgt,) I'd say he was still receiving on the job training for the aircrew position.
14 posted on Tuesday, December 28, 2010 12:09:11 AM by Yo-Yo (Is the /sarc tag really necessary?)

To: sukhoi-30mki
As one that was stationed at RTNAF U-Tapao, 635th Combat Support Group, during that timeframe, yes indeed, the story was known from fence to fence.
The B-52D’s only armament was a turret in the tail, complete with windows, consisting of FOUR Browning .50 caliber machine guns!
The Twelve Day Air War, also known as Operation Linebacker II, kept me very busy. In a previous post, I mentioned the helicopter dropping crushed popcorn packing to simulate snow, on the roof of the USO.
15 posted on Tuesday, December 28, 2010 5:17:10 AM by Prussianone

To: KeyLargo
The last time tail gunners themselves were ever used in combat were in the Gulf War of 1990-1991Correction: The last time tail gunners in the B-52 were ever used in combat were in Desert Storm in 1991. The gunner position was deleted from all remaining B-52s on 1 October 1991.
Currently there are tail/ramp gunners on CH-46s, CH-47s, CH-53s, MV-22s and CV-22s.

16 posted on Tuesday, December 28, 2010 7:57:23 AM by A.A. Cunningham (Barry Soetoro is a Kenyan communist)

To: zot
Thanks for the ping. Probably the last claim for an aerial gunner.
17 posted on Tuesday, December 28, 2010 8:52:25 AM by GreyFriar (Spearhead - 3rd Armored Division 75-78 & 83-87)

To: A.A. Cunningham
Were the guns removed in 1991, or did another crewmember (probably the EWO) take over the duties of gunner?
18 posted on Tuesday, December 28, 2010 10:07:33 AM by zot

To: KeyLargo; SkyPilot; flat; unkus; ExSoldier; sheik yerbouty; Nachum; 70th Division; Gapplega; ...
I talked to a former Vietnam POW who said that Nixon’s Christmas Bombing was felt in their POW camp. Our B-52s were bombing so extensively, that the ground was vibrating and the POWs could feel it. Not long after that, he said their treatment improved. Unknown to them at the time, they would soon be going home.
I never forgot that story and the brave hero that told it to me.
Here’s an awesome video for Freeper vets:
C-141 Tail Number 60177 was the last of the 285 C-141’s built by Lockheed to leave active service. She flew 100 POWs out of Hanoi on 12 February 1973, some of them tasting freedom for the first time in six years. Each POW put their shot-down date on the face of the oxygen panel during their flight to Clark Air Base in the Philippines. For her retirement ceremony, some of the POWs she brought home were brought back for the ceremony and one last flight by this gracious lady. Most of them are old men now but their enthusiasm, emotions, and excitement were evident during this flight and retirement ceremony. She was then flown to Dayton, Ohio where she will spend her final days in the Air Force Museum.
A very touching video - Be sure to turn on the sound.
http://www.youtube.com/watch?v=9BM09bxf3Ng
19 posted on Tuesday, December 28, 2010 3:21:43 PM by ExTexasRedhead

To: ExTexasRedhead
Thank you very much, ExTexasRedhead.
20 posted on Tuesday, December 28, 2010 5:16:52 PM by unkus

To: ExTexasRedhead
Thanks, ExTexasRedhead for the video! I actually played a part in the rescue of the POW’s out of Hanoi and haven’t seen that video. I was a C-141 jock. Thanks again.
I could tell you a lot of stories about our flights on the C-141. One was to Kiev USSR with a presidential support mission. Nixon had just gone to China as the first modern day President to do so and turned around and went to USSR to tell them they were still our friends. We flew out of Tehran, Iran to Kiev then back with the White House communication people. I have tie tacks, pins etc with Nixon’s signature on them. Perhaps some day they will be worth something.
If you are interested in details from that trip let me know, some are very funny.
Thanks
21 posted on Tuesday, December 28, 2010 10:55:22 PM by Balata (What part of 'WE THE PEOPLE' don't you understand Obama?)

To: ExTexasRedhead; Tijeras_Slim; FireTrack; Pukin Dog; citabria; B Knotts; kilowhskey; cyphergirl; ...
AVIATION PING
22 posted on Wednesday, December 29, 2010 6:19:06 AM by KeyLargo

To: ExTexasRedhead; Tijeras_Slim; FireTrack; Pukin Dog; citabria; B Knotts; kilowhskey; cyphergirl; ...
AVIATION PING
23 posted on Wednesday, December 29, 2010 6:20:12 AM by KeyLargo

To: Balata
As a little diversion video:
Putting a 737 together
This is some video to watch. Enjoy.
The paint job is interesting;
http://www.youtube.com/watch_popup?v=zKnsyYbfC60&feature=popular
24 posted on Wednesday, December 29, 2010 7:09:46 AM by KeyLargo

To: Balata; ExTexasRedhead
Thank you for a touching video and comments. I served out at Shemya, AFB, Aleutian Islands in 1977. (Still trying to figure out who I ticked off! ; ))
We were there to observe the Russians. Escort them home when they came into our airspace.
C-141 was an amazing aircraft. While at Mather AFB I'd watch the jets take off, almost defying the odds. They looked jut too darn big to fly.
Appreciate your service to our country.
Smart salute!