THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog

04 October 2012

Nguyễn Chí Thiện - Hoa Địa Ngục



Hoa địa ngục tưới bằng xương máu thịt 
Trộn mồ hôi chó ngựa, lệ ly tan 
Hoa trưởng sinh trong tù bệnh, cơ hàn 
Hương ẩm mốc, mầu nhở nham, xám xịt. 

Tôi nhắm mắt...

Tôi nhắm mắt nằm yên không ngủ
Kẻng báo rền vang, sáng tự bao giờ
Tôi nằm yên không nghĩ ngợi không mơ
Mà lịm chết trong bóng mờ ủ rũ:
Bóng mẹ cha già đớn đau hóa mụ
Đêm tối mênh mông đóm lửa vật vờ
Bóng cuộc đời tôi lặng vắng như tờ
Thất thểu, bơ vơ, khóc cười lỡ dở
Bóng nhợt xám vài mối tình khổ sở
Lảo đảo đi về, tuyệt vọng âm u
Bóng hình tôi ho ra máu, lưng gù
Mở mắt ra sừng sững bóng trại tù! (1969)


Sẽ có một ngày

Sẽ có một ngày con người hôm nay
Vất súng, vất cùm, vất cờ, vất Đảng
Đội lại khăn tang, quay ngang vòng nạng 
Oan khiên!
Về với miếu đường, mồ mả, gia tiên
Mấy chục năm trời bức bách lãng quên
Bao hận thù độc địa dấy lên
Theo hương khói êm lan, tan về cao rộng
Tất cả bị lùa qua cơn ác mộng
Kẻ lọc lừa, kẻ bạo lực xô chân
Sống sót về đây an nhờ phúc phận
Trong buổi đoàn viên huynh đệ tương thân
Đứng bên nhau trên mất mát quây quần
Kẻ bùi ngùi hối hận.
Kẻ bồi hồi kính cẩn
Đặt vòng hoa tái ngộ lên mộ cha ông
Khai sáng kỷ nguyên tã trắng thắng cơ hồng!
Tiếng sáo mục đồng êm ả
Tình quê tha thiết ngân nga
Thay tiếng tiến quân ca
Và quốc tế ca
Là tiếng sáo diều trên trời xanh bao la!


Thơ Của Tôi 

Thơ của tôi không phải là thơ 
Mà là tiếng cuộc đời nức nở 
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở 
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ 
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ 
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ 
Tiếng răng lạnh đập vào nhau khổ sở 
Tiếng dạ dầy đói lả bóp bâng quơ 
Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ 
Tiếng bất lực trước muôn ngàn sụp lở 
Toàn tiếng của cuộc đời sống dở 
Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ! (1970) 


Trong bóng đêm 

Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử. (1976) 


Từ Vượn Lên Người

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm
Từ người xuống vượn mất bao năm?...
Xin mời thế giới tới thăm
Những trại tập trung núi rừng sâu thẳm
Tù nhân ở truồng từng bày đứng tắm...
Loại vượn này không nhanh mà rất chậm
Khác vượn thời tiền sử xa xăm.
Chúng đói chúng gầy như những cái tăm
Và làm ra của cải quanh năm
Xin mời thế giới tới thăm. (1967)

Nếu trời còn 

Nếu trời còn để có một ngày mai.
Tôi sẽ kể chuyện đêm dài khủng khiếp.
Cho thế hệ hiện nay cùng đàn sau kế tiếp.
Giật mình thức tỉnh, thương đau.
Phẫn nộ trào dâng, dốc sức cùng nhau.
Đánh phọt óc con rắn hồng độc hại.
Giải phóng cả một phần ba nhân loại.
Bị nó cuốn tròn sống trong ngắc ngoải (1960). 


Nhắm mắt là...

Nhắm mắt là con nhìn thấy ngay
Mẹ mắt mờ run bước cạnh thầy
Căn gác âm thầm ngao ngán quá
Hai bóng già nua tối lại ngày.
Mơ về căn gác yêu thương ấy
Tan nát lòng con lắm, mẹ thầy
Đau ốm, hao gầy, đôi mắt lóa
Đêm ngày trông đợi đứa con xa
Giam hãm trong rừng cây vách đá
Con vẫn hình dung thấy cảnh nhà
Lệ ứa hai hàng hoen ướt má
Mẹ khóc vì con mãi, mẹ già!
Thầy hỡi, con hình dung rõ quá!
Thờ thẫn vào ra, nét mặt gầy
Hình bóng muôn vàn đau xót ấy
Quặn buốt lòng con tới đọa đày! (1968) 


Tôi lấy thơ 

Tôi lấy thơ thuở còn đi học 
Buổi gặp nhau đầu Thơ đã biết yêu tôi 
Thơ của tôi thời ấy đẹp như Kiều 
Lộng lẫy như Tần cung nữ 
Những cô Lý cô Hình cô Sử 
Tôi quên, tôi quá yêu rồi 
Thơ thường buồn, 
Thơ cũng như tôi 
Chỉ có bạn bè là Mơ và Mộng 
Thơ lấy tôi vì tôi không thể sống 
Không Thơ an ủi bên mình 
Đám cưới chúng tôi một đám cưới tình 
Chỉ có Mộng Mơ phù dâu phù rể 
Thơ giờ đã tay bồng tay bế 
Tù lao đầy đọa xanh gầy 
Thơ dọn nhà ra khỏi cung mây 
Từ buổi mộng mơ hóa thành ngu xuẩn! 
Đời chê Thơ nhiều buồn đau, hờn giận 
Không chịu bôi hồng trát phấn 
Bán mình cho Đảng nuôi thân 
Gắn bó cùng tôi Thơ khổ vô ngần 
Chia sẻ bao sầu bao hận 
Thơ chịu âm thầm chung thủy tận khi nao? 
--Tận khi nào 
Anh nói với Thơ lời dối trá."  (1963) 


Tôi Tin Chắc Một Điều 

Tôi tin chắc một điều 
Một điều tất yếu 
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu 
Tôi lại nghĩ một điều 
Một điều sâu thẳm 
Là đêm tàn Cộng Sản tối tăm 
Có thể kéo dài hàng mấy mươi năm 
Và như thế sẽ buồn lắm lắm 
Cho kiếp người sống chẳng bao lăm! (1969) 


Đau Đớn Lắm 

Đau đớn lắm cái lầm to thế kỷ 
Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi! 
Mấy chục năm trời xương máu đổ đi 
Thử hỏi dân đen thu được những gì? 
Ngoài một số từ lừa mị kẻ ngu si! 
Người công nhân trước gọi cu li 
Người lính cũ nay gọi là chiến sĩ 
Song vẫn vác, vẫn khuân, vẫn đói nghèo, vẫn bị 
Đẩy đi chiến trường chết hoài, chết phí 
Cho một lũ trung ương lợn ỉ! 
Đau đớn lắm cái lầm to thế kỷ 
Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi! (1970) 


Lãnh Tụ 

Lãnh tụ béo nục 
Dân đen gầy rục! 
Lao động hùng hục 
Họp hành liên tục 
Đói ăn khắc phục 
Kêu ca tống ngục! 
Cộng sản đánh gục 
Đời mới hết nhục! (1962) 


Không có gì quý hơn độc lập tự do 

"Không có gì quý hơn độc lập tự do 
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó 
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó 
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao. 
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào 
Hình xác lão Mao lông lá 
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá 
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa 
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa 
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu 
Lúc rụi vào Tầu, lúc rúc vào Nga 
Nó gọi Tầu Nga là cha anh nó 
Và tình nguyện làm con chó nhỏ 
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh 

Ôi độc lập tự do! 
Xưa cũng chỉ vì quý hai thứ đó 
Đất Bắc mắc lừa mất vào tay nó 
Nhưng nay mà vẫn còn có người mơ hồ nghe nó 
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thật to" (1968) 


Hôm nay 19-5 

Hôm nay 19-5 
Tôi nằm 
Toan làm thơ chửi Bác 
Vần thơ mới hơi phang phác 
Thì tôi thôi 
Tôi nghĩ Bác 
Chính trị gia sọt rác 
Không đáng để tôi 
Đổ mồ hôi 
Làm thơ 
Dù là thơ chửi Bác 
Đến thằng Mác 
Tổ sư Bác! 
Cũng chưa được tôi nguệch ngoạc vài câu! 
Thôi hơi đâu 
Mặc thây bọn văn sĩ cô đầu 
Vuốt râu, xoa đầu, mơn trớn Bác. 
Thế rồi tôi đi làm việc khác. Kệ cha Bác!" (1964)


Khi Mỹ chạy 

Khi Mỹ chạy bỏ miền Nam cho Cộng sản 
Sức mạnh toàn cầu nhục nhã kêu than 
Giữa tù lao, bệnh hoạn, cơ hàn 
Thơ vẫn bắn, và thừa dư sức đạn! 
Vì thơ biết một ngày mai xa xôi nhưng sáng lạn 
Không giành cho thế lực yêu gian 
Tuyệt vọng dẫu lan tràn 
Hy vọng dẫu tiêu tan 
Dân nước dẫu đêm dài ai oán 
Thơ vẫn đó, vẫn gông cùm trên ván 
Âm thầm, thâm tím, kiên gan 
Biến trái tim thành "chiếu yêu kính" giúp nhân gian 
Nhận rõ nguyên hình Cộng sản 
Tất cả suy tàn, sức thơ vô hạn 
Thắng không gian mà thắng cả thời gian 
Sắt thép quân thù năm tháng rỉ han!  (1975) 


Vì ấu trĩ 

Vì ấu trĩ, thờ ơ, u tối, 
Vì muốn an thân, vì tiếc máu xương... 
Cả những kẻ đã nằm trong mả 
Và những bào thai trong bụng mẹ trót sinh ra 
Chúng sẽ có quyền nguyền rủa lũ ông cha 
Đã để chúng sa xuống hầm tai vạ. 
Lỗi lầm tại ai? Xét ra tất cả, 
Mấy ai người đem hết tâm can... 
Ai đứng dậy diệt trừ lũ quỉ, 
Ai trái tim lân mẫn vạn dân tàn? (1975)


Nếu có trời 

Nếu có trời, đời tôi phải khác 
Đâu bị đói nghèo, tù lao tan tác! 
Vì tôi chưa làm việc gì độc ác 
Và luôn sống với tâm tình chất phác 
Dù toàn gặp những điều bội bạc 
Và lòng buồn như đêm sa mạc! (1960)


Không có chỗ 

Không có chỗ trên con tàu quả đất 
Tôi là người hành khách bơ vơ 
Lỡ chuyến, lầm ga, mất cắp, bây giờ 
Tôi ủ rũ trên sàn toa lạnh ngắc 
Cái toa đen dành cho súc vật (1967)


Tôi khổ gấp trăm lần 

Tôi khổ gấp trăm lần hơn Đại Thánh 
Mang trên đầu đủ thứ mũ kim cô 
Thần chú đau thương: "Tất cả tan tành!". 
Khoan vào óc đêm ngày muôn vạn lỗ! 
Đời tôi giữa Ngũ Hành Sơn cấm cố 
Không mong Đường Tam Tạng tới buông tha 
Tự mình tôi, tôi phải cứu tôi ra 
Đập tan hết để xoay vần mệnh số! 
Hoa quả sơn trong cõi lòng nát đổ 
Là một nguồn an ủi lớn bao la 
Với Tề Thiên đó chỉ là đất tổ 
Với tôi là trời mộng ước cao xa! (1969)


Một tay em trổ 

Một tay em trổ: Đời xua đuổi! 
Một tay em trổ: Hận vô bờ! 
Thế giới ơi! người có thể ngờ? 
Đó là một tù nhân tám tuổi! 
Trên bước đường tù, tôi rong ruổi 
Tôi gặp hàng ngàn em bé như em! (1971)


Tôi, một kẻ 

Tôi, một kẻ không gia đình, bè bạn
Sống một mình, bệnh hoạn xanh xao
Chai nước con, chiếc điếu hút thuốc lào
Chiếc giường vải, chiếc bàn bằng gỗ cũ
Đồ đạc tôi thế là tạm đủ
Cuộc sống nghèo hèn, không ước không mơ
Ngoài thời gian dạy học vài giờ
Tôi tìm kiếm niềm khuây trong sách vở
Ít ra khỏi căn buồng con tôi ở
Chủ nhật, ngày thường tôi thấy như nhau
Những khi buồn tôi đem điếu ra lau
Hoặc khe khẽ ngâm một vài câu thơ cổ
Mỗi tháng một lần tôi mang phiếu sổ
Tiêu chuẩn thịt, đường một lạng mua ăn
Trong lòng tôi chỉ một nỗi băn khoăn
Sợ bị bắt, bị nghi là bất mãn." (1966) 


Trên mảnh đất 

Trên mảnh đất, Đảng gieo mầm tội lỗi! 
Trong lành cũng phải tanh hôi! 
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi! 
Bạo lực đi về rất vội! 
Chết trận, chết tù, hỡi ơi xã hội! 
Biết bao là vợ góa, con côi, 
Bán trôn rồi lại bán cả mồ hôi, 
Mà đói rét vẫn quần cho sớm tối! 
Mảnh đất chờ trông và sám hối 
Thức giả tiêu sầu chai nước lã đun sôi! (1964)


Có phải em là 

Có phải em là em bé? 
Bố tập trung xa cách đã mười năm? 
Bố dượng em là bác da ngăm ngăm, 
Là đồng chí bí thư nơi mẹ em công tác? 
- Anh là bạn tù của bố em, từ tỉnh khác 
Về tìm em để nhắn hộ tin... 
Bố em giờ đau ốm cần xin 
Ít ký ninh, ít đường đen bồi dưỡng! 
Bố dặn mẹ hãy an lòng, đừng ngượng 
Bố hiểu cảnh tình rất thương mẹ và em 
Hãy nín đi em đừng khóc! 
Bố sắp về rồi, bố sẽ cho em đi học, 
Mua cho em đôi dép em đi... 
Em sẽ được là thiếu nhi quàng khăn đỏ 
Là cháu ngoan bác Hồ em có thích không? 
--Có thích (1976) 


Những thiếu nhi 

Những thiếu nhi điển hình chế độ 
Thuở mới đi tù trông thật ngộ! 
Lon xon không phải mặc quần 
Chiếc áo tù dài phủ kín chân 
Giờ thấm thoát mười xuân đã lớn 
Mặt mũi vêu vao, tính tình hung tợn! 
Mở miệng là chửi bới chẳng từ ai! 
Có thể giết người vì củ sắn củ khoai! (1966) 


Bác Hồ rồi lại 

Bác Hồ rồi lại Bác Tôn! 
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng 
Nước da hai bác màu hồng 
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh 
Giữa hai cái mặt bành bành 
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò! (1970)


Đồng lầy

Ngày ấy, tuy xa mà như còn đấy 
Tuổi hai mươi, tuổi bước vào đời 
Hồn lộng cao, gió thổi chơi vơi 
Bốn phía bao la chỉ thấy 
Chân mây, rộng mới tuyệt vời! 
Ngất ngây, làm sao ngờ tới 
Bùn đọng hồ ao mạn dưới phục chờ! 
Tuổi hai mươi, tuổi của không ngờ 
Không sợ! 
Viển vông đẹp tựa bài thơ 
Mơ ước 
Đợi chờ 
Vĩ đại... 

Nhưng rồi một sớm đầu thu mùa thu trở lại 
Tuổi hai mươi mắt nhìn đời trẻ dại 
Ngỡ cờ sao rực rỡ 
Tô thắm màu xứ sở yêu thương. 
Có ngờ đâu giáo giở đã lên đường 
Hung bạo phá bờ kim cổ 
Tiếng mối giường rung đổ chuyển non sông 
Mặt trời sự sống 
Thổ ra từng vũng máu hồng 
Ôi tiếc thương bao mùa lúa vun trồng 
Một mùa thu nước lũ 
Trở thành bùn nước mênh mông 
Lớp lớp sóng hồng man dại 
Chìm trôi quá khứ tương lai 
Máu, lệ, mồ hôi, rớt rãi 
Đi về ai nhận ra ai! 
Khiếp sợ, sửng sờ, tê dại! 
Lịch sử quay tít vòng ngược lại 
Thời hùm beo rắn rết công khai 
Ngàn vạn đấu trường mọc dậy giữa ban mai 
Đúng lúc đất trời nhợt nhạt 
Bọn giết người giảo hoạt 
Nâng cốc mừng thắng lợi liên hoan 
Điệu nhạc cơ hàn thăm thẳm miên man 
Điệp khúc lìa tan thúc giục 
Ngục tù cất bước oan khiên 
Thành thị thôn quê sơn hải trăm miền 
Hội tụ! 
Bãi sú, bờ lau, rừng rú 
Thây người vun bón nuôi cây, 
Đạo lý tối cao ở xứ đồng lầy 
Là lừa thầy, phản bạn 
Và tuyệt đối trung thành vô hạn 
Với Đảng, với Đoàn, với lãnh tụ thiêng liêng 
Hạt thóc, hạt ngô phút hóa xích xiềng 
Họa, phúc toàn quyền của Đảng 
Dần dà năm tháng 
Mắt ngả sắc vàng, da sắc xám 
Đi về ai nhận ra ai? 
Ôi ngàn hoa run tái! 
Đáng thương giữa chốn đồng lầy 
Sậy úa lau gầy, lạc loài thảm hại 
Rồi đây, khi mặt trời thức dậy 
Chắc là hoa đã tàn phai 
Chẳng còn được thấy! 
Tôi vẫn ngồi yên mơ màng như vậy 
Mặc cho đàn muỗi quấy rầy 
Bóng tối lan đầy khắp lối 
Không còn phân biệt nổi 
Trâu hay người lặn lội phía bờ xa 
Gai ốc nổi trên da 
Cái họa áo cơm không chừa ai hết! 
Buồn nghĩ tới chuyện xưa Thần chết 
Cùng lão tiều đốn củi già nua 
Tôi ngước trông xem có một ngôi chùa 
Ngôi chùa đã trở thành huyễn mộng. 
Con ác điểu hoài nghi xù đôi cánh rộng 
Truy lùng mồ mả cha ông 
Thánh thất miếu đường xáo động 
Con thuyền chở đạo nghiêng chao 
Sóng gió thét gào, man rợ 
Tiếng sinh linh nức nở, âm thầm 
Mặt đất tím bầm, tiết đọng 
Lá cờ lật lọng 
Nhân buổi dương tàn âm thịnh cao bay! 
Thần tượng cuồng quay, hình thay lốt rũ 
Hang Pắc-Bó hoá thành hang ác thú 
Bác Hồ già hóa dạng bác Hồ Ly 
Đôi dép lốp nặng bằng trăm đôi dép sắt 
Bộ ka-ki vàng, vàng như mắt dân đen 
Qủy quái, đê hèn, lừa đảo! 
Gia tài tra khảo cướp trơn tay 
Từ buổi Qủy vương hớn hở mặt mày 
Đứng trước Đảng kỳ trịnh trọng 
Đọc lời khai mạc thủa hoang sơ 
Tụ tập đảng viên đại hội dưới cờ 
Nguyện đem cuộc đời hơi thở 
Đạp bằng, phá vỡ 
Ngàn năm văn hiến ông cha. 
Ảo vọng dựng lên một thứ sơn hà 
Mê muội, nặng nề không hề nghiêng ngả 
Nó lùa, nó thả 
Lũ mặt người dạ thú xông ra 
Khiến đồng xa 
Nơi mấp mô mồ mả 
Các hồn ma cũng hả vong linh 
Vì thấy địa ngục của mình 
Còn ít nhục hình hơn dương thế! 
Mạng sống không bằng con giun con dế 
Đầu ngửng lên tuy nhìn thấy trời xanh 
Mà chân không thể nào rút khỏi 
Vũng lầy man mọi hôi tanh 
Ma qủy rình canh, nghiệt ngã 
Rau cháo cầm hơi, mồ hôi tầm tã 
Bọn sậy lau đã chán cả chờ trông 
Hầu cam phận sống trong bùn xám 
Đời càng u ám 
Qủy vương càng đình đám liên hồi 
Ôi, dần dà tôi không phải là tôi 
Một khối rũ mòn nhức nhối 
Mang đầy mộng ước thiu ôi. 
Nếu tôi đổ mồ hôi 
Mồ hôi sẽ hòa máu phổi 
Nhưng những niêu cơm quá vơi mà Đảng đem phân phối 
Không nhường thịt gân một chỗ để đàn hồi! 
Bao đêm rồi tôi nguyện luyện hồn tôi 
Trút bỏ buồn đau tiếc hối 
Nén dập hờn căm dữ dội 
Ngày đêm dìm luộc thân tôi 
Nhão nhừ, nóng hổi! 
Nhưng làm sao trút và nén nổi 
Nhưng làm sao điếc, mù, câm nổi 
Khi con người chưa sống được bao nhiêu 
Cũng như khi chưa yêu mến thật nhiều 
Làm sao biết ghét! 

Chỉ quả bóng xì hơi đã bẹp 
Mới để cho Người - Định mệnh - dẵm lên trên 
Còn những đại dương sóng dậy vang rền 
Chỉ dịu lắng khi mệt vì bão táp! 
Tôi ngồi yên nghe thời gian chậm chạp 
Mang tâm hồn thấm hết cảnh trăng xuông 
Trên đồng không nước lội sương buông 
Cây cỏ lạnh mờ, hoang vắng 
Ôi những bờ xa, lời xanh nhạc nắng 
Nếu có kẻ cho đời là cay đắng 
Hãy vào đây nếm thử vị đồng lầy 
Cho dạ dầy, óc, tim, lưỡi, cổ 
Biết biệt phân tân khổ ngọt bùi! 
Giữa biển vui không hiểu tiếng cười 
Là những kẻ cuộc đời chưa dậy sóng 
Trời cao biển rộng có cũng như không! 
Một tiếng quạ đêm ảo não rỏ xuống đồng 
Tôi tỉnh hẳn, trở về cơn ác mộng 
Muỗi nhơn nhơn từng đàn vang tiếng động 
Những con cưng của ngừng đọng tối tăm 
Chúng trưởng sinh trong đêm tối nhiều năm 
Nên chúng tưởng màn đen là ánh sáng! 
Ếch nhái vẫn đồng thanh đểu cáng 
Chửi bới mặt trời, ca ngợi đêm đen 
Lũ sậy lau còm cõi đứng chen 
Hơi có gió là cúi đầu rạp hết 
Bát ngát xung quanh một mầu khô chết 
Đồng lầy mỏi mệt 
Lặng câm, lũ kiến đi về 
Ôi, cuộc đời hay một cơn mê 
Mà người, ngựa, trâu, bò giống nhau đến thế! 
Những chiếc sơ mi bỏ ngoài để che bụng phệ 
Đi về chễm chệ xe "dim" 

Lúc vuốt xoa 
Lúc hăm dọa 
Lúc gật gù 
Với một lũ lù lù rác rơm ẩm mốc 
Những loài thảo mộc 
Ngu ngốc, ù lì, nhẫn nhục 
Nằm đợi ngày tàn mục thối tha 
Mặc cuốc kêu thê thảm đêm ngày 
Xác gầy, khổ não! 
Bọn gỗ đó phải chờ giông bão 
Mới chịu ào ào nhổ rễ đứng lên 
Nhưng hình như Trời đã bỏ quên 
Mảnh đất đồng lầy xám ngắt 
Như tôi vẫn ngồi đây héo hắt 
Mắt thâm quầng trông ngóng trời xanh 
Bốn chung quanh ếch nhái vẫn đồng thanh 
La ó mong làm hỏng tim hư óc. 
Để trai tráng say mùi chết chóc 
Để người già yên vui tang tóc 
Tóm lại là để tình nguyện ly tan 
Nhưng mặt trời mùa thu mà như tiết đại hàn 
Súng ống từng đoàn run run, nhớn nhác 
Đảng lùa đi tan tác thương vong 
Mái ngói, mái gianh lệ thảm ròng ròng 
Nhỏ xuống bốc hơi trong lòng vạc bỏng 
Đảng dữ thét gào, hóc xương ngang họng 
Giọng thều thào, gượng gạo hung hăng 
Lưới thép nền chuyên chính tung quăng 
Khốc liệt, bậy xằng, ức oan, cay đắng 
Dân đen tay trắng cam đành 
Từ rừng núi hoang vu tới phố xá thị thành 
Từ hải đảo xa xôi tới ruộng đồng bát ngát 
Màu áo vàng cảnh sát 
Tràn lan, nhợt nhạt cả màu xanh 
Cuộc sống đồng lầy rợp rát, nhoét tanh 
Bom đạn chiến tranh còn giật giành chút xương da thảm hại 
Cái cảnh mười đi, hai ba trở lại 
Cái cảnh một trai giành nhau chín gái 
Đương diễn ra và sẽ còn diễn mãi 
Nếu Đảng còn nắm vận mạng tương lai. 
Lũ sậy lau xưa chỉ biết thở dài 
Cũng phải ngước trông đất trời, vấn hỏi? 
Trăng lặn... sao tàn... 
Bình minh không mong mỏi 
Từ từ xuất hiện trong sương 
Một bình minh héo hắt thảm thương 
Đẩy dân tộc trên giường xuống đất 
Hãy lắng nghe một điều chân thật! 
Bình minh đây đau khổ nhất địa cầu 
Nó báo hiệu một ngày không một phút 
Thảnh thơi, thoải mái, ngẩng đầu. 
Bình minh đấy muôn thủa một mầu 
Nó báo hiệu mồ hôi kiệt quệ 
Những con người, không, những chiếc máy thảm thê 
Không dầu, không mỡ 
Hỏng vỡ trước thời gian 
Hãy coi chừng phải giữ vẻ hân hoan 
Tiếng khóc, tiếng than làm yêu ma run sợ 
Tội chúng phạm vô cùng man rợ 
Lộ ra, ai để chúng sinh tồn? 
Nên lo âu, hốt hoảng, bồn chồn 
Chúng nghe ngóng, bỏ tù tiếng nói 
Hỡi tất cả những chân trời sáng chói! 
Hãy hiểu rằng yên lặng nơi đây 
Giữa chốn đồng lầy 
Là tiếng gọi lâm ly đầy tuyệt vọng 
Biết bao giờ mùa thu lật lọng 
Bị lôi lên dàn lửa trời hè! 
Tôi vẫn chờ trông muôn vạn tiếng ve 
Dạo khúc tưng bừng báo trước 
Mùa hè khắp nơi đang tiến bước 
Tiêu diệt thu đông 
Lấy lại sắc hồng 
Phá cũi sổ lồng cho đàn chim bất hạnh 
Nhưng giờ đây thu lạnh 
Vẫn thỏa sức tung hoành 
Giết hại màu xanh 
Sặc sụa mùi tanh 
Nó dùng máu hãm những hàng nước mắt 
Vắt những giọt mồ hôi 
Bịt tiếng người câm bặt 
Mong bốn phương lặng ngắt giữa cơ hàn! 
Để nó tự do vang dạo khúc đàn 
Yêu ma! 
Lừa bịp người xa 
Buốt óc người gần 
Trời đất ơi, nếu có qủy thần 
Qủy thần sao dung tha mãi nõ 
Đôi lúc nghe mơ hồ trong gió 
Tiếng đời qua sóng đỏ vọng về đây 
Bao ước mơ chìm chết đã lâu ngày 
Lại nghẹn ngào trỗi dậy 
Đau xót, thương tâm. 
Bên ngoài kia cuộc sống vang ầm 
Sao đây mãi âm thầm trong nấm mộ.? 
Phẫn nộ oằn lên, bao khổ! 
Không gian hỡi, hãy tan tành sụp đổ 
Cho thời gian đừng làm khổ con người 
Cho đười ươi, khỉ đột hết reo cười 
Trong tối đen đầy đọa 
Ôi, cái buổi đất trời giáng họa 
Cũng là ngày hể hả trái tim đau! 
Nhưng gió kể làm gì chuyện bốn bể năm châu 
Chuyện những chân trời bấy lâu yêu dấu 
Tuyết ấm rơi, lòng người đôn hậu 
Đảo thần ngời sáng ngọc châu. 
Gió hãy thương kẻ bị đóng trên tọa độ thảm sầu 
Giấc chân trời mòn mỏi thương đau 
Bốn phía trước sau toàn bóng 
Những người trâu dầm mình trong bùn đọng 
Hoặc trong hầm trong xưởng rũa gân xương 
Để tối về theo lệnh Diêm Vương 
Vác bụng đói tới nghe bầy qủy dữ 
Giả danh nghĩa là những vì thiên xứ 
Đặt chương trình hút máu mài xương 
Nhưng lấy tên xây dựng thiên đường 
Để mong mộ thêm nhiều nô lệ mới. 
Tôi không hiểu loài ễnh ương ca ngợi 
Cái thiên đường khủng khiếp của ma yêu 
Được chúng cho công xá bao nhiêu 
Mà đêm tối to mồm, đinh nhức óc 
Ấy cơm cá ma vương đầy xương hóc 
Hãy coi chừng kẻo nuốt khó trôi qua 
Cứ ca đi, hơi lạc điệu bài ca 
Là Đảng ném toàn gia vào hỏa ngục! 
Tháng năm trôi mùa thu ô nhục 
Vẫn kéo dài ngang nửa dãy Trường Sơn. 
Chúng tôi tuy chìm ngụp giữa bùn trơn 
Song sức sống con người hơn tất cả 
Trước sau sẽ vùng lên quật ngã 
Lũ qủy yêu xuống tận đáy đồng lầy 
Huyệt chôn vùi thu nhục nhã là đây 
Hè xuân sẽ huy hoàng đứng dậy 
Dù chúng tôi hẩm hiu không được thấy 
Màu hè xuân thì đời của chúng tôi 
Cũng làm cho nhân loại đổ mồ hôi 
Khi tưởng tới bóng cờ ma đỏ ối! 
Mặt trời lên cao, lòng tôi nhức nhối 
Muốn cắt ngay cái phần hôi thối 
Trên thân mình dằng dặc của thời gian 
Nhưng nổi tiếng lì gan 
Thời gian thản nhiên từ khước 
Tháng năm lặng nề lê bước 
Xót xa, ô nhục, đọa đầy. 
Tôi muốn kêu to trong câm lặng đen dày 
Cho nhân loại trăm miền nghe thấy 
Ồ ạt đổ về đây 
Lấp hộ đồng lầy 
Diệt bầy muỗi độc 
Ngày đêm phá hủy hồng cầu 
Nhưng giữa bùn sâu ngập cổ ngập đầu 
Tiếng kêu cứu khò khè trong cuống họng! 
Trong khi ấy những lời lật lọng 
Của muôn ngàn ếch nhái vẫn vang ngân 
Bịp bợm xa gần 
Năm châu bốn bể 
Tôi biết thế, nên càng không thể để 
Cho thời gian trì trệ nhấc tôi lên 
Tôi xiết rên, quằn quại, tự tìm đường 
Dù có phải bồi thường bằng xương thịt 
Tôi không thể an tâm nằm hít 
Mùi bùn đen tanh tưởi khiếp kinh 
Bốn chung quanh yêu qủy nấp canh rình 
Súng ống sẵn sàng nhả đạn 
Con người tôi tiêu điều nứt rạn 
Có sợ gì viên đạn oan khiên 
Giải thoát bao đau khổ triền miên 
Hồn tôi tới trời quên bay bổng 
Màn thép kia dù không lỗ hổng 
Tôi sẽ dùng răng cắn đứt một khâu 
Dù qủy yêu bắt được quẳng vạc dầu 
Tôi vẫn sẽ lao đầu không hối hận 
Dưới bùn sâu, người trâu lận đận 
Đuổi bắt mặt trời theo lệnh ma vương 
Lũ tiểu yêu ngang dọc đầy đường 
Đốc thúc, nghe rình lời than tiếng thở 
Thằng này, sao mặt mày không hớn hO 
Thằng kia, sao dám thở dài? 
Lũ chúng bay phải làm việc bằng hai 
Để qủy chúa mừng sống dai trăm tuổi 
Giữa thời gian muôn người đương chết đuối 
Lòng cầu sao nhanh chóng khắp địa cầu 
Đứng đều lên, ồ tới đánh toang đầu 
Con rắn đỏ vô cùng hung hiểm 
Nó sinh ra lớn lên nhờ xúc siểm 
Nhả nọc hận thù, phờ phỉnh công phu 
Khéo léo đầu cơ lòng yêu nước đui mù 
Lạy lục Tầu Nga không nề điếm nhục 
Đủ hơi sức nó hiện hình phản phúc 
Ngóc đầu, phì rít, bất nhân 
Cắn cổ lê dân, quăng quật mộ phần 
Phá đạo, phá đời, uống khô sông suối! 
Ôi thằng Tây mà trước kia người dân không tiếc
máu xương đánh đuổi 
Nay họ xót xa luyến tiếc vô chừng 
Nhờ vuốt nanh của lũ thú rừng 
Mà bàn tay tên cai trị thực dân hóa ra êm ả! 
Lòng ái quốc bị lừa còn đương nằm buồn bã 
Đảng gian ma mong kiếm chác thêm gì 
Bay tha hồ viện tới Lý, Trần, Lê 
Người dân đã chán chê với cái trò hề chiến tranh
cách mạng 
Cái họ được là khăn tang và nạng 
Cái mất đi ánh sáng cuộc đời 
Đảng bắt câm, bắt nói, bắt khóc, bắt cười 
Bắt đói, bắt làm, hé răng oán thán 
Là tù ngục mục xương độc đoán 
Phải chăng đó giá công lao huyết hãn 
Mấy ngàn ngày đánh Pháp những năm xưa? 
Biết là bao ô uế, lọc lừa 
Người dân đã có thừa kinh nghiệm 
Bùa phép yêu ma không còn linh nghiệm 
Bạo lực đen ngòm trắng nhởn nhe nanh 
Trại lính, trại tù xây lũy thép vây quanh 
Song bạo lực cũng đành bất lực 
Trước sự chán chường tột bực của nhân tâm! 
Có những con người giả đui điếc thầm câm 
Song rất thính và nhìn xa rất tốt 
Đã thấy rõ ngày đồng lầy mai một 
Con rắn hồng dù lột xác cũng không 
Thoát khỏi lưới Trời lồng lộng mênh mông! 
Lẽ cùng thông huyền bí vô chừng 
Giờ phút lâm chung qủy yêu làm sao ngờ nổi! 
Rồi đây 
Khi đất trời gió nổi 
Tàn hung ơi, bão lửa, trốn vào đâu? Bám vào đâu? 
Lũ chúng bay dù cho có điên đầu 
Lo âu, phòng bị 
Bàn bạc cùng nhau 
Chính đám sậy lau 
Sẽ thiêu tất lũ bay thành tro xám! 
Học thuyết Mác, một linh hồn u ám 
Không gốc rễ gì trên mảnh đất ông cha 
Mấy chục năm phá nước, phá nhà 
Đã tới lúc tông đồ phải lôi ra pháp trường tất cả! 
Song bay vẫn tiệc tùng nhật dạ 
Tưởng loài cây to khỏe chặt đi rồi 
Không gì nghi ngại nữa! 
Bay có hay sậy lau gặp lửa 
Còn bùng to hơn cả đề, đa 
Những con người chỉ có xương da 
Sức bật lật nhào, tung hết! 

Hoa cuộc sống Đảng xéo dày, mong nát chết 
Nhưng mà không, sông núi vẫn lưu hương 
Mỗi bờ tre, góc phố, vạn nẻo đường 
Hương yêu dấu còn thầm vương thắm thiết 
Nếu tất cả những tâm hồn rên siết 
Không cúi đầu cam chịu sống đau thương 
Nếu chúng ta quyết định một con đường 
Con đường máu, con đường giải thoát 
Dù có phải xương tan thịt nát 
Trong lửa thiêng trừng phạt bọn gian ma 
Dù chết chưa trông thấy nở mùa hoa 
Thì cũng sống cuộc đời không nhục nhã 
Thì cũng sống cuộc đời oanh liệt đã! 
Nếu chúng ta đồng tâm tất cả 
Lấy máu đào tươi thắm tưới cho hoa 
Máu ươm hoa, hoa máu chan hòa 
Hoa sẽ nở muôn nhà muôn vạn đóa 
Hoa hạnh phúc tự do vô giá, 
Máu căm hờn phun đẫm mới đâm bông! 
Đất nước sa vào trong một hầm chông 
Không phải một ngày thoát ra được đó 
Con thuyền ra khơi phải chờ lộng gió 
Phá xích, phá xiềng phải sức búa đao 
Còn chúng ta phải lấy xác làm bè 
Lấy máu trút ra tạo thành sóng nước 
Mới mong nổi lên vùng lầy tàn ngược 
Nắm lấy cây sào cứu nạn trên cao 
Tiếp súng, tiếp gươm bè bạn viện vào 
Phá núi, vén mây, đón chào bão lộng 
Mới có thể tiến vào hang động 
Tiêu diệt yêu ma, thu lại đất trời 
Thu lại màu xanh, ánh sáng, cuộc đời. 
Chuyện lâu dài, sự sống ngắn, chao ơi! 
Nỗi chờ mong thắm thiết mãi trong tôi. 
Tôi mong mãi một tiếng gì như biển ầm vang dội 
Một tiếng gì sôi nổi con tim 
Đã bao năm rồi teo chết nằm im 
Trong những quan tài hình hài hèn đớn 
Âm tiếng đó dội lan qua các trại tù, trại tập trung
rùng rợn 
Làm suy nghĩ lũ quân thù trâu lợn 
Tái tạo niềm tin cho tất cả những ai 
Đã gần như tuyệt vọng ở ngày mai 
Lũ lau gầy, sậy úa, cỏ tàn phai 
Náo nức, reo hò, trông ngó 
Âm tiếng đó gây thành giông gió 
Khắp đại dương cùng khổ âm u 
Chớp xé trời đen, báo hiệu lũ quân thù 
Giờ hủy thể! 
Tôi mong mãi một tiếng gì như tiếng ầm vang của bể

Đồng bào tôi cũng mong như thế 
Tôi lắng nghe 
Hình như tiếng đó đã bắt đầu 
Nhưng tôi hiểu rằng đó là tiếng của lịch sử dài lâu. 
Nên trời đêm dù thăm thẳm ngòm sâu 
Dường như vô giới hạn ở trên đầu, 
Tôi vẫn nguyện cầu 
Vẫn sống, và tin 
Bình minh tới, bình minh sẽ tới. 
Cờ vô đạo đương ngang trời phấp phới 
Tôi vẫn mơ chân lý tận xa vời 
Tôi lùa tan ngàn vực tối trên đời 
Trong hào quang dữ dội hiển linh! 
Muôn ầm ầm chấn động trời thinh 
Báo hiệu bình minh sét nổ 
Ôi, ghê sợ cả một trời phẫn nộ 
Cả một trời đau khổ khôn lường 
Đã bao ngày nén xuống thảm thương 
Dưới tận đáy đồng lầy tủi hổ 
Sẽ tràn dâng như sóng gầm thác đổ 
Bọn qủy yêu sẽ tới ngày tận số 
Xác lũ bay sẽ ngập đường ngập phố 
Máu lũ bay hoen ố cả nền trời 
Kèn tự do đắc thắng nơi nơi 
Khai mạc bình minh khôi phục cuộc đời. 
Ôi tôi sống và tôi chờ đợi 
Ngày triệu triệu trái tim bùng nổ tung trời! 
Đêm đồng lầy lõm bõm sương rơi 
Cú rúc, Trăng buồn 
Rười rượi.... (1972)

______________________

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện và tác phẩm "Hoa Địa Ngục". Courtesy VietAmReview 

Thi sĩ Nguyễn Chí Thiện, được mệnh danh “Ngục sĩ”, nhà thơ phản kháng nổi tiếng nhất của Việt Nam, vừa từ trần tại Santa Ana, California, Hoa Kỳ lúc 7 giờ 17 phút sáng ngày 2/10/2012, hưởng thọ 73 tuổi. 

Ông sinh ngày 27 tháng 2 năm 1939 tại Hà Nội, học hành và sinh sống ở Hà Nội, Hà Nam, Hải phòng với song thân phụ mẫu và một người chị. 
Ông từng bị chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà bắt giam từ năm 1961, vì tội “phản tuyên truyền” bằng những bài thơ phê phán chế độ. Được trả tự do vào tháng 11 năm 1964, đến tháng 2-1966 ông lại bị tống giam đến tháng 7-1977. Ông viết lại bằng tay tập thơ “Hoa địa ngục” sáng tác và ghi nhớ trong tù. 

Tháng 7-1979, ông đem đưa được tác phẩm này vào bên trong toà đại sứ Anh. Ông không đi tị nạn ở Anh và bị bắt ngay trước cổng toà đại sứ, bị tống giam thêm 12 năm, với chế độ giam giữ khắc nghiệt hơn hết so với những khoảng thời gian bị giam cầm trước đó. 

Tập thơ “Hoa địa ngục” từ toà đại sứ Anh ở Hà Nội được chuyển tới giáo sư Patrick Honey (1925-2005) dạy tại đại học Luân đôn. Sau đó thơ ông được phổ biến trên báo chí, sách vở của người Việt hải ngoại, được dịch và xuất bản bằng Anh, Pháp, Việt ngữ. Năm 1985 ông được tặng thưởng khiếm diện giải thưởng thơ quốc tế tại Rotterdam. 

Từ năm 1981 Tổ chức Ân xá Quốc tế Amnesty International, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Human Rights Watch và Tổ chức nhân quyền Quê Mẹ cùng phát động chiến dịch kêu gọi quốc tế can thiệp với nhà cầm quyền Việt Nam về trường hợp của ông. 

Suốt thời gian đó ông bị giam tại Hoả Lò, Hà Nội, đến năm 1985 bị đưa đi biệt giam giữa rừng, kiệt sức và gần chết đói. Năm 1990 ông được đưa tới trại tù Ba Sao săn sóc thuốc men, và được trả tự do vào tháng 10 năm 1991. 

Được anh ruột bảo lãnh sang Hoa Kỳ từ năm 1995, ông ghi lại và phổ biến tập “Hoa địa ngục” thứ nhì, gồm những bài ông sáng tác và ghi nhớ trong thời gian cầm tù sau . GS Nguyễn Ngọc Bích dịch tác phẩm nay sang Anh ngữ và xuất bản song ngữ. Ông viết tự truyện bằng Anh ngữ, được đại học Hawaii xuất bản trong “Beyond Works: Asian Writers on Their Works.” 

Thi sĩ "ngục sĩ" Nguyễn Chí Thiện được giải thưởng của Hội Nhà văn Quốc tế vào năm 1998. Ông sang Pháp, ở lại đó 3 năm để viết “Hoả Lò tập truyện”. Tác phẩm được dịch sang Anh ngữ, đại học Yale xuất bản năm 2007. 

Nhà thơ cư ngụ tại quân Cam California từ năm 2004, phải phấn đấu thường xuyên với những di chứng bệnh tật trong suốt 27 năm tù ngục, nhưng vẫn đi nhiều nơi để nói chuyện về kế hoạch dân chủ hoá Việt Nam. 

Ông là một người độc thân, mất đi trong sự săn sóc của bạn bè thân hữu và những cuộc thăm viếng của những đồng bào Việt Nam ái mộ thơ văn của ông, ngưỡng mộ ý chí bất khuất của ông trước chế độ cộng sản của Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ Nghĩa. (Theo RFA)

Hai tập thơ tù Nguyễn Chí Thiện & Hồ Chí Minh



Phan Thanh Tâm (Danlambao) - Từ tù lớn đến tù nhỏ, từ tù thời Tây cho đến tù thời nay,Việt Nam là nước có số lượng văn thơ tù ngục nhiều nhất thế giới. Đố ai đếm được nước mình có bao nhiêu thơ tù thì cũng như đố ai biết lúa mấy cây, biết mây mấy từng hay đố ai nằm ngủ mà không mơ vậy. Tuy thế, hầu như mọi người trong chúng ta đều nghe nói tới hai tập thơ Hoa Địa Ngục của Nguyễn Chí Thiện và Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh.

Hoa Địa Ngục với “những vần thơ từ đau khổ bao la” xuất hiện lần đầu tiên hồi tháng 9/80 một cách khá ly kì, do Thời Tập ở Virginia in ra, không tên tác giả, không đầu đề, “song sức phá vạn lần hơn trái phá” của tập thơ đã gây xôn xao trong dư luận. Gần hai năm sau, người ta mới biết tác giả là Nguyễn Chí Thiện, một cái tên lạ hoắc, bị chế độ của Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, tác giả tập thơ Nhật Ký Trong Tù, đày đến tầng cuối địa ngục trần gian, khiến ông phải than rằng: “Tôi sợ bác Hồ vạn lần hơn bác Hổ.”

Nhật Ký Trong Tù được công bố đầu tiên năm 1960, sau vụ Nhân văn Giai Phẩm; năm 1990 mới cho xuất bản toàn bộ gồm 133 bài. Các bộ máy công quyền Việt Nam đã vận dụng mọi phương tiện để năm châu biết Hồ Chí Minh, chẳng những là một nhà cách mạng mà còn là một nhà thơ, một nhà văn hóa nữa. Khác với Hoa Địa Ngục, tập thơ của họ Hồ viết bằng chữ Hán vềtù ngục bên Tàu, từ 29-8-1943 đến 10-9-1943, thời Tưởng Giới Thạch, được dịch ra tiếng Việt để giảng dạy ở các trường trong nước.

Có thề nói sách nào viết về Hồ Chí Minh cũng đề cập tới Nhật Ký Trong Tù. Nó như đứa con cưng được cung phụng đủ điều. Viện Văn Học trong cuốn Suy Nghĩ Mới Về Nhật Ký Trong Tù, với sự cộng tác của 21 giáo sư và nhà nghiên cứu chuyên ngành cho biết “Nhật Ký Trong Tù của Hồ Chí Minh đã được tìm hiểu, nghiên cứu hầu như về tất cả mọi phương diện và công bố dưới nhiều hình thức khác nhau: khảo luận, giảng dạy, bình thơ...” Tác phẩm này được dịch in ở nhiều nước trên thế giới như Liên sô (cũ), Pháp, Balan (cũ), Hungari (cũ), Trung Quốc, Tiệp Khắc (cũ), Mỹ...

Trái lại, Hoa Địa Ngục “tưới bằng xương máu thịt” trong các nhà tù miền Bắc thì lại là một tai họa, lại có cơ bị chôn vùi theo người cưu mang ra nó. Nguyễn Chí Thiện đã phải mất ba ngày moi trong bộ nhớ ở đầu mình, viết lên giấy 400 bài thơ để đưa đứa con tinh thần đào thoát. Ngày 16/7/1979, ông dứt khoát xộc vào Toà Đại Sứ Anh, xin tị nạn nhưng bị từ chối. Ông trao cho ho tập thơ và ba tấm hình. Ông khẩn khoản mong họ cho Hoa Địa Ngục phổ biến ở các nước tự do.


Bước ra ông bị Cảnh sát bắt đưa thẳng vô Hoả Lò, được gọi là “Hanoi Hilton”, nơi giam giữ phi công Mỹ bị hỏa tiển Nga bắn hạ. Đây là lần thứ ba ông sống với “rận, chấy, kẹp cùm, thối khai, dớt dãi”. Lần thứ nhất ông bị bắt năm 1961 sau khi dạy Sử, thế cho một người bạn; vì lời nói “nước Nhật đầu hàng bởi Mỹ thả hai quả bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki” chớ không như cuốn Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 của nhà sách Sự Thật viết “quân Nhật đầu hàng vì thua quân Nga ở Manchuria.”

Lần thứ hai bị tù, năm 1966, vì công an gán ông là tác giả các bài thơ phản động, truyền miệng trong dân chúng ở Hải Phòng và Hà Nội. Ông hay nhẩm thơ trong đầu vì ở tù, giấy bút không có và bị khám trại thường xuyên. Qua lời tựa tập thơ Hoa Địa Ngục do Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ in năm 2006, Nguyễn Chí Thiện thố lộ, “Có những ngày mưa rét, vừa nhẩm đọc, vừa ứa nước mắt, lưng tựa vào tường, người run rẩy.” Để nhớ, ngày nào ông cũng đọc thơ đã làm, “làu làu như một cuộn băng.”

Còn Hồ Chí Minh nếm mùi tù mấy lần? Lần đầu gần hai năm từ 6/1931 đến 1/1933 ở nhà tù Trung Ương Hồng Kông và nhà tù Victoria vì Tống Văn Sơ - tên Hồ Chí Minh bấy giờ - hoạt động cho Cọng Sản quốc tế, bị giam chung với ông già họ Lý “độ 60 tuổi, hòa nhã, mưu trí, và gan góc, giỏi chữ Trung Quốc, làm được thơ.” Lần thứ hai ở huyện Đức Bảo tỉnh Quảng Tây ngày 27/8/1942. Ông rời hang Pác Bó – mà Nguyễn Chí Thiện gọi là hang Ác Thú – ngày 13/8/1942 trở lại Trung Quốc nhằm tìm sự hỗ trợ cho lực lượng của ông từ các nước đồng minh chống phát xít với cái tên mới là Hồ Chí Minh.

Theo sách báo Cộng sản, sau nửa tháng băng rừng, Hồ Chí Minh bị bắt ở Túc Vinh ngày 27/8/1942; bị giải giam qua 30 nhà tù thuộc13 huyện tỉnh Quảng Tây. Nhờ sự can thiệp, vận động từ đảng bộ Cọng sản và Liên Xô cùng các nhân vật trong chính giới Trung quốc ông được thả ngày 10/9/1943. Hồi ký của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh cho biết, “Hồ Chí Minh bị bắt vì khám trong người, cảnh sát Tầu phát hiện có rất nhiều đôla. Nghe nói hồi ở Pác Bó, có người đã thấy ông phơi đôla cho khỏi ẩm mốc.”

Con vua thì được làm vua. Thơ vua thì buộc cả nước vỗ tay reo hò khen hay. Đó là thơ tù của Chủ tịch nhà nước dù sinh ở Tàu, viết tiếng Hán. Thơ tù “của người dân đen, của lớp người sống cực nhọc nhất, thê thảm nhất” ở trong nước phải trốn chui trốn nhủi, phải cao chạy xa bay. Hoa Địa Ngục ra khỏi Việt Nam, vọt xa và cao như rồng gặp mây. Nó ghi chép cảnh thực, tình thực, của một giai đoạn lịch sử đớn đau tột độ, không cường điệu, khuếch đại, bôi đen; lấy chất liệu từ muôn ngàn cuộc đời bị tan nát, chôn vùi.

Uy danh của Hồ Chí Minh đã tỏa sáng cho Nhật Ký Trong Tù. Trái lại, Hoa Địa Ngục thì mang tác giả ra khỏi cuộc đời đen thui. Giờ đây Nguyễn Chí Thiện là một trong những tên tuổi Việt Nam lẫy lừng nhất thế giới. Trước đó, tuy chưa biết của cha căn chú kiết nào nhưng báo nói, báo in các nơi đã đua nhau phổ biến “tiếng của cuộc đời nức nở” trong tập thơ. Hơn hẳn Nhật Ký Trong Tù, chưa có nhạc sĩ người Việt nào phổ nhạc; nhiều bài trong Hoa Địa Ngục đã được nhạc sĩ Phạm Duy, Phan Văn Hưng, Trần Lãng Minh, Nguyễn Văn Thành (Dân Chủ Ca) đưa vào âm nhạc. Một số bài có cả lời Anh nữa.

Giải Nobel Về Văn Chương

Ba lần được đề cử lãnh giải Nobel về Văn chương; vào tự điển Who’s Who in Twentieth-century World Poetry; hội viên danh dự của nhiều trung tâm văn bút Pháp, Hoà Lan…; được nhiều giải thưởng: Gỉai thưởng thơ Rotterdam (1984), Freedom to Write Prize của Trung tâm văn bút Hoa kỳ,và ba năm làm khách danh dự của International Parliament of Writers; dịch ra tiếng Anh, Pháp, Đức, Tiệp, Hòa lan, Trung Hoa, Đại hàn … bởi các dịch giả nổi tiếng như: Huỳnh Sanh Thông, Nguyễn Ngọc Bích, Ỷ Lan, Võ Văn Ái, Nguyễn Hữu Hiệu, Nguyễn Thị Hằng, Nguyễn Ngọc Phách, Bùi Hạnh Nghi, Bùi Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Quỳ, Jachym Topol, Dominique Delaunay…

Ngoài ra, nhân Nghị Hội Quốc tế các Nhà văn (Parlement des Ecrivains) ở Âu Châu bảo trợ để giúp ông phục hồi sức khỏe ở St-Lô gần Normandie (Pháp) và nghiên cứu, diễn thuyết từ 1999 đến đầu tháng 6/2001, ông đã hoàn thành tập truyện Hỏa Lò, gồm sáu truyện ngắn, một truyện vừa. Đôi khi trong cái rủi nằm phục một điều hay. Nhờ bị tống vào “Hỏa Lò gần Trung Ương nhất” nơi “con người gần con vật nhất,” nền văn học Việt Nam có thêm một tác phẩm văn xuôi nói về một địa ngục có thật. Sống tổng cọng 27 năm trong tù, Nguyễn Chí Thiện đích thực là một chứng nhân của thời đại mả tù và mả lính. 

Trong www.vietnamlit.org của G.S Dan Duffy bằng tiếng Anh, mục tự truyện (autobiography), với sự nhuận bút của Jean Libby, một nhà hoạt động xã hội, tác giả Hoa Địa Ngục kể rõ việc xộc vào toà Đại sứ Anh và các lần bị tù cùng thân thế của mình. Nguyễn Chí Thiện sinh ở Hà nội ngày 27/2/39, thành công dân Mỹ ngày 20/10/04. Qua Mỹ nhờ sự vận động của Đại tá Noboru Masuoka và các tổ chức nhân đạo. Ông có người anh, ông Nguyễn Công Giân, cựu trung tá trong QLVNCH. Ông viết, quả là nhờ số mệnh và sống được là một phép lạ. 

Đứa con tinh thần mà ông đưa đào thoát ra nước ngoài ở Toà Đại sứ Anh, gần 30 năm sau đã về lại với người viết ra nó. Trên nhật báo Người Việt, Nguyễn Chí Thiện cho biết khoảng tháng Sáu năm 2008, ông có nhận từ Giáo Sư Lê Mạnh Hùng nguyên bản tập thơ Hoa Ðịa Ngục mà bà vợ của Giáo Sư Patrick Honey (Phòng Nghiên Cứu Phi Châu và Phương Ðông tại Luân Ðôn) đã cho Giáo Sư họ Lê giữ bản này sau khi Giáo Sư Honey mất (2005). Bản ông viết hai mặt giấy, có nhiều trang bằng mực đỏ. Dưới lá thư viết bằng tiếng Pháp, có ghi tên ông và địa chỉ “136 Rue de La Gare, Hải Phong.”

Theo ông, “để giữ an ninh cho tôi, Bộ Ngoại Giao Anh đã cắt bỏ phần này.” Bản Văn Nghệ Tiền Phong thì do ông Châu Kim Nhân giao cho từ ông Ðỗ Văn. Ông Hùng và ông Văn đều từng làm cho BBC. Hoa Địa Ngục xuất hiện đầu thập niên 80; có lẽ vì vô đề nên Thời Tập lấy câu thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực làm tựa và Văn Nghệ Tiền Phong thì đặt tên là Chúc Thư Của Một Người Việt Nam. Nhà Xuất Bản Tổ Hợp Miền Đông Hoa Kỳ cho hay, tập tuyển dịch sang tiếng Anh năm 1984 của Huỳnh Sanh Thông (Flowers from Hell) đã khẳng định tựa đề là Hoa Địa Ngục và tên tác giả chính xác là Nguyễn Chí Thiện, dựa trên một bức thư của Giáo sư Honey.

Tác Giả Dởm

Nguyễn Chí Thiện họp báo ngày 25/10/08 ở Quận Cam Cali để phản bác lại chuyện có người nghi ông là Thiện “dởm”; tác giả Hoa Địa Ngục đã chết; Lý Ðông A mới là tác giả thực. Ông thách người tố giác $200,000, nếu chứng minh ông là người giả mạo. Nguyễn Chí Thiện còn trưng dẫn tài liệu việc giảo nghiệm chữ viết, hình ảnh để xác nhận: “Tôi là tác giả tập thơ Hoa Ðịa Ngục”. Một số tên bạn tù hiện ở quận Cam, Hà Nội, Pháp và ngay cả còn trong tù cọng sản cũng được ông nêu ra. Nguyễn Chí Thiện quả quyết nói, “tôi thường đọc thơ cho họ nghe trong tù.” 

Thật ra, nếu trường Ecole Coloniale của Pháp năm 1911 cho Hồ Chí Minh xin vào học làm quan, lúc đó tên là Nguyễn Tất Thành thì Việt Nam chắc sẽ không có Việt Gian, Việt Cộng, Việt kiều, không có Đấu tố, Mậu Thân, Mỹ Lai, Chất độc da cam; không thuyền nhân vượt biển, không trại cải tạo; không có Nhật Ký Trong Tù, Hoa Địa Ngục; không có thơ: Yêu biết mấy con nghe tập nói, Tiếng đầu lòng, con gọi Xít ta lin; hay bài hát: 1-2-3, ta là cha thằng Mỹ, 4-5-6, ta là cháu bác Hồ, 7-8-9, ta là lính thủ đô, 10-20, ta là người Xô viết; hoặc câu ca dao:Chiều chiều trên bến Ninh Kiều, Dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân; và tuyệt nhiên không có dịnh nghĩa đầy tính Việt gian: yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa.

Theo dòng đời, ông thành đảng viên Cọng sản năm 1920, được huấn luyện tại Đại học Phương Đông (1923) và Đại học Lénine (1934). Hồ Chí Minh chọn chủ nghĩa Mác Lê làm “cẩm nang thần kỳ” vì ông có một Tổ quốc Cách Mạng Nga để phục vụ; có một sứ mệnh xây dựng phong trào vô sản ở Châu Á để hoàn thành; và có một “người cha, thầy học, đồng chí và cố vấn” là Lénine để tuân phục. Trước đó, năm 1919 ông đã đạo danh Nguyễn Ái Quốc, tên chung của Hội Những Người An Nam Yêu Nước do Phan Châu Trinh đứng đầu, để làm tên của mình.

Tập thơ Hoa Địa Ngục và tập truyện Hỏa Lò của Nguyễn Chí Thiện gây ấn tượng mạnh hơn Nhật Ký Trong Tù và Những Mẩu Chuyện Về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch do Trần Dân Tiên - tức Hồ Chí Minh - viết. Những cảnh bị trói cánh khuỷu, cổ mang vòng xích, ăn không đủ hay ở chung với tù bệnh giang mai cùng tháng ngày tù ngục ở bên Tàu mà họ Hồ tả chẳng thấm vào đâu nếu so với những thống khổ mà Nguyễn Chí Thiện phải chịu trong chế độ lao tù Miền Bắc. Hơn nữa, đảng Cộng sản có cả một mạng lưới bảo vệ Hồ Chí Minh. Thời gian tù Hồng Kông, hai luật sư người Anh bào chữa cho ông và ông còn được ăn cơm Tây, ngủ giường tốt.

Phần Nguyễn Chí Thiện thì đã “sống bẩn thỉu, hôi hám như một con chuột cống, có điều thua con chuột cống ở chỗ đói, rét, ốm, đi không vững.” Thân cô, thế cô, nhiều lúc quá tuyệt vọng, rũ rã, ông muốn chết. Nguyễn Chí Thiện tồn tại được là nhờ “Thơ và Mơ”; phải sống để đưa ra khỏi nước “mấy vần thơ ai oán”. Còn Nhật Ký Trong Tù tung ra chỉ để tuyên truyền, làm đẹp cuộc đời Hồ Chí Minh. Trong Những Mẩu Chuyện của Hồ Chủ Tịch, ông tự cho mình là cha già dân tộc. Danh xưng dân Ấn tôn vinh Mohandas Gandhi (1869-1948), người đã thuyết phục được Anh Quốc trả độc lập cho Ấn bằng con đường hòa bình ngày 15/8/1947. Hồ Chí Minh đã ăn cắp ý này.

Ai là tác giả Nhật Ký Trong Tù?

Sự nghiệp và cuộc đời hai tác giả khác hẳn nhau. Gần nửa đời người, Nguyễn Chí Thiện chỉ biết hết tù nhỏ đến từ lớn, không vợ con, chay tịnh. Tài sản của ông là Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò, được kết nụ, nung nấu trong lòng chế độ mà Hồ Chí Minh đã xây dựng sau 30 năm bôn ba hải ngoại. Sự nghiệp Hồ Chí Minh là làm cách mạng chuyên nghiệp, cướp chánh quyền. Có cả trên trăm lần thay tên đổi họ. Chỉ Đệ tam quốc tế của Liên sô mới thấu rõ “con đường bác đi” vì tên ông có trong sổ lương. Vợ Tăng Tuyết Minh (1), con Nguyễn Tất Trung (2), nhưng vẫn sống lối độc thân tại chỗ, được tôn làm vua đạo dụ. Một điều giống nhau, cả hai ông đều bị tố: kẻ đạo thơ.

Ở Việt Nam, chẳng ai dám bàn nhiều về chuyện này. Trong bài “19/5 không phải là ngày sinh của Hồ Chí Minh” (3), Đinh Tiểu Nguyễn cho biết, “Ngày 15 tháng 10 năm 1998, tại Ban Việt học của Đại Học Paris VII, Giáo sư người Nhật, ông Kenichi Kawaguchi, Hội viên Văn Bút Nhật bản, Giáo sư tại Đại học Tokyo, Ban Bang giao quốc tế, thuật chuyện ông về Hà Nội. Nghe nói tập thơ Tù của Hồ Chí Minh, ông đã đến Hà Nội tìm đọc và có thể sẽ dịch ra tiếng Nhật. Một giáo sư người Việt thấy vậy, vỗ vai ông vừa cười và bảo tập thơ ấy có phải của ông Hồ đâu mà ông mất công nghiên cứu.”

Theo Wikipedia tiếng Việt, Nhật ký trong tù, nguyên gốc tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, ghi bốn chữ "Ngục trung nhật ký" (tức Nhật ký trong tù), kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong gồm hơn 100 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép; ở trang đầu ghi 29.8.1932 và ngày 10.9.1933, trang sau ghi 29-8-1942 và 10-9-1943là lúc Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Tây. Điều này làm nảy sinh nhiều nghi vấn về tác giả và thời điểm sáng tác của tập thơ.

Đã có nhiều bài báo bàn ra tán vào về nghi vấn ai là tác giả. Trước hết là con số bài thơ trồi sụt bất thường. Ngày tháng tù của ông Hồ ở bìa sách và lưng sách sai biệt 10 năm. Chữ viết có vẻ khác. Trang đầu dùng chấm, chữ nghiêng trái. Trang chót dùng gạch ngang, chữ hơi ngã phải. Hầu hết các bài báo cho là Hồ Chí Minh lấy thơ người khác rồi viết thêm thơ mình vào; nên Hồ Chí Minh không thể là tác giả của Ngục Trung Nhật Ký gốc được. Mặt khác, trong cuốn “Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện,” tác giả T. Lan cũng là tên của Hồ Chí Minh cho biết: Ở Quảng Tây ông chỉ bị bắt “giải đi suốt 18 nhà lao”.

Giáo sư Lê Hữu Mục, dạy Triết trường Quốc Học Huế và các Đại Học Văn Khoa trước 1975, nhờ còn ở Việt Nam sau 30/4/75 nên ông đã “thọc sâu vào được cái bóng tối dày đặc bao bọc chung quanh tập thơ.” Qua Canada ông đã viết tập “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục Trung Nhật Ký.” Theo ông, Ban Tuyên giáo Cộng Sản đã rất công phu trong việc gán ép quyền tác giả tập thơ cho Hồ Chí Minh. Trong tương lai, vẫn theo giáo sư, “nó sẽ bị đánh bật ra khỏi tay Hồ Chí Minh, sẽ được trao trả cho tác giả đích thực của nó là già Lý.” Đó là ông lão hay làm thơ, cùng bị giam với Hồ Chí Minh ở Hồng Kông những năm 1932-1933.

Vụ đạo thơ lớn nhất trong lịch sử

Tập biên khảo, được xuất bản bởi Ủy Ban Tố Cáo Tội Ác Hồ Chí Minh năm 1990 ở Paris còn cho biết, “quốc tịch Trung Hoa của con người trong tập thơ nổi bật lên một cách dễ dàng,” nếu đọc kỹ các bài thơ. Con người này là ông già Lý, chúa một dãy núi, kể lại đời sống ở những vùng rừng núi khi còn trẻ qua nhiều bài thơ trong cuốn sổ tay đó. Ngoài ra, có những từ liên hệ trực tiếp với Hồng Kông hơn là ở Quảng Tây; phù hợp với con số 1932-1933 mà nhà văn Đặng Thái Mai đã nêu ra, mới đúng là năm viết Nhật Ký Trong Tù. 

Viện Văn Học trong cuốn Suy Nghĩ Mới Về Nhật Ký Trong Tù đã bác lập luận của Lê Hữu Mục bằng bài “Câu Chuyện Tác Giả Ngục Trung Nhật Ký” của Phó Giáo sư Phan Ngọc tức Nhữ Thành. Phó giáo sư này, khẳng định là tập thơ “viết cùng một thứ chữ; xuất xứ đâu có phải mơ hồ.” Tác giả Nhữ Thành còn cho rằng, “Quyển sách Lê Hữu Mục viết ra thực tế là hành động giơ dao.” Ông khuyên Giáo sư này, “Nên buông dao thì hơn.” Về dòng chữ đề ngày 29.8.1932 – 10.9.1933 ở ngoài bìa, Viện văn học biện minh là để “nguỵ trang.” 

Dù vậy, những phản biện của Viện Văn Học không đủ thuyết phục, không đánh tan được nghi vấn ăn cắp thơ của Hồ Chủ Tịch từ nửa thế kỷ nay. Đây là một vụ án đạo văn thơ lớn nhất trong lịch sử văn học Việt Nam, có sự hỗ trợ của quyền lực. Thời gian chỉ làm dịu vơi nỗi khổ, niềm đau; chớ không thể xóa bỏ sự hoài nghi hay gian ác được. Hồ Chí Minh đã đi vào lịch sử Việt Nam bằng con đường cách mạng vô sản, để lại nhiều mả tù, mả lính, xương trắng Trường sơn, và gây cảnh Nam Bắc phân ly, huynh đệ tương tàn. Đường vào văn học sử thì khác. Rất dễ nhưng rất khó. Nó đòi hỏi sự thật và nghệ thuật.

Tù nhân Nguyễn Chí Thiện, trước các làn sóng tố cáo “Thiện giả, ăn cắp thơ,” đã chấp nhận giảo nghiệm hình ảnh và chữ viết của mình để minh chứng tên tác giả thực của Hoa Địa Ngục. Đảng Cọng Sản Việt Nam thừa kế di sản Hồ Chí Minh tổ chức cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh từ 3/2/2007 đến 3/2/2011 thì không gì cụ thể và ngay thẳng hơn: cho công bố cuộc giảo nghiệm chữ viết và con số cùng bút tự chữ Hán trong các di cảo của ông Hồ với cuốn sổ gốc Nhật Ký Trong Tù. Nếu hô hào suông, thần tượng Hồ Chí Minh chỉ là: Trông xa ngỡ tượng tô vàng; Nhìn gần lại hóa toàn là đồ gian.

Thật vậy, thực tiễn mới là thước đo chân lý. Muốn biết về thời đại Hồ Chí Minh thì “Hãy lắng nghe tiếng vọng từ đáy vực” bằng cách đọc Hoa Địa Ngục và Hỏa Lò. Kinh nghiệm Cộng sản là một cái gì cụ thể. Trong “Hồi kí Nguyễn Hiến Lê”, một học giả có cả trăm đầu sách, rất có ảnh hưởng ở miền Nam, ông viết, muốn thấy chế độ đó ra sao thì phải sống dưới chế độ. Đó là bài học đầu tiên và vô cùng quan trọng mà tôi và có lẽ cả 90% người miền Nam rút được. Mấy ông Tây bà đầm, các nhà khoa bảng lẫy lừng khi nói đến họ Hồ nên nhớ đến lời này. Mong lắm thay!



___________________________________

Chú thích:

Chìm tàu ở Hạ Long, 5 khách nước ngoài tử nạn



Chiều 3/10, tại khu vực hang Sửng Sốt, vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) đã xảy ra vụ va chạm giữa xuồng chở khách và tàu Đông Phong khiến 5 người thiệt mạng.

Theo thông tin ban đầu, lúc 15h30, tàu chuyển tải (loại nhỏ) đưa 18 khách Đài Loan của Công ty Smile Việt (Hà Nội) trở lại tàu Paradise QN 6688 đã va chạm với tàu Đông Phong QN 1402. Sau khi xảy ra va chạm, tàu chuyển tải bị chìm, các lực lượng tìm kiếm cứu nạn tại chỗ đã khẩn trương tìm kiếm.
Nan nhan
Những người bị nạn được đưa khỏi hiện trường. Ảnh:Vietnam+
Tuy nhiên, 5 người đã thiệt mạng, trong đó có 4 người lớn và một bé gái 9 tuổi. Các nạn nhân đã được đưa về Bệnh viện Đa khoa khu vực Bãi Cháy để làm các thủ tục theo quy định. 13 người được cứu đã về khu nghỉ Tuần Châu.
UBND tỉnh Quảng Ninh đang chỉ đạo các cơ quan chức năng điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân vụ việc.
Chung Thủy

Bão Gaemi sẽ đổ bộ vào miền Trung



Thay đổi hướng đi nhiều lần, bão Gaemi được nhiều cơ quan khí tượng dự báo sẽ tăng cấp độ và đổ bộ vào miền Trung ngày 6/10. Chính phủ yêu cầu các địa phương chuẩn bị phương án sơ tán dân.
>Bão Gaemi liên tục đổi hướng

Theo Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương chiều 3/10, tâm bão cách quần đảo Hoàng Sa chừng 600 km về phía đông đông nam. Sức gió mạnh nhất ở vùng gần tâm bão mạnh cấp 10. Đêm nay và ngày mai, bão có khả năng đổi hướng về phía nam sau đó đổi hướng di chuyển về phía tây, mỗi giờ đi được khoảng 5 km và có khả năng mạnh thêm. Chiều 4/10, tâm bão cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 540 km về phía đông đông nam với sức gió không đổi. Cơn bão sau đó được dự báo tăng tốc và mạnh thêm một cấp.
Bão Gaemi trên biển Đông chiều 3/10. Ảnh: NEA.
Bão Gaemi trên biển Đông chiều 3/10. Ảnh: NEA.
Phát biểu tại cuộc họp khẩn của Ban chỉ đạo PCLB và Ủy ban Quốc gia TKCN, ông Bùi Minh Tăng, Giám đốc Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương cho hay, nhiều khả năng ngày 6/10 bão số 7 sẽ đổ bộ vào các tỉnh Bắc Trung Bộ. Từ chiều tối 5/10, các tỉnh ven biển Trung Bộ đã bắt đầu có mưa và lượng tăng dần trong 2 ngày tiếp tiếp đó.
Để ứng phó, đến chiều nay, Bộ đội biên phòng đã kêu gọi và thông tin diễn biến bão số 7 đến khoảng 48.000 tàu với gần 240.000 lao động đang hoạt động trên biển. Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao đã có Công hàm gửi đại sứ quán các nước Trung Quốc, Philippines tại Hà Nội, đề nghị tạo điều kiện thuận lợi cho các ngư dân cùng tàu, thuyền Việt Nam được trú tránh bão và lên bờ khi cần thiết, được hỗ trợ cứu nạn trong trường hợp gặp sự cố.
Các cơ quan dự báo khí tượng thế giới dự báo đường đi của bão. Ảnh: TRS.
Các cơ quan dự báo khí tượng thế giới dự báo đường đi của bão. Ảnh: TRS.
Chỉ đạo cuộc họp, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu các địa phương theo dõi sát hướng di chuyển của bão số 7 và phối hợp chặt chẽ với biên phòng tuyến biển kiểm đếm tàu thuyền, cung cấp thông tin bão; tiếp tục kêu gọi, hướng dẫn tàu thuyền đang hoạt động trên biển nhất là ở vùng biển giữa quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa di chuyển vào bờ hoặc thoát khỏi vùng nguy hiểm. Phó thủ tướng nhấn mạnh, các địa phương đặc biệt lưu ý mưa kèm theo bão tập trung đối phó bão và có phương án chuẩn bị sơ tán dân những khu vực nguy hiểm không để xảy ra trường hợp đáng tiếc về người trước, trong và sau bão.
Nguyễn Hưng