THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label KinhTe - SanXuat. Show all posts
Showing posts with label KinhTe - SanXuat. Show all posts

03 December 2013

Lúa gạo Việt Nam bị thất thế vì lợi ích nhóm



550x366xgao_4.jpg,q1385864884.pagespeed.ic.qizkNoB7FM
Việt Nam có thể nghiên cứu ra các giống lúa mới, song vẫn không thể đấu lại được với hạt giống của Trung Quốc. Hơn nữa, có những công ty là sân sau của quan chức nhập khẩu hàng Trung Quốc để cung cấp cho nông dân, và với lợi thế của mình họ đã bao trọn thị trường, thậm chí còn vận động nông dân không trồng giống lúa Việt Nam.
Việt Nam vốn tự hào là một nước nông nghiệp có nền văn hóa lúa nước lâu đời và nhiều năm nay đều là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, trớ trêu là trong vài năm trở lại đây, thống lĩnh trên thị trường phân bón và lúa giống lại là hàng Trung Quốc. Dù từ giới khoa học đến người nông dân đều đánh giá rằng hạt giống nhập từ Trung Quốc thường có chất lượng không cao, độ dinh dưỡng không bằng giống do Việt Nam sản xuất. Tuy nhiên, chúng lại có ưu thế là năng suất cao hơn nhiều lần hàng sản xuất trong nước và có thể thích ứng với nhiều mùa vụ cũng như đặc thù đất đai khác nhau.
Chính bởi vậy mà dù Việt Nam vẫn có những trung tâm nghiên cứu giống và đã cho ra đời thành công nhiều giống lúa mới song vẫn không thể địch nổi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc và thực tế là trên thị trường hiện có đến 50-70% lúa giống là từ đất nước này.
450x300xxk_gao.jpg.pagespeed.ic.qfPPSU9Hq5
Ngoài ưu thế về năng suất thì liệu lúa Trung Quốc còn có ưu thế nào để có thể xâm chiếm thị trường mạnh đến như vậy? Theo GS Võ Tòng Xuân trả lời trên báo Đất Việt thì đã có nhiều doanh nghiệp là sân sau của quan chức đứng ra nhập khẩu lúa giống Trung Quốc, với lợi thế “người nhà” các công ty này nhanh chóng giành được thị phần và phân phối hàng hóa. Thậm chí họ còn tư vấn nông dân quay lưng với giống lúa Việt Nam để chọn trồng lúa Trung Quốc.
Trong khi đó, người nông dân hiện vẫn tự do sản xuất, không có người chỉ đạo, tự lo cây giống, tự lo phân bón, thậm chí là tự lo nguồn tiêu thụ. Thế nên cũng dễ hiểu khi mà họ sẵn sàng phá bỏ lúa Việt để cấy trồng lúa giống Trung Quốc vì đơn giản là dễ bán và thu lợi nhiều hơn. Trong chuyện này, người nông dân không có lỗi, họ chẳng làm gì sai với luật định, nhưng nó lại cho thấy vai trò của quản lý Nhà nước ở đây quá mờ nhạt khi chỉ đưa ra những chủ trương , chính sách chung chung và chỉ biết yêu cầu giới khoa học phải nghiên cứu, nghiên cứu hơn nữa. Quả thực các nhà khoa học của chúng ta bấy lâu vẫn miệt mài nghiên cứu, mà ngoài lý do đam mê khoa học thì họ cũng cần có những dự án nghiên cứu thì mới có thu nhập, và có thể sống được trong thời buổi kinh tế khắt khe này. Song hầu hết các giống cây mới dù thành công hay chưa bằng người cũng đều được đánh dấu, đăng ký tên, bản quyền, song lại cất vào két lưu giữ như một tài liệu quý. Các hạt giống được đưa vào bảo quản để tiện bề cho việc tiếp tục nghiên cứu.
Các doanh nghiệp thu gom thì cũng chỉ biết làm tốt phận sự của mình là cứ có đơn hàng là đi gom mua, và chỉ chọn hàng đẹp, hàng rẻ, rồi sơ chế, đóng bao xuất khẩu, nhận tiền, chẳng cần quan tâm đến chuyện giống gì, nuôi cấy ra sao, thu hoạch thế nào. Họ đã làm đúng phận sự, đúng quy trình.
Vậy hóa ra chẳng ai lo cho nông dân ngày ngày vẫn bán mặt cho đất, bán lưng cho giời. Họ chẳng có quyền lực, cũng chẳng có nhiều tri thức để mà nghiên cứu, họ cũng không có tiền để mà đầu tư lớn, chỉ biết trông theo thời tiết, thuận thì lúa tốt bán đi cũng đủ sống qua ngày, chẳng may năm nào thiên tai thì cứ đói dài. Đến ngay như Hội Nông dân, tổ chức được cho là sẽ hỗ trợ cho nông dân trong nuôi trồng và cuộc sống thì vẫn chỉ biết tổ chức các hội thảo, lập phong trào và làm báo cáo.
Chỉ cần điểm lại những điều đó thôi cũng đủ thấy, lời đánh giá của GS Võ Tòng Xuân rất xác đáng rằng việc phát triển ngành lúa gạo còn rời rạc từng ban ngành, mạnh ai người ấy lo trong khi người nông dân cần nguyên một chuỗi giá trị nhưng giống, kỹ thuật, chế biến, tiêu thụ với mức giá tốt. “Nếu cứ để nông dân tự phát thì không đời nào chấm dứt tình trạng này, không thể có sản phẩm độc đáo trên thị trường”. Đáng lo ngại hơn là dù chưa đem lại nhiều hiệu quả và lợi nhuận song miếng bánh nhỏ bé ấy cũng đang bị các nhóm lợi ích nhòm ngó, tranh giành.
Ở miền Tây nơi được coi là vựa lúa của Việt Nam, bà con nông dân cũng không mấy để ý đến nguồn gốc giống mà chỉ quan tâm loại lúa nào dễ trồng năng suất cao, bởi vậy, giống lúa ở đây chủ yếu là xuất xứ từ Trung Quốc. Khi thu hoạch, nông dân bán thóc ngay tại ruộng cho các thương lái. Điều đặc biệt là chính các hộ gia đình cũng không ăn thóc gạo do mình trồng, mà thường mua loại gạo ngon ở vùng khác.
T.H
THEO SỐNG MỚI


02 December 2013

Bán gạo ngày càng khó



Chủ Nhật, 01/12/2013 20:36

Việt Nam vừa ký hợp đồng xuất khẩu 500.000 tấn gạo sang Philippines với giá được VFA tiết lộ là khá tốt. Tuy nhiên, ít ai biết để có hợp đồng này, doanh nghiệp phải dùng “chiêu” mới thắng được

Hợp đồng xuất khẩu nửa triệu tấn gạo có được xuất phát từ việc đất nước Philippines bị cơn bão Haiyan tàn phá hồi đầu tháng 11 vừa qua. Ước có khoảng 4 triệu người dân Philippines gặp khó khăn về lương thực nên chính phủ phải mở thầu nhập khẩu gạo khẩn cấp.
Quen kiểu làm “bao cấp”
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), ngoại trừ Campuchia bỏ cuộc ngay từ đầu vì không thể đáp ứng các điều kiện khắt khe mà nước chủ nhà đưa ra, cuộc đấu trí giành giật từng lô gạo trong gói thầu này chỉ còn lại giữa Việt Nam và Thái Lan. Trong khi Thái Lan là nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đang tồn kho hàng chục triệu tấn, thời gian qua giảm giá gạo 5% tấm xuống thấp hơn của Việt Nam nhằm đẩy bớt hàng nên họ rất muốn giành hợp đồng này để giải quyết đầu ra cho năm sau. Do đó, để có được gói thầu này, ngoài một chút lợi thế kinh nghiệm từng là đối tác cung cấp gạo lâu năm cho Philippines, các doanh nghiệp (DN) Việt Nam phải dùng đến “chiêu” mới có thể thắng được.
Năm 2012 và 2013, có thời điểm gạo Việt Nam bán rẻ nhất thế giới khiến nông dân thua lỗ Ảnh: QUỐC HUY
Nói như vậy để thấy việc xuất khẩu gạo trong tình hình thế giới khủng khoảng thừa lương thực đang gặp rất nhiều khó khăn. Nếu như cách đây 2-3 năm, việc trúng thầu một lúc nửa triệu tấn gạo ở các thị trường truyền thống như Philippines, Malaysia, Indonesia không có gì khó, lần nào DN Việt Nam tham gia cũng thắng thầu với giá bán khá cao. Lợi thế mà DN có được trong những lần dự thầu tập trung là dựa vào các mối quan hệ cấp chính phủ, thậm chí là có cả các “chiêu” ngoại giao của hai đối tác.
Nhưng vài năm gần đây, tình hình thay đổi rõ rệt, sau các vụ bê bối nghi vấn nhận hối lộ, nghi vấn giá gạo thầu tập trung cao hơn thương mại nên các nước dần dần bỏ thầu tập trung, giao cho DN tư nhân đứng ra mua gạo. Chính sự thay đổi này cộng với thị trường gạo thế giới liên tục xảy ra khủng hoảng thừa, các nước xuất khẩu phải giảm giá để cạnh tranh, còn quốc gia nhập khẩu từng bước giảm lệ thuộc bằng việc đầu tư mạnh vào sản xuất… khiến DN Việt Nam trở tay không kịp. Trước đây, các hợp đồng tập trung do Vinafood 1 và Vinafood 2 tham gia, sau đó chia lại cho các DN. Thế nên mới có tình trạng trong thời gian dài, DN Việt Nam chỉ cần ngồi một chỗ cũng có hợp đồng. Nay hợp đồng tập trung ít dần, DN phải bươn chải tìm thị trường nhưng lại hạn chế về năng lực đàm phán thương mại quốc tế (quan hệ, giao tiếp, uy tín…) nên thường bị khách hàng ép giá. Năm 2012 và 2013, có thời điểm giá gạo Việt Nam bán rẻ nhất thế giới khiến nông dân thua lỗ.
Phải thay đổi chiến lược
Trong bối cảnh thế giới thừa lương thực, gạo Việt Nam phải cạnh tranh quyết liệt với các nước xuất khẩu lớn như Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan, Việc xuất khẩu được hơn 8 triệu tấn gạo trong năm 2013 là nỗ lực đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đánh giá về thị trường xuất khẩu năm tới, các chuyên gia lương thực cho rằng “cơ hội may mắn” ở thị trường Trung Quốc sẽ không còn. Trong năm 2013, Trung Quốc mua của Việt Nam khoảng 3,5 triệu tấn gạo, trong đó có 2 triệu tấn mua chính ngạch. Có thể từ tháng 2 năm sau, Trung Quốc vẫn có nhu cầu mua gạo chính ngạch để bổ sung dự trữ quốc gia nhưng sẽ cân nhắc bởi hiện gạo cùng phẩm cấp 5% tấm như Việt Nam, Thái Lan đang xả kho dự trữ khoảng trên 10 triệu tấn, bán với giá chỉ 385 USD/tấn, thấp hơn Việt Nam từ 10-15 USD.
Theo ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch VFA, thị trường Trung Quốc luôn tiềm ẩn rủi ro nên từ năm 2014, Việt Nam phải thay đổi chiến lược khi xúc tiến thương mại tại thị trường này. “Xúc tiến thương mại không chỉ dừng ở mục tiêu bán được bao nhiêu gạo mà phải tìm hiểu xem nhu cầu thị trường này cần chủng loại nào, chất lượng gạo của mình có vấn đề gì không, có hợp với khẩu vị của họ không?” - ông Phong nói.
Đối với các thị trường truyền thống châu Á, sự thay đổi trong cách tiếp cận phải bắt đầu từ việc cơ cấu lại chất lượng gạo. Nông dân cần sản xuất ra nhiều loại gạo thơm, gạo nếp và gạo chất lượng cao. Năm 2013, nhờ vào lợi thế cạnh tranh so với gạo Thái Lan, DN Việt Nam đã lấy được thị phần của DN Thái phân khúc gạo thơm ở một số thị trường như Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc…nên mới xuất khẩu được hơn 800.000 tấn với giá cao.
Với thị trường châu Phi, cơ hội gần như bó hẹp bởi hiện nay, gạo có phẩm cấp cùng loại với Việt Nam là Thái Lan với giá bán thấp hơn. Ngoài ra, gạo Ấn Độ, Pakistan cũng có lợi thế về giá nhờ cự ly vận chuyển gần… Do đó, trong bối cảnh thế giới khủng hoảng thừa lương thực, ngoại trừ đơn hàng có sẵn 700.000 tấn từ năm 2013 chuyển qua, hầu như cơ hội bán hết số gạo đông xuân ngay trong nửa đầu năm 2014 (dự kiến khoảng 3,5 triệu tấn) phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực đàm phán, tiếp thị của DN.
Năm 2013, VFA dự kiến Việt Nam chỉ có thể xuất khẩu khoảng 6,6-6,7 triệu tấn gạo, giảm 13% về lượng và 18% giá trị. Nếu cộng thêm hơn 1,5 triệu tấn gạo bán tiểu ngạch sang Trung Quốc thì năm nay Việt Nam xuất khẩu tổng cộng hơn 8 triệu tấn gạo.
Đặng Hoàng

27 November 2013

Quýt Trung Quốc tràn ngập thị trường Hà Nội

Những quả quýt nhỏ màu vàng tươi, còn nguyên lá, được bán với giá khá mềm chỉ 20.000- 25.000 đồng/kg đang được nhiều người chọn lựa. Một số tiểu thương quảng cáo là quýt Thái hoặc quýt Sài Gòn, song thực chất đều là hàng Trung Quốc và chỉ có giá khoảng 150.000 đồng/thùng 15kg tại chợ đầu mối.
Quýt Trung Quốc lấy ra khỏi thùng lá vẫn tươi và mã đẹp. (ảnh:phunutphcm)
 
Trên các tuyến phố của Hà Nội, không khó để thấy rất những xe hàng rong, gánh hàng bán đầy quýt nhỏ màu vàng. Những sạp hoa quả hầu hết cũng có loại quả này. Quýt nhỏ có vị ngọt, thanh, mã đẹp nên được nhiều người ưa chuộng. Khi hỏi về xuất xứ thì một số người bán cho biết đây là quýt Sài Gòn, quýt Thái… Nhưng nhiều người bán rong thẳng thừng cho biết đây là quýt Trung Quốc hàng Sài Gòn, hàng Thái không thể có giá bèo như vậy.
 
Đang là thời điểm cam, quýt đang vào chính vụ nên giá cả đều giảm hẳn so với đầu mùa. Nếu đầu mùa cách đây chừng 1 tháng, quýt ngọt loại nhỏ có giá 30.000-35.000 đồng/kg thì hiện tại giá chỉ còn 20.000- 25.000 đồng/kg. Thậm chí vào buổi tối nhiều hàng bán rong còn bán phá giá xuống 15.000-17.000 đồng/kg. 
 
Các chủ hàng cho biết, năm nay quýt được mùa lớn nên lượng hàng từ Trung Quốc chuyển về Việt Nam cũng nhiều hơn và giá cũng rẻ hơn hẳn. Nếu mọi năm giá vào chính vụ giá quýt Trung Quốc vẫn được bán tại chợ đầu mối với mức 190.000- 210.000/thùng 15kg  thì năm nay giá chỉ còn 140.000-160.000/thùng 15kg.
 
Vào mỗi đêm tại chợ đầu mối Long Biên có khá nhiều xe tải chở quýt ngọt từ Trung Quốc về. Quýt sẽ được đựng trong những thùng xốp trắng loại 15kg. Trên từng thùng đều có dán băng dính đỏ có chữ Trung Quốc.  Hàng sẽ được lấy và trả tiền theo thùng chứ không được mở ra xem hay chọn lựa.
 
Giá bình dân nên quýt ngọt đang được nhiều người tiêu dùng chọn lựa. (ảnh:vietpress.vn)
 
Lấy hàng theo cách này sẽ khá rẻ chỉ 140.000-160.000/thùng. Tuy nhiên, cách lấy hàng này cũng có phần “may rủi”, nếu may sẽ lấy được những thùng quả đẹp, ngon nếu xui có thể gặp phải những thùng bị hỏng, héo khó bán. Tuy nhiên với giá quá mềm chỉ xấp xỉ 10.000 đồng/kg. Nếu bán với giá 20.000- 25.000 đồng/kg người bán dễ dàng bán lãi gấp đôi, gấp rưỡi. Các hộ kinh doanh còn chọn cách mua bao cả thùng, về chọn hàng đẹp để bày sạp, còn hàng xấu bán hạ giá hoặc cho những gánh hàng rong buôn lại với giá thấp hơn.
 
Trước việc nhập nhèm về nguồn gốc xuất xứ của loại trái cây này, nhiều người tiêu dùng cảm thấy bức xúc và lo ngại nên tránh mua. Nỗi nghi ngại không phải là vô cơ khi mà thời gian qua hầu hết các trái cây nhập qua đường tiểu ngạch để phát hiện có tồn dư hóa chất. Hơn nữa, những quả quýt này luôn có vỏ màu vàng bóng, cuống lá còn tươi xanh, thậm chí nhiều quả khi ăn múi đã bị mềm có dấu hiệu ủng nhưng vỏ và lá vẫn tươi nguyện nên việc chúng được tẩm ướp chất bảo quản là điều khó tránh khỏi. Với tình trạng trái cây đẹp mã nhờ thuốc và giá bèo này thì hàng Trung Quốc đang đe dọa hàng Việt khi hầu hết các trái cây trồng trong nước không có năng suất cao bằng và cũng kém bắt mắt, cũng như giá cả có độ chênh khá cao.
 
Vĩ Thanh

Trung Quốc ‘nuốt chửng’ gạo Việt

Hơn 30% lượng gạo xuất khẩu của nước ta trong 11 tháng năm 2013 là xuất sang Trung Quốc. Ngoài ra, một lượng không nhỏ gạo được thương lái nước này tiến hành thu mua theo đường tiểu ngạch.
Trung Quốc nhập khẩu gần 1/3 số lượng gạo của Việt Nam. Ảnh: Tiền Phong
 
Giữa lúc hạt gạo Việt Nam lâm vào tình cảnh bi đát khi sản lượng xuất khẩu 11 tháng năm 2013 giảm hơn 16% về lượng và gần 19% giá trị so với cùng kỳ năm 2012, thì Trung Quốc lại xuất hiện “đúng lúc” khi trở thành thị trường tiêu thụ một lượng lớn nông sản của Việt Nam rất có nguy cơ bị “ế”. Trong toàn bộ lượng gạo xuất khẩu theo đường chính ngạch của nước ta, có đến 30% là xuất sang thị trường Trung Quốc, trị giá khoảng 800 triệu USD, tăng hơn 5% về lượng, song lại chỉ gia tăng hơn 2% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái -  một chuyện hết sức dễ hiểu khi Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) thừa nhận các doanh nghiệp Việt Nam nhiều lúc phải chấp nhận bán giá thấp, bán lỗ để có hợp đồng!
 
Không chỉ vậy, còn một khối lượng không nhỏ gạo nước ta được xuất sang thị trường Trung Quốc theo đường tiểu ngạch. Trong năm qua rất nhiều lần các thương lái nước này tiến hành thu mua ồ ạt gạo tại nhiều tỉnh miền Nam. Theo VFA ước tính lượng gạo xuất khẩu tiểu ngạch qua Trung Quốc trong năm nay có thể lên đến 1,5 triệu tấn.
 
Điều này chỉ ra một thực tế hết sức đáng lo ngại cho câu chuyện xuất khẩu gạo của Việt Nam. Dù buôn bán tiểu ngạch không bị coi là hoạt động bất hợp pháp nhưng lại là một dạng thị trường độc quyền mua, khi tư cách lựa chọn, trả giá, có nhận hàng hay không,… gần như hoàn toàn thuộc về bên mua - cụ thể ở đây là thương lái Trung Quốc. Chỉ cần quanh co viện cớ “khách quan”, hoặc lỗi là từ bên bán, là bên mua hoàn toàn có thể phủi sạch sẽ trách nhiệm, trong khi bên bán – Việt Nam – lại không hề được bảo hộ khi không có hợp đồng ràng buộc. Nhờ đặc quyền đặc lợi này, bên mua luôn thừa cơ “ép giá”, tự tiện lựa chọn hình thức chỉ nhận ký hàng, thanh toán tiền sau, nếu đồng ý thì họ mới mua, bằng không thì chỉ còn cách chở hàng về. Mà sau đó, nếu con nợ “lật kèo” hay biến mất, thì chủ nợ cũng chỉ biết ôm một đống “nợ xấu” mà không hề xuất hiện một VAMC nào đứng ra giúp đỡ.
 
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đã phải cảm thán rằng: “Riêng cách mua nông sản không những làm cho Việt Nam thiệt thòi mà nhiều khi còn gây khó bằng cách là, có khi họ đưa giá lên rất cao mua ào ạt, rồi đùng một cái dừng lại không mua tiếp nữa, làm cho nông dân khi lỡ sản xuất ra rồi không làm thế nào được. Thế rồi những thủ tục khó khăn tạo ra ở biên giới, như là thanh long hiện nay đang đọng lại ở biên giới chẳng hạn, là những cách gây khó cho nông sản Việt Nam” (báo Đất Việt). Doanh nghiệp, tiểu thương một khi bị ép giá, thì chính bản thân những người này, cũng quay ngược trở lại “ép” chính nông dân Việt Nam. Thế nên, báo cáo của Ngân hàng Thế giới và Oxfam đã chỉ ra rằng thu nhập của người trồng lúa tại Việt Nam rất thấp. Chẳng hạn ở đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước, thu nhập trung bình của người nông dân chỉ vào khoảng 535.000 đồng/tháng, chưa chạm đến mức lương tối thiểu, buộc họ phải làm thêm nhiều nghề tay trái mới mong có nguồn thu để đảm bảo cuộc sống hàng ngày.
 
Điều đáng nói là, dù đã nhiều lần nếm trái đắng, song việc các doanh nghiệp, tiểu thương Việt Nam vẫn chấp nhận chọn con đường đầy mạo hiểm này lại có nguyên nhân xuất phát từ chính nội bộ Việt Nam. Một doanh nghiệp tại khu kinh tế cửa khẩu Tân Thanh nói với tờ Thanh Niên: Nhiều tiểu thương, doanh nghiệp ngại rắc rối thủ tục “chính ngạch” nên chọn cách bán tiểu ngạch khi chỉ cần một tờ khai, chịu phí biên mậu là có thể xuất được hàng.
 
Bà Lê Thanh Ngọc - Giám đốc một công ty ở tỉnh Bình Thuận, người có thâm niên buôn bán trong lĩnh vực tiểu ngạch với Trung Quốc - còn cho biết đối tác Trung Quốc ít khi chọn nhập theo kiểu chính ngạch với Việt Nam, mà khi có hợp đồng chính ngạch thường thì họ cũng chỉ lấy 50%, còn lại doanh nghiệp phải mang về nước bán với giá thấp, dễ lỗ. Không những vậy, tư tưởng “tiểu nông” ám ảnh từ trên xuống dưới đến độ ông Trương Thanh Phong - Chủ tịch VFA – còn nói: “Nếu không nhờ xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc, tình hình xuất khẩu gạo năm nay chưa biết sẽ xảy ra chuyện gì”. Khi gạo Thái Lan có dấu hiệu xuống dốc, rất có thể Việt Nam sẽ duy trì được cương vị nhà xuất khẩu gạo lớn nhất trên thế giới, thế nhưng, nông dân – những người góp công lớn làm nên cái vị trí đó – bao đời vẫn cứ “trông trời, trông đất, trông mây, trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm…”
 
Vĩ Thanh

25 November 2013

Sẽ đa dạng hóa sản phẩm từ gạo, cá tra



25/11/2013 04:57 (GMT + 7)
TT - Hôm nay 25-11, Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL (MDEC) năm 2013 khai mạc tại tỉnh Vĩnh Long. Trong đó, lãnh đạo các tỉnh sẽ tập trung bàn các giải pháp nhằm nâng cao giá trị hạt gạo, con cá... vùng ĐBSCL.
Chế biến cá tra xuất khẩu tại Công ty CP Gò Đàng ở KCN An Hiệp, tỉnh Bến Tre - Ảnh: T.Hằng

Ông Dương Quốc Xuân - Ảnh: V.TR.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Dương Quốc Xuân, phó Ban chỉ đạo Tây Nam bộ - đơn vị chủ trì tổ chức MDEC, cho biết:
- Trọng tâm của MDEC năm nay là nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế xanh và bền vững trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đồng thời thực hiện công tác an sinh xã hội. Hiện đã vận động được 645 tỉ đồng từ các ngân hàng và doanh nghiệp để đầu tư xây dựng một số công trình phúc lợi công cộng, xây dựng nhà ở cho gia đình chính sách, hộ nghèo. Tại sự kiện này chúng tôi sẽ công bố danh mục 138 dự án trọng điểm kêu gọi đầu tư vào vùng ĐBSCL với tổng vốn hơn 400.000 tỉ đồng và gần 2 tỉ USD. Các tỉnh sẽ trao giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án trọng điểm mang tính đột phá của vùng.
Các hội thảo, diễn đàn tại MDEC chắc chắn sẽ tiếp tục tăng cường liên kết, phát huy thế mạnh của cả vùng ĐBSCL, nhất là các lợi thế chung như: hạ tầng giao thông, thủy lợi, sân bay, bến cảng và các sản phẩm chủ lực mang thương hiệu chung gồm lúa gạo, trái cây, thủy sản và du lịch.
* Vấn đề mà người dân ĐBSCL lo lắng nhất hiện nay là chất lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật bị thả nổi, trong khi giá luôn tăng khiến lợi nhuận ngày càng ít?
- Các hội thảo tại MDEC sẽ bàn sâu vấn đề này vì chúng tôi xác định đây là chuyện lớn của ĐBSCL hiện nay. Các cơ quan chức năng trung ương và địa phương sẽ bàn phương pháp quản lý chất lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhất là làm sao để nông dân được cung ứng trực tiếp từ nhà sản xuất, không qua các tầng nấc trung gian để đảm bảo chất lượng và giá hợp lý.
Chúng tôi tiếp tục ghi nhận các ý kiến góp ý đề xuất trung ương khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý để “vá” những kẽ hở vốn đang bị doanh nghiệp làm ăn gian dối lợi dụng gây thiệt hại cho nông dân. Ngoài ra sẽ đề nghị các địa phương chú trọng thành lập hợp tác xã nông nghiệp và vận động nông dân tham gia tổ chức này. Thực tế ở nhiều địa phương, rõ nhất là tại Đồng Tháp, cho thấy chỉ có ở hợp tác xã mới liên kết doanh nghiệp và nông dân với nhau chặt chẽ, cùng thực hiện quy trình khép kín “cung ứng - tổ chức sản xuất - bao tiêu sản phẩm” có lợi cho các bên.
Các hoạt động chính tại MDEC - Vĩnh Long 2013
Ngày 25-11: Hội nghị xúc tiến đầu tư và an sinh xã hội vùng ĐBSCL; Hội thảo liên kết phát triển đô thị vùng ĐBSCL theo hướng kinh tế xanh.
- Ngày 26-11: Diễn đàn doanh nghiệp vùng ĐBSCL, TP.HCM và TP Hà Nội; Hội thảo phát triển và nhân rộng mô hình sản xuất nông nghiệp xanh vùng ĐBSCL; Hội nghị trao đổi giữa UBND 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL và TP.HCM. Riêng triển lãm hội chợ kéo dài từ ngày 25 đến 28-11.
* Cá tra vốn là sản phẩm độc đáo và gần như độc quyền của VN, nhưng hiện nay ngành sản xuất và chế biến cá tra đang có xu hướng tụt lại cả về sản lượng lẫn chất lượng. Diễn đàn lần này có đề cập vấn đề trên?
- Chúng tôi rất hiểu điều này và đã có nhiều việc làm cụ thể để vực dậy ngành sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá tra. Ban chỉ đạo Tây Nam bộ đã cùng các tỉnh thành lập Hiệp hội Cá tra VN đang xây dựng dự thảo nghị định sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá tra trình Chính phủ. Nghị định sẽ được ban hành trong thời gian tới và sẽ làm thay đổi diện mạo của ngành này.
Tới đây không thể tỉnh nào, vùng nào muốn nuôi thì nuôi, doanh nghiệp nào muốn xuất khẩu thì xuất khẩu lộn xộn như hiện nay. Tất cả đều có quy định chặt chẽ. Những doanh nghiệp không có nhà máy chế biến, không ký hợp đồng tiêu thụ cá tra của nông dân sẽ không được tham gia xuất khẩu. Tình trạng tranh mua, tranh bán phá giá làm sụt giảm uy tín cá tra VN cũng sẽ chấm dứt. MDEC lần này sẽ bàn bạc, định hướng cho các tỉnh, các doanh nghiệp đầu tư sản xuất những phụ phẩm của cá tra như da cá, dầu cá... thành những sản phẩm có giá trị gia tăng chứ không chỉ chăm chăm vào sản phẩm cá philê.
* Tại MDEC 2013 này sẽ công bố danh mục kêu gọi đầu tư 138 dự án với nhu cầu vốn hơn 400.000 tỉ đồng và gần 2 tỉ USD. Cụ thể sẽ tập trung thu hút vào nhóm lĩnh vực nào, thưa ông?
- Các dự án cần thu hút đầu tư bao trùm trên tất cả các lĩnh vực mà ĐBSCL cần. Có cả dự án đầu tư hạ tầng khu - cụm công nghiệp, có dự án kêu gọi đầu tư hạ tầng giao thông để kết nối các tỉnh, các vùng nguyên liệu nông thủy sản với nhà máy. Trong số này có rất nhiều dự án đầu tư nhà máy chế biến lúa gạo chất lượng cao, kho trữ lúa gạo, nhà máy chế biến thủy sản, nhà máy chế biến các phụ phẩm từ cá tra, nhà máy chế biến, sơ chế và đóng gói trái cây xuất khẩu...
V.TR. - THÚY HẰNG thực hiện

24 November 2013

Rừng sản xuất chủ yếu vào tay các 'đại gia'



Chủ nhật, 2013-11-24 02:47:11 - Nguồn: ThanhNien.com.vn
Theo Câu lạc bộ lâm nghiệp tỉnh, do thiếu đất sản xuất nên người dân, nhất là ở miền núi, phải phá rừng làm nương rẫy hoặc trồng rừng. Theo kế hoạch của tỉnh, đến năm 2014 sẽ có 44.418 ha rừng tự nhiên được giao cho các hộ, nhóm hộ hoặc cộng đồng dân cư. Đa số rừng tự nhiên quy hoạch là rừng sản xuất và rừng nghèo kiệt.
Phát biểu tại hội thảo, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm Hoàng Phụng cho biết hiện toàn tỉnh có hơn 315.897 ha đất lâm nghiệp. Phần lớn diện tích rừng (sản xuất) trên địa bàn tỉnh tập trung vào tay các “đại gia”, có người 500 - 700 ha, lực lượng kiểm lâm nhiều người có vài ba chục héc ta... 
Đình Toàn

Vì sao ngành mía đường ‘dậy sóng’ trước HAGL ?



Thứ bảy, 2013-11-23 11:16:11 - Nguồn: ThanhNien.com.vn
Tiếp theo công văn kiến nghị Thủ tướng Chính phủ không cho phép Hoàng Anh Gia Lai đưa đường từ Lào về Đồng Nai tinh luyện để xuất đi Trung Quốc, hôm qua VSSA đã gặp gỡ báo chí để “tố” thêm. Trong khi đó nhiều chuyên gia đã chỉ ra những lợi ích trước mắt và lâu dài.
Vì sao ngành mía đường ‘dậy sóng’ trước HAGL ?Nhà máy đường HAGL - Attapeu tại Lào - Ảnh: Q.Thuần
Như Thanh Niên đã thông tin, Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đang có ý định bán khoảng 30.000 - 40.000 tấn đường được sản xuất tại nhà máy ở Attapeu (Lào) cho Công ty CP đường Biên Hòa để tinh luyện và xuất khẩu theo đường tiểu ngạch sang Trung Quốc. Ngay lập tức, Hiệp hội Mía đường VN (VSSA) đã phát công văn kiến nghị Thủ tướng Chính phủ không cho phép.
VSSA: “Đường của Lào”
Tại cuộc họp với báo chí hôm qua 22.11, VSSA cho rằng: “Nếu hỗ trợ cho HAGL theo đề nghị của Bộ Công thương thì chỉ mang lại lợi ích cho HAGL và đường Biên Hòa, nhưng gây thiệt hại cho 40 nhà máy đường trong nước cùng hàng triệu nông dân trồng mía và hàng vạn công nhân lao động tại các nhà máy”.
VSSA cho rằng VN đang thừa đường rất lớn, niên vụ 2012/2013 thừa 400.000 tấn đường, năm 2013/2014 dự kiến lượng dư thừa sẽ lên đến 600.000 tấn, bên cạnh đó còn bị mất 30% thị phần vào nguồn đường nhập lậu. Từ đầu năm đến nay các nhà máy đường trong nước chật vật xuất khẩu, bán tháo đường qua cửa khẩu phụ Bản Vược và đây là lối thoát duy nhất cho lượng đường thừa của VN. Nếu chấp nhận kế hoạch của HAGL thì đã “vô tình để đường nước ngoài có cơ hội lấn chiếm xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc”.
 
Bản chất của vấn đề này là tốt, tạo công ăn việc làm và thậm chí tạo cạnh tranh cho doanh nghiệp nhưng để kiểm soát được lượng đường sau tinh chế có xuất khẩu hết hay không thì là ở cơ quan quản lý, không phải việc của doanh nghiệp. Hội nhập thì không thể dùng biện pháp hành chính để cưỡng cấm một cách riêng lẻ được
Ông Văn Đức Mười, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM
Ông Đỗ Thanh Liêm, Phó chủ tịch VSSA (Tổng giám đốc Công ty mía đường Khánh Hòa) nói: “Nếu Chính phủ đồng ý cho Đường Biên Hòa nhập đường nguyên liệu của HAGL để tinh chế rồi xuất khẩu thì cũng phải cho các nhà máy khác làm điều này. Lúc đó chúng tôi chỉ cần mua đường thô từ Thái Lan về chế biến, không cần quan tâm đến nông dân trồng mía nữa. Chúng tôi không phải cố bảo vệ cho lợi ích mỗi nhà máy mà là bảo vệ quyền lợi của hàng triệu nông dân. Hơn nữa theo thỏa thuận của VN và Trung Quốc, chính sách biên mậu khu kinh tế cửa khẩu chỉ cho phép mua bán trao đổi hàng hóa do nhân dân hai nước sản xuất ra. Nếu cho nhập khẩu đường của Lào rồi tinh chế xuất khẩu qua cửa khẩu mậu biên là vi phạm nguồn gốc hàng hóa, phía Trung Quốc có đủ cơ sở để phạt hoặc đóng biên đối với mặt hàng đường”.
Trong khi đó, ông Văn Đức Mười, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực - Thực phẩm TP.HCM, nhận định: “Bản chất của vấn đề này là tốt, tạo công ăn việc làm và thậm chí tạo cạnh tranh cho doanh nghiệp (DN), nhưng để kiểm soát được lượng đường sau tinh chế có xuất khẩu hết hay không thì là ở cơ quan quản lý, không phải việc của DN. Hội nhập thì không thể dùng biện pháp hành chính để cưỡng cấm một cách riêng lẻ được”.
Bộ Tài chính: “Chúng tôi quản được tận gốc”
Trên thực tế, theo thông tin từ Tổng cục Hải quan, tính trong năm 2011 - 2012 và 6 tháng đầu năm 2013, lực lượng Hải quan đã phát hiện, xử lý 102 vụ vi phạm trong tạm nhập tái xuất mặt hàng đường, với khoảng 13.805 tấn hàng vi phạm, xử phạt vi phạm hành chính 2,432 tỉ đồng.
Xuất phát từ thực trạng này nên vừa qua Bộ Tài chính kiên quyết bảo vệ quan điểm không bổ sung đường vào mặt hàng được tạm nhập tái xuất. Tuy nhiên, những hàng rào này theo một lãnh đạo Bộ Tài chính là chưa thực sự phù hợp khi căn cứ vào tình hình thực tiễn tạm nhập tái xuất đường. Trao đổi thêm với Thanh Niên chiều 22.11, lãnh đạo Bộ Tài chính phụ trách lĩnh vực hải quan này cho biết, quan điểm của Bộ Tài chính là phải siết chặt việc tạm nhập, tái xuất đường. Nhưng không nên đánh đồng tất cả mà chỉ cấm các DN có rủi ro cao.
Đối với HAGL, quan điểm của Bộ Tài chính xác định đây là một DN lớn, có uy tín, có diện tích trồng mía quy mô lớn tại Lào. Vì vậy, mức độ rủi ro của đường nhập bị thẩm lậu tại thị trường nội địa là rất thấp. “Đối với HAGL chúng tôi quản được tận gốc, vì họ có diện tích sản xuất mía tại Lào, nhập khẩu qua cung đường bộ nên có thể giám sát được. Còn các trường hợp mà tạm nhập tái xuất qua đường biển như xăng dầu thời gian qua, hay nhập để xuất qua những cửa khẩu có cung đường đi ngược, không thuận lợi thì theo tôi là không nên cho nhập”, lãnh đạo Bộ Tài chính cho biết.
Lãnh đạo này khẳng định, không sợ thất thoát tiền thuế từ chính sách tạm nhập tái xuất đường, vì kể từ ngày 1.7.2013, bất kể DN nào nhập đường kể cả là tinh hay thô đều phải nộp thuế ngay khi nhập hàng, đến khi nào xuất đi mới được hoàn lại.
“Không bao giờ có ý đồ phá thị trường trong nước”
Trao đổi với PV Thanh Niên tối qua, ông Đoàn Nguyên Đức - Chủ tịch HĐQT HAGL một lần nữa khẳng định: "HAGL đầu tư ra nước ngoài nhưng vẫn là doanh nghiệp VN, sử dụng lao động VN, vốn vay của VN, nộp thuế cho VN. Hơn nữa việc đưa đường từ Lào về VN tinh chế rồi xuất khẩu sang Trung Quốc sẽ không làm ảnh hưởng thị trường nội địa. Đây là việc làm có lợi rất lớn, mang tầm quốc gia. Tôi khẳng định không bao giờ có ý đồ phá thị trường trong nước. Còn thị trường Trung Quốc thì nhu cầu rất lớn, 30.000 tấn không là bao. Các DN khác vẫn xuất được, vấn đề là có xin được Bộ Công thương đồng ý hay không. Tôi sẵn sàng gặp lãnh đạo VSSA để trao đổi trực tiếp quan điểm của các bên để có lợi cho cục diện chung".
Quang Thuần
Không có gì “lăn tăn”
GS-TS Võ Tòng Xuân, người đang xây dựng và triển khai Trung tâm nghiên cứu về mía đường tại Tây Ninh cho rằng, phản ứng của VSSA chỉ là nhất thời chứ nhìn xa hơn là vấn đề giá đường ở VN. “Nếu HAGL nhập về bán trong nước thì ngành đường trong nước bị đè bẹp là cái chắc, nhưng xuất đi thì không có gì phải lăn tăn. Quản lý được việc HAGL có bán ra thị trường VN hay tái xuất đủ hay không là việc của các cơ quan hải quan, Bộ Công thương”, ông nói.
Chuyên gia phát triển chiến lược Robert Trần cũng cho rằng: “Nhiều DN bị buộc phải ngưng sản xuất vì không có đơn hàng, hàng làm ra tồn kho nhiều, công nhân mất việc, nạn thất nghiệp tràn lan thì việc một DN tìm được đơn hàng tạo công ăn việc làm cho công nhân, tạo hoạt động cho nhà máy trong thời gian này là điều đáng khích lệ. Chúng ta đang ủng hộ gia công những đơn hàng giá rẻ để giúp nhà máy sản xuất khỏi phải ngưng hoạt động do nền kinh tế thế giới đang khủng hoảng mà”, ông Robert Trần nói.
“Sau hội nhập, ngành mía đường và một số ngành sản xuất VN đã lộ diện sự hụt hơi, khó cạnh tranh về giá. Dù đã được bảo hộ nhưng giá sản xuất vẫn cao, khi hàng rào thuế quan dỡ bỏ, DN sản xuất đường không hụt hơi mà chết luôn. Tôi nghĩ DN trong nước nên suy nghĩ vấn đề này ở góc độ tích cực, dài hơi hơn là phản ứng gay gắt như vừa qua. Nên chăng, VSSA và HAGL và một số DN đang làm đường xuất khẩu cùng ngồi lại với nhau, chia sẻ đạt tình thấu lý hơn là “nhờ” biện pháp hành chính để cấm này nọ”, chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành phân tích.
Quang Thuần - Nguyên Nga - Anh Vũ

31 October 2013

Phát hiện cơ sở sản xuất bột gạo lọc giả



TPO-Sáng 30/10, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Tiền Giang bất ngờ kiểm tra tại số nhà 10/4, đường Học Lạc, phường 3 (TP Mỹ Tho) phát hiện cơ sở do bà Đào Thị Hạnh làm chủ, sản xuất bột gạo lọc giả.
Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra, cơ sở sản xuất, kinh doanh bột gạo lọc giả nhãn hiệu với qui mô lớn
Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Tiền Giang tiến hành kiểm tra, cơ sở sản xuất, kinh doanh bột gạo lọc giả nhãn hiệu với qui mô lớn.
Cơ sở sản xuất đã sản xuất bột gạo lọc giả nhãn hiệu “bột gạo lọc 1” của cơ sở kinh doanh do bà Nguyễn Thị Bé ở phường 2, thị xã Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp làm chủ. Nhãn hiệu trên của bà Bé đã được đăng ký nhãn hiệu theo giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 86698 do Cục Sở hữu trí tuệ cấp. Đoàn kiểm tra thu giữ tang vật gồm: 500 gói bột nếp, hơn 850 gói bột gạo lọc, khối lượng 500gam/gói.
Toàn bộ số hàng hoá trên đều không có hóa đơn chứng từ liên quan và giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu. Ngoài lượng lớn hàng hóa, đoàn kiểm tra còn thu giữ máy ép nhựa, 1 cân đồng hồ loại 2kg và hơn 40 kg bao bì nhựa để đựng bột lọc gạo.
Đức Thịnh

20 October 2013

Khó hiểu với cách tham mưu về quản lý bụi lò thép của Sở TNMT


Bà Rịa - Vũng Tàu:


(Dân trí) – Sau chuyến “cưỡi ngựa xem hoa”, Sở TNMT báo cáo UBND tỉnh BR-VT rằng chưa cần có nhà máy xử lý bụi thép vì nhà máy ở Hải Dương… đủ năng lực. Đây là nguyên nhân khiến nhiều nhà đầu tư vào BRVT bỏ đi và các nhà máy thép ngưng trệ vì ùn ứ bụi.
 

Kết quả khảo sát nhà máy tại Hải Dương: Báo cáo không đúng sự thật
Tháng 3/2013, Sở Tài nguyên – Môi trường (TNMT) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) đã có chuyến khảo sát thực tế tại Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim tại Hải Dương với thành phần gồm Giám đốc Sở, Chi cục trưởng và Chi cục phó Chi cục Bảo vệ Môi trường,…Trên cơ sở kết quả khảo sát, Sở TNMT đã báo cáo UBND tỉnh nhà máy tại huyện Kinh Môn, Hải Dương "đang trong giai đoạn vận hành thử nghiệm", nhưng thực tế đã hết hạn từ ngày 31/10/2012 và đang hoàn tất các thủ tục để được Bộ TNMT cấp phép. Theo Sở TNMT, công nghệ xử lý bụi thép do Trung Quốc sản xuất, do các chuyên gia Trung Quốc vận hành nhà máy và sản phẩm Kẽm thu hồi có hàm lượng 52% sẽ được xuất khẩu đi…Trung Quốc. Bụi thép tại nhà máy chưa được lưu giữ hoàn toàn trong các nhà xưởng có mái che, nhưng có che bạt khi để ngoài trời. Từ tham mưu của Sở TNMT, UBND tỉnh đã có văn bản gửi Thường trực Tỉnh uỷ tỉnh BR-VT về kết quả khảo sát giống như Sở TNMT đã báo cáo ở trên.
Việc che bạt chỉ cho có, không đảm bảo quy định về quản lý CTNH (Ảnh: A.C)
Việc che bạt chỉ cho có, không đảm bảo quy định về quản lý CTNH (Ảnh: A.C) 
Đến tháng 6/2013, theo đánh giá của Sở TNMT, có hơn 14.900 tấn bụi thép độc hại đang lưu trữ ở các nhà máy luyện thép trong tình trạng quá tải, không đảm bảo quy định, dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường rất lớn nếu không có biện pháp xử lý kịp thời. Vì vậy, để giải quyết nhanh chóng ô nhiễm môi trường từ bụi lò thép tại tỉnh BR-VT, Sở TNMT đã kiến nghị Tổng cục Môi trường (Bộ TNMT) trong thời gian xem xét cấp Giấy phép hành nghề quản lý CTNH cho hoạt động của Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim tại tỉnh Hải Dương, cho phép Công ty khoáng sản Việt Nam được phép thu gom, vận chuyển CTNH bụi thép từ tỉnh BR-VT về nhà máy tại tỉnh Hải Dương để lưu giữ, chờ xử lý khi đã được Tổng cục Môi trường cấp phép. Như vậy, mặc dù Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim chưa có đủ giấy tờ pháp lý theo quy định, nhưng với việc đã khảo sát thực tế chỉ trong 1 ngày, Sở TNMT đã báo cáo Tổng cục Môi trường, UBND tỉnh cho Công ty khoáng sản Việt Nam vận chuyển bụi lò thép tại tỉnh BR-VT đến tập kết, lưu giữ tại Kinh Môn, Hải Dương trong lúc không đáp ứng được các điều kiện nghiêm ngặt về quản lý chất thải nguy hại và đây là điều chưa hề có tiền lệ trong quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam.
Việc Sở TNMT đánh giá Công ty khoáng sản Việt Nam có đảm bảo năng lực hay không điều đó đã được thể hiện rõ qua việc tháng 09/2013 khi Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, bị người dân Phú Thứ, Kinh Môn phản ứng vì đầu độc sức khỏe người dân, làm chết hoa màu, ô nhiễm nguồn nước và Sở TNMT tỉnh Hải Dương đã xác định nhà máy này chưa đảm bảo các điều kiện về môi trường, buộc phải tạm ngừng hoạt động để khắc phục; Cục Cảnh sát Môi trường C49 cũng đã xử phạt 270 triệu đồng vì các vi phạm về môi trường. Đồng thời, Tổng cục Môi trường cũng đã có văn bản bác bỏ kiến nghị của Sở TNMT cho phép Công ty khoáng sản Việt Nam vận chuyển bụi lò thép từ BR-VT ra Hải Dương vì quy định pháp luật về quản lý chất thải nguy hại không cho phép. 
Trong suốt thời gian qua, người dân thị trấn Phú Thứ đã gửi đơn kêu cứu lên các cấp chính quyền phản ánh tình trạng Nhà máy tái chế chất thải ngành luyện kim của Công ty khoáng sản Việt Nam không tuân thủ đúng các quy định về môi trường do nhà nước ban hành, nhà máy hoạt động sản xuất khi chưa có đủ giấy phép của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường. Nhà máy này có diện tích nhỏ 1ha, nhưng đang tồn tại hàng chục nghìn bao chứa bụi thép không được che đậy, để lộ thiên ngoài trời, đã khiến nước thải bị rò rỉ, đổ vào hệ thống kênh mương cấp nước tưới phục vụ việc trồng trọt của nông dân gây chết cá, lúa, hoa màu xung quanh. Mỗi khi nhà máy tiến hành hoạt động, người dân trong khu vực luôn phải chịu đựng mùi hôi thối nồng nặc, đe dọa sức khỏe của hàng ngàn con người mỗi ngày, trong đó có nhiều người già và trẻ em. Đặc biệt nhà máy nằm trong khu dân cư, gần 3 trường học trong thị trấn Phú Thứ. Không chỉ vậy, tại cảng Phú Thái, nơi bụi thép được Công ty khoáng sản Việt Nam tập kết từ nhiều nhà máy thép đưa về đây có hàng ngàn bao chứa bụi đã bị bục, vỡ và lưu giữ ở ngoài trời trong thời gian dài, chất thải đổ tràn xuống sân cảng nằm bên cạnh sông Kinh Thầy, nhiều túi chất thải bị nước mưa hòa tan tạo thành vũng.
Như vậy, sau gần 9 tháng kể từ thời điểm báo cáo HĐND tỉnh sẽ đảm bảo mục tiêu 100% chất thải nguy hại, trong đó có bụi lò thép sẽ được xử lý đảm bảo các quy định về bảo vệ môi trường, đã không có 1 tấn bụi nào rời khỏi tỉnh BR-VT và khối lượng bụi thép ngày càng tăng nhanh khiến cho các nhà máy phải đồng loạt gửi kiến nghị đến UBND tỉnh hỗ trợ, giúp đỡ tìm nhà đầu tư để chủ động xử lý chất thải bụi thép vì hiện nay đã vượt quá khả năng quản lý của họ. 
Với tình trạng ô nhiễm môi trường kéo dài của Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim là rất nghiêm trọng, khiến người dân trong vùng bức xúc, bao vây nhà máy yêu cầu phải ngừng hoạt động và không có các giấy tờ theo đúng quy định, rõ ràng, Sở TNMT đã báo cáo không đúng sự thật về năng lực xử lý bụi thép của Công ty khoáng sản Việt Nam trước HĐND tỉnh, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để đến thời điểm này, khi Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim phải ngừng hoạt động theo yêu cầu của các cơ quan chức năng tỉnh Hải Dương để khắc phục hậu quả ô nhiễm môi trường thì toàn bộ bụi thép tại tỉnh BR-VT sẽ phải tiếp tục lưu giữ trong tình trạng không đảm bảo các quy định về môi trường và chờ đợi…có đơn vị xử lý.
Việc che bạt chỉ cho có, không đảm bảo quy định về quản lý CTNH (Ảnh: A.C)
Hàng ngàn tấn bụi thép để ngoài trời tại Cảng Phú Thải do Công ty khoáng sản Việt Nam tập kết từ nhiều nơi (Ảnh: A.C) 
Ưu ái "bất thường" cho Công ty Khoáng sản Việt Nam
Việc tham mưu đưa bụi thép tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tới tỉnh Hải Dương để xử lý của Sở TNMT không chỉ khiến cho hàng chục ngàn tấn chất thải nguy hại tồn đọng tại các nhà máy luyện thép mà việc tham mưu này trái vớiQuy hoạch xử lý chất thải rắn 03 vùng Bắc, Trung, Bộ được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1440/QĐ-TTg là chất thải của vùng nào thì vùng đó phải quy hoạch để xử lý, không có trường hợp chất thải của vùng phía Nam chuyển ra phía Bắc. Vì vậy, việc chuyển bụi thép ra Hải Dương là vi phạm Quyết định 1440/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ. Đồng thời, đẩy tỉnh Hải Dương và tình thế phải tiếp nhận chất thải nguy hại tỉnh BR-VT mà năng lực thực tế tại đây hoàn toàn không đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt về xử lý chất thải nguy hại và hệ lụy từ việc người dân Phú Thứ, Kinh Môn bức xúc bao vây nhà máy là điều không thể tránh khỏi. 
Trước tình thế Nhà máy xử lý chất thải ngành luyện kim bị phát hiện hoạt động trái phép, gây ô nhiễm môi trường, đề xuất đưa bụi thép đến tỉnh Hải Dương của Sở TNMT đã bị phá sản, trên địa bàn tỉnh không có nhà đầu tư, không có đơn vị xử lý; HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết trong 6 tháng cuối năm 2013, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phải thu hút được dự án xử lý bụi thép nhằm chủ động xử lý bụi lò thép, tránh trường hợp bị tồn đọng và phải chờ đợi đơn vị từ tỉnh khác đến thu gom, xử lý như trường hợp của Công ty Khoáng sản Việt Nam. Ngay lập tức, Sở TNMT lại tiếp tục tham mưu đưa Công ty Khoáng sản Việt Nam vào danh sách các nhà đầu tư để lựa chọn đầu tư xử lý bụi thép tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Từ thực tế như trên, trong suốt thời gian dài qua, Sở TNMT đã ưu ái quá mức đối với Công ty Khoáng sản Việt Nam mặc dù công ty này hoàn toàn không đủ điều kiện về môi trường khiến cho vấn đề môi trường do bụi lò thép gây ra trên địa bàn tỉnh BR-VT ngày càng nghiêm trọng. Vấn đề tiếp tục đặt ra, liệu nếu Công ty Khoáng sản Việt Nam sẽ tiếp tục được lựa chọn là đơn vị được đầu tư xử lý bụi lò thép tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì vấn đề bụi lò thép ở Bà Rịa - Vũng Tàu sẽ như thế nào khi mà ngay tại Phú Thứ, Kinh Môn, Hải Dương, đơn vị này vẫn đang phải tạm dừng và khắc phục những hậu quả ô nhiễm môi trường do hoạt động xử lý bụi lò thép gây ra?.
Để tìm hiểu những “khuất tất” này, PV Dân trí đã đến gặp lãnh đạo Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh BR-VT, tuy nhiên, có nhiều câu trả lời vẫn chưa thỏa đáng nên PV tiếp tục đến gặp ông Lê Văn Sâm – Giám đốc Sở TNMT tỉnh BR-VT vào lúc 10h45 ngày 25/9. Tuy nhiên, dù trong giờ hành chính nhưng vị giám đốc này vẫn chốt cửa. Gặp PV bên ngoài phòng làm việc, ông Sâm cương quyết chối từ khi PV đề nghị được phỏng vấn: “Thôi thôi, không có phóng sự gì hết. Tụi anh hổng có tham gia cái vụ đó…”. PV đề nghị ông giám đốc Sở ngồi nói chuyện thì ông bảo: “Thôi, anh lu bu lắm. Môi trường thì hỏi bên môi trường”. Nói xong, ông vào phòng lấy cuốn sổ kẹp nách và nói là đi họp, dù giờ hành chính đã gần hết.
Công Quang