THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog

23 April 2013

HIẾN PHÁP CỘNG HÒA: Lý Thuyết của Immanuel Kant và Thực Tế tại Việt Nam


hienphap-conghoa

Vấn đề

Hiến pháp là nền tảng pháp lý cho sự chung sống của một dân tộc và là điều kiện tiên quyết cho sự thịnh vuợng của đất nước. Hiện nay vấn đề sôi nổi trong công luận là tìm một mô hình thích hợp và một lộ trình khả thi cho việc tu chỉnh Hiến pháp Việt Nam. Các góp ý xoay quanh các chủ đề du nhập nguyên tắc tam quyền phân lập, lập mối ràng buộc giữa Đảng quyền và luật pháp, trao lại thẩm quyền lập hiến cho toàn dân, nâng cao kỹ năng lập pháp và lập quy của quốc hội và tôn trọng thực thi nhân quyền của chính quyền là chính.
Để đóng góp vào việc thảo luận chung, tiểu luận sau đây sẽ giới thiệu mô hình hiến pháp theo thể chế cộng hoà, một luận điểm về luật Hiến pháp mà Immanuel Kant đã cổ vũ trong luận thuyết „Hướng về một nền hoà bình vĩnh cữu“ để làm cơ sở sở chiếu với hiện trạng Hiến pháp Việt Nam.

Lý thuyết của Immanuel Kant

Tác giả
Immanuel Kant (1724-1804) là giáo sư Siêu hình học và Đạo đức học tại đại học Königsberg thuộc Phổ nay là Kaliningrad thuộc Nga. Với các tác phẩm kinh điển bậc nhất như Kritik der reinen Vernunft, Kritik der praktischen Vernunft và Kritik der Urteilskraft ông là một triết gia hàng đầu trong phong trào khai sáng tại phương Tây và được hậu thế tôn vinh là ngưòi khai sinh ra môn Đạo đức học hiện đại.
Tác phẩm
Trong chiều hướng đóng góp cho nổ lực hoà đàm giữa Pháp và Phổ tại Basel, Kant đã giới thiệu một sơ thảo triết học „Zum ewigen Frieden“ (1795) „Hướng về một nền hòa bình vĩnh cữu“ nhằm thảo luận về những nguyên tắc để đem lại một nền hoà bình cho nhân loại. Điểm quan trọng trong luận văn này của Kant là đặt lại mối quan hệ giữa luật hiến pháp và luật quốc tế, cổ vũ tinh thần thượng tôn luật pháp trong việc giải quyết các tranh chấp quốc nội và hợp tác quốc tế. Trong lĩnh vực soạn thảo luật hiến pháp ông cho rằng “Hiến pháp dân sự của mọi quốc gia phải theo thể chế cộng hòa”, đây là một điều kiện tiên quyết mà nội dung sẽ được trích dịch và dẫn luận sau đây.
Trích dịch nội dung
Điều khoản chung quyết thứ nhất: “Hiến pháp dân sự của mọi quốc gia phải theo thể chế cộng hòa”.
Thứ nhất, hiến pháp này được lập ra phải dựa trên nguyên tắc tự do cho mọi thành viên của xã hội như là một con người; thứ hai, tất cả mọi người phải bị ràng buộc vào một pháp chế chung và duy nhất như một chủ thể; và thứ ba, hiến pháp quy định luật bình đẳng dành cho tất cả mọi người như công dân. Hiến pháp, cơ sở duy nhất mà nguồn gốc dựa trên tư tưởng của một hợp đồng nguyên thủy để thiết lập cho một quyền lập pháp hợp pháp của dân tộc, phải theo thể chế cộng hoà. Khi đặt vấn đề này liên hệ đến luật pháp thì hiến pháp cộng hòa tự nó là nguyên tắc nền tảng hình thức của mọi loại hiến pháp dân sự. Vấn đề là hiến pháp này có thể là cách duy nhất dẫn đến một nền hòa bình vĩnh cữu không.
Ngoài nguồn gốc vững chắc, hiến pháp cộng hòa là cơ sở thuần túy bắt nguồn từ các khái niệm luật pháp và sẽ có triển vọng đạt được kết quả mong đợi, cụ thế là một nền hòa bình vĩnh cữu. Lý do đó như sau: – Nếu khuôn khổ của hiến pháp không quy định khác hơn, thì vấn đề gây chiến cần có sự đồng thuận của toàn dân. Không có gì hiển nhiên hơn là vấn đề này phải được cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định đưa đến những kinh hoàng của chiến cuộc, (có nghĩa là dân phải tự chiến đấu, chịu mới chiến phí, đóng góp và tái thiết thiệt hại do chiến tranh để lại, và cuối cùng còn một điều trầm trọng nhất chấp nhận một gánh nợ sẽ làm hoà bình chua chát hơn, một loại nợ mà không bao giờ trả hết trong trường hợp một cuộc chiến mới lại đến và người dân sẽ suy nghĩ là một trò chơi nguy hiểm khác lại bắt đầu). Ngược lại, nếu trong hiến pháp mà người dân chỉ là thuộc hạ, nghiã là không theo thể chế cộng hòa, thì sự tham chiến là một chuyện trầm trọng nhất trên thế gian, vì lãnh đạo không còn là người dân mà là chủ nhân ông của đất nước, không bị chút thiệt hại nào trong chiến tranh trong khi họ tiếp tục tiệc tùng, săn bắn, hưởng lạc thú nơi cung điện với yến tiệc. Lãnh đạo có thể quyết định chiến tranh như một loại trò chơi do những nguyên nhân không đáng kể. Về biện luận đạo đức cho cuộc chiến họ lại không bận tâm vì có ngoại giao đoàn luôn sẵn sàng phục vụ.
Để tránh lầm lẫn giữa hai loại hiến pháp cộng hòa và dân chủ, ta cần phân biệt như sau.
Các hình thức của một đất nước (dân sự) có thể theo hai nguyên tắc: sự khác biệt dựa trên số người nằm quyền lực cai trị tối cao của nhà nước hoặc phương cách cai trị của nhà lãnh đạo mà bất kể họ là ai. Phương thức thứ nhất được gọi chung là hình thức cai trị và có thể có ba loại khác nhau, chủ quyền tối thượng thuộc về một người, hoặc do nhiều người hoặc do toàn thể dân chúng tạo thành xã hội dân sự, từ đó mà lãnh đạo có quyền thống trị (chế độ phong kiến, qúy tộc hay dân chủ và quyền lực chuyên chế, phong kiến hay toàn dân). Nguyên tắc thứ nhì phân loại theo hình thức chính quyền và dựa theo hiến pháp mà nhà nước sử dụng quyền tối thượng (từ mọi hành vi của ý chí chung mà qua đó phần đông dân chúng tạo thành dân tộc). Trong mối quan hệ này thì hình thức của chính quyền hoặc cộng hòa hay chuyên chế. Thể chế cộng hòa là một nguyên tắc tổ chức nhà nước tách rời quyền hành pháp ra khỏi quyền lập pháp. Thể chế chuyên chế là nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước từ những luật pháp do mình tự tạo ra mà ý chí chung được coi như là ý riêng của lãnh đạo. Trong ba hình thái nhà nước, thì dân chủ trong ý nghĩa của danh từ này là một hình thức chuyên chế cần thiết, bởi vì nó lập ra quyền hành pháp, mà tất cả có quyết định chung và trong mọi trường hợp là một cơ chế quyền lực của toàn thể có quyền chống lại bất cứ một cá nhân nào mà toàn thể phản đối. Dù gọi là toàn thể, thực ra không phải lúc nào cũng đúng là toàn thể, mà là một đa số, thực tế này cho thấy có một điều tự mâu thuẫn với nguyên tắc ý chí chung và mâu thuẩn với nguyên tắc tự do.
Bất cứ hình thức chính quyền nào mà không phải là đại nghị, thì cũng không phải là một hình thức thật sự, bởi vì nhà lập pháp cũng là người cưỡng chế ý chí của mình, (giống như trong luận lý học, khi nguyên tắc suy luận tổng quát cùng lúc lại được suy diễn trở thành nguyên tắc riêng trong phần kết luận).
Khi hai hình thức khác của hiến pháp luôn có khuyết điểm, nhưng ít nhất trong lốị cai trị này cũng mở ra một cách tự do để tạo ra một chính quyền khác, phù hợp với tinh thần của một hệ thống đại nghị như Friedrich II thường nói: “Tôi chỉ là một người phục vụ tối cao cho đất nước“, vì trong hình thức dân chủ làm cho điều này bất khả, trong chế độ này mọi người đều làm chủ ý chí của mình. – Ta có thể nói thành phần nhân sự trong quyền lực nhà nước càng ít (số lượng nhà lãnh đạo) thì quyền đại biểu càng rộng, nhờ thế mà hiến pháp của nhà nước càng có nhiều khả năng thiên về chế độ cộng hòa, điều này cuối cùng cho phép các cải cách tiệm tiến cũng đạt được. Chính vì lý do này mà chế độ quý tộc khó khăn hơn quân chủ, và trong chế độ dân chủ càng không thể đạt tới hiến pháp hợp pháp hoàn chỉnh duy nhất, ngoại trừ có cách mang bạo động. Tuy nhiên, điều không thể tranh cải là loại hình thức chính quyền này có tầm quan trọng đối với dân chúng hơn các loại hình thức hiến pháp khác, dù mức độ thích nghi nhiều hay ít của dân chúng cho mục tiêu này cũng quan trọng. Hình thức chính quyền khi phù hợp với khái niệm pháp luật, phải thuộc về hệ thống đại nghị, mà một chính quyền theo chế độ cộng hoà là hình thức khả thi, nếu không, dù có hiến pháp nào đi nữa thì loại chính quyền này cũng chỉ là chuyên chế và bạo lực. – Không có một cái gọi là nền cộng hòa nào trước đây có thể nhận ra điều này, các chế độ này bị hoà nhập trong chế độ chuyên chế, phải lệ thuộc hoàn toàn dưới quyền tối thượng của một cá nhân, đây là một chiụ đựng nặng nề nhất cho toàn dân. (Trích dịch từ nguyên tác Đức ngữ „Zum Ewigen Frieden, Ein Philosophischer Entwurf“, Königberg, bey Friederich Nicovius, 1795, được in lại trong „Die Kritiken“, 2008, Zweitausendeins, Frankfurt am Main, 1099-1112)

Dẫn luận nguyên tác

Nguyên tắc hình thành hiến pháp
Theo Kant có ba nguyên tắc cho hiến pháp cộng hoà hình thành. Một là tự do cho mọi người dân, hai là tất cả đều bị ràng buộc trong một hệ thống pháp luật và ba là tất cả được bình đẳng trước pháp luật. Hiến pháp dựa trên một kết ước nguyên thủy, một sự đồng thuận giữa người dân và nhà nước để quy định sự chung sống. Thực ra, lý thuyết về kết ước xã hội đã được Rousseau đề xuất, nhưng Kant đào sâu khiá cạnh ràng buộc khi tất cả đồng thuận trong sự chung sống này. Từ đó mà tình trạng tự nhiên sống tự do hổn loạn chấm dứt và nền tảng cho sự chung sống an hoà thành hình. Kant cho rằng hiến pháp là một quyết định thuần lý của con người nhằm tạo một cấu trúc quy phạm cho xã hội và đặc biệt nhất là tạo chính danh cho nhà lãnh đạo trong việc cai trị.
Chính danh cho chính quyền trong việc cai trị tùy thuộc vào việc áp dụng pháp luật. Luật pháp phải phù hợp với ý chí chung của toàn dân và mọi quyền lợi luật định của ngưòi dân phải được bảo vệ. Không ai có quyền chống đối người khác mà không dựa trên cơ sở pháp luật, một sự đồng thuận làm ràng buộc tất cả.
Kant dè dặt hơn khi nói về ý nghĩa sự đồng thuận của toàn dân, vì toàn dân là một khái niệm tương đối: chính quyền là một tổ chức không hoàn hảo và mức độ tham gia của dân chúng vào sinh hoạt chính trị là chừng mực. Nhưng dè dặt nhất là Kant không cổ vũ công bình và đaọ đức khi toàn dân thể hiện ý chí chung sống trong luật Hiến pháp. Dù thể hiện ý chí chung sống nhưng người dân cùng lúc có quyền theo đuổi tư lợi, vì hai phạm vi này không loại trừ nhau. Kant chú trọng công bình theo luật thủ tục hơn là nội dung. Một đạo luật được coi là công bình khi tất cả mọi người có liên quan vấn đề đều có đồng quyền tham gia quyết định và luôn tôn trọng các thủ tục sau khi được thoả thuận.
Dù dựa trên quan điểm hợp đồng như Rousseau, nhưng Kant đề cao nguyên tắc tự do và bình đẳng. Tự do là một quyền bẩm sinh và không thể chuyển nhượng, nhưng biểu hiện quyền tự do trong thực tại xã hội là một vấn đề khác. Lập luận của Kant là „Tự do là một quyền không đòi hỏi tôi lệ thuộc vào bất cứ luật ngoại tại nào, trừ những luật mà tôi có thể đồng thuận. Tôi bị ràng buộc pháp luật với người khác vì trước đó tôi đồng thuận tự đặt mình trong khuôn khổ luật pháp“.
Khi giải thích khái niệm luật pháp Kant cho là luật nào cũng giới hạn tự do cá nhân, nhưng biểu hiện tự do là “làm tất cả những gì mình muốn và không gây điều phạm pháp cho người khác“, bởi thế vai trò lý trí cá nhân trở nên quan trọng hơn khi nhận xét vấn đề. Mức độ cảm nhận tự do và khả năng hành động nhằm biểu hiện tự do trong thẩm quyền lập pháp của cá nhân trong xã hội được đặt ra. Do xác nhận được quyền tự do bẩm sinh và thực thi quyền này mà luật pháp thành hình. Chính sự khai sáng này là cụ thể hoá quyền tự do trong thực tế. Hành sử tự do mang đến an toàn cá nhân và xã hội khi tất cả đều tôn trọng luật pháp.
Để đạt mục tiêu này thì nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật cần được thực thi. Khi mọi người lệ thuộc luật pháp thì không tự động có nghiã tất cả đều được bình đẳng, mà là cần loại bỏ mọi sự phân biệt khi áp dụng luật pháp, không chấp nhận mọi ưu quyền mà không có cơ sở. Luật thừa kế, phong hàm qúy tộc, tạo thuận lợi hay gây bất lợi kinh tế cần phải làm rõ, nếu không phải hủy bỏ. Muốn bảo đảm bình đẳng trước pháp luật thì thẩm quyền lập pháp không thuộc về dòng dõi mà toàn dân. Kant nhận thấy các khái niệm về khế ước nguyên thủy, thẩm quyền lập hiến và lập pháp của toàn dân và nguyên tắc tự do và bình đẳng trong hiến pháp cộng hoà liên hệ mật thiết nhau. Công nhận tính ràng buộc pháp luật pháp như một nguyên tắc hiến định đã có trong hầu hết tất cả các học thuyết cổ điển của luật hiến pháp, do đó không thể coi là một đặc thù của Kant. Trong các luận văn khác về sau, Kant không khai thác chủ điểm này mà đề cao vể tính độc lập của cá nhân trong quyết định thuần lý.
Hiến pháp và hoà bình
Hiến pháp cộng hoà thể hiện quyền dân tộc tự quyết khi người dân không còn là người thuần phục kẻ bề trên mà quyết định tối hậu các vấn đề sinh mệnh của đất nước và chiến tranh và hoà bình là hai điển hình. Kant lập luận ý chí toàn dân mới quyết định được hoà hay chiến, một quyết đinh thuần lý nhằm bảo vệ quyền lợi dân tộc. Cụ thể hơn người dân phải nghĩ đến thiệt hại sinh mạng và tài sản do chiến tranh gây ra, nợ công khi lâm chiến và phí tổn khi tái thiết mà chỉ có dân là chịu lảnh mọi chiến phí trong khi giới lãnh đạo tiếp tục an huởng đặc quyền do chế độ ban phát. Kant chỉ bàn đến quyết định gây chiến nhưng không đề cập đến chiến tranh tự vệ. Dân chúng không muốn có chiến tranh, nhưng khi thực hiện nguyện vọng đúng theo thủ tục hiến định thì hoà bình sẽ là điều kiện khả thi. Hành vi tuyến chiến hay chấp nhận hoà uớc theo Kant không phải là một loại luật pháp, đúng hơn là một quyết định cá biệt trong hoàn cảnh cụ thể; nếu quyết định là của dân chúng thì hợp hiến, nếu chỉ là của chính quyền thì vi hiến.
Kant bị phê phán là quá đơn giản khi đề cao lý trí của công luận và thủ tục hiến định. Các triết gia khác không tin lý trí thuần lý của toàn dân là chính mà cho là tùy thuộc vào tinh thần hiếu chiến hay hiếu hoà của lãnh đạo hoặc chính sách ngoại giao khôn ngoan.
Hình thức cai trị và phân loại chính quyền
Phân loại hình thức cai trị dựa vào một người, nhiều người hay toàn dân do Aristote khởi xướng. Từ quan điểm này mà Kant giải thích quyền lực là có ba hình thức cai trị: chuyên chế, qúy tộc hay dân chủ. Thuật ngữ Kant dùng không thống nhất, nên tìm hiểu ngữ cảnh và so với thuật ngữ thông dụng hiện nay mới hiểu được nội dung. Về phân loại chính quyền Kant dựa vào tiêu chuẩn tôn trọng luật pháp để giải thích. Một chính quyền đặt mình trong pháp luật thì Kant gọi là cộng hoà, ngược lại là chuyên chế. Ba hình thức cai trị một người, nhiều người hay toàn dân không liên hệ đến giá trị; ngược lại, thi hành luật pháp là chuẩn mực cho sự phân loại hiệu năng chính quyền. Hai cách phân biệt này song hành trong lý thuyết nhưng có thể kết hợp nhau trong thực tế.
Kant cho là Hiến pháp cộng hoà dựa trên khái niệm hợp đồng nguyên thủy mà tự do, bình đẳng và ràng buộc là chính. Các nguyên tắc hiến định này tùy thuộc ý chí của toàn dân. Thể hiện ý chí này là hành sử quyền tối thượng, vì người dân có quyền và có lý trí để quyết định để phụng sự hoà bình. Khái niệm cộng hoà vào thời của Kant phải được chúng ta ngày nay hiểu là hình thức dân chủ trực tiếp, thể hiện tự do trong khuôn khổ đại nghị.
Kant hiểu ý nghĩa của đại nghị là mối quan hệ lập pháp và hành pháp. Kant phê bình là nhà lập pháp không được phép làm người cưỡng chế luật pháp, hình thức cai trị này không thể gọi là đại nghị; trong khi chúng ta ngày nay xem là mối quan hệ giữa cử tri và đại biểu quốc hội. Dù Kant đề cập gián tiếp đến tam quyền phân lập, nhưng khái niệm cộng hoà trong đại nghị của Kant không khác với trào lưu tư duy hiện đại về hệ thống chính trị dân chủ tự do.
Dù giống nhau trong tổng thể nhưng có sự khác biệt chi tiết giữa lý thuyết kết ước xã hội của Rousseau và khái niệm cộng hoà của Kant. Rousseau cho là có sự đồng nhất giữa ý chí chung và quyền tối thượng của toàn dân. Rousseau phân biệt ý chí chung và ý chí tất cả. Quyền dân tộc tự quyết không thể chuyển nhượng và người dân là tác giả các quyết định chính trị cho đất nước. Dân chủ trực tiếp với cách toàn dân biểu quyết là hình thức tốt đẹp nhất; ngược lại, thiết lập một một cơ chế dân chủ gián tiếp qua hình thức đại hội đại biểu là thiếu hiệu năng.
Khác với Rousseau, Kant đề cao vai trò lý trí trong tiến trình lập pháp. Luật pháp là một quyết định thuần lý, nhưng là một hình thức thử nghiệm và có thể thay thế cho phù hợp với nhu cầu thời đại hơn. Quyền lập pháp của người dân trong tiến trình này là thể hiện một quyết định lý trí, một phạm vi thuộc khai sáng tư duy và sử dụng độc lập. Tự do và bình đẳng của người dân chỉ có trong sự đồng thuận về các khái niệm pháp luật. Còn nhà lập pháp chỉ đóng vai trò trung gian thể hiện ý chí lập pháp của toàn dân và không có quyền bảo vệ tư lợi. Kant không bàn đến khía cạnh đạo đức cho thể chế. Do đó, tầm quan trọng của công lý và đạo đức không được đặt ra.
Theo Kant vấn đề không nằm ở hình thức, số lượng một người, một số người hay toàn dân, mà tinh thần trọng pháp của chính quyền, một chuẩn mực quyết định khả năng cai trị và tính chính thống của chế độ. Kant đưa ra hai loại giải thích: hoặc là cộng hoà (mà chúng ta ngày nay hiểu là tự do và dân chủ) hoặc chuyên chế. Cộng hoà là một hình thức thích hợp nhất cho hiến pháp vì thể hiện quyền tự do và bình đẳng của người dân trong tinh thần trọng pháp, còn chuyên chế chỉ thể hiện ý chí rịêng và quyền lợi riêng của lãnh đạo, không có cơ sở pháp luật và người dân không muốn bị ràng buộc. Chuyên chế khác với dân chủ là ở tính cách quyết định các vấn đề. Kant hiểu dân chủ theo ý nghiã cổ điển, mà ngày nay goị là dân chủ trực tiếp, khi đại biểu dân chúng trong một thành phố quyết định một vần đề chung.
Tiến trình thành lập
Kant coi hiến pháp là một sản phẩm của lý trí, một quyết định do một tiến trình lâu dài của ý thức độc lập, nhưng cần phân biệt hình thức cai trị với sự thành hình của nhà nước để áp dụng khái niệm cộng hoà tốt hơn.
Để luận chứng cho sự chung sống của con người trong xã hội, Hobbes đề ra giả thuyết khế ước nguyên thủy. Kant chứng minh là nhà nước hình thành qua chiến tranh, sử dụng bạo lực, hơn là đồng thuận trong một giải pháp an hoà. Lịch sử cho biết đồng thuận về hình thức cai trị, một cơ sở pháp lý, luôn đến sau khi nhà nước đã ra đời và tùy thuộc vào sự hiện hữu của quyền lực trước đó, mà thực tế thì không có thế lực nào cưõng lại quyền cai trị này. Người có quyền cưỡng chế pháp luật lại là người không thể chứng minh được thẩm quyền lập pháp và tinh thần trọng pháp. Dù bất cứ hình thức cai trị nào theo Kant hành vi của chính quyền phải nằm trong trong khuôn khổ áp dụng luật pháp, cụ thể là tính chính thống phải được chứng minh và luôn bị kiểm soát. Lãnh đạo phải dựa vào lập luận của lý trí, không thể cầu xin ơn trên hay dựa thành tích trong lịch sử đem lại mà biện luận, phải giới hạn quyền lực cai trị trong ý muốn của toàn dân, đây là một biểu hiện cụ thể nhất tính chính danh. Theo Kant, nguyên tắc này trở thành mệnh lệnh cho chính quyền tuân thủ.
Kant phân biệt có hai hình thức cai trị đất nước, một dựa theo chiều hướng lịch sử, bạo lực cách mạng, một dựa theo thể chế cộng hoà, lấy pháp luật và lý trí làm cơ sở. Sự kết hợp giữa hai chiều hướng này sẽ đem lại một sự tiến hoá tự nhiên cho luật Hiến pháp. Kant phân biệt khái niệm cộng hoà theo hai khiá cạnh: cộng hoà là một triết thuyết để thảo luận trong nhu cầu cải cách và là một thể chế được thành hình trong thực tế đất nước mà áp dụng luật pháp theo quyết định của lý trí là mục tiêu. Kant nhấn mạnh hình thức cai trị của chính quyền dựa theo hiến pháp cộng hoà là tốt đẹp nhất vì phù hợp với lòng dân. Chính quyền chỉ là một chế độ chính trị ngắn hạn đem lại một giải pháp tạm thời cho các vấn đề xã hội. Nhưng trong tiền trình cai trị, với thời gian luật pháp đem lại giá tri cao hơn, ý thức người dân về uy lực pháp luật sẽ thay đổi, pháp luật không còn giải quyết vấn đề tạm thời mà sẽ có giá trị lâu dài, nhờ thế taọ nền tảng của một nền dân chủ ổn định. Từ trên cơ sở này mà một hiến pháp tự do dân chủ trong một hệ thống đại nghị và ý thức trọng pháp của một xã hội dân sự thành hinh. Kant ca ngợi một hiến pháp hoàn chỉnh là một cơ sở để giáo dục công dân; nhờ tuân thủ các giá trị luật pháp mà đạo đức cá nhân và xã hội tốt đẹp hơn. Kant mơ ước tất cả sẽ là một tiền đề cho việc tiến đến nền hoà bình vĩnh cữu. Kant thực tế hơn khi cho rằng con đường theo đuối là quá xa xăm, nhưng nổ lực của chúng ta sẽ là những đóng góp làm thu ngắn khoảng cách.

Thực tế tại Việt Nam

Các khuyết điểm của Hiến pháp đã được thảo luận quá nhiều để góp ý hay thỉnh nguyện, ở đây sẽ không bàn thêm chi tiết các vấn đề quen thuộc này, mà chỉ nhìn lại trong khuôn khổ lý thuyết của Kant với mục đích là để thảo luận về thực trạng, nguyên nhân và giải pháp.

Thực trạng

Không tự do
Việt nam hiện nay đang có tự do về mọi mặt, nhưng là một loại tự do không luật lệ. Đúng hơn, Việt Nam có đủ luật lệ, nhưng không áp dụng theo tinh thần của nhà nước pháp quyền như hiến pháp đề cao, mà vi phạm nhân quyền là vấn đề chính. Cụ thể nhất là Hiến pháp không phân biệt dân quyền và nhân quyền, hai phạm trù cần áp dụng riêng biệt. Hiến pháp công nhận nhân quyền như một ban phát của nhà nước, không nằm trong ý nghĩa cao cả cuả nhân quyền, một quyền tự nhiên nội tại, thành tựu văn minh của nhân loại và có giá trị phổ quát. Hiến pháp công nhận tổng quát giá trị nhân quyền, nhưng không tạo căn bản để tuân thủ, không có một cơ chế tranh tụng khi vi phạm, không công nhận tố quyền trực tiếp của nạn nhân để khởi động và không có cơ quan theo dõi các vi phạm để cảnh báo khi cần thiết. Khái niệm làm chủ tập thể làm thiệt haị cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước; đây là vi phạm nhân quyền nặng nề nhất.
Không ràng buộc luật pháp
Dù Hiến pháp quy định là mọi hoạt động của Đảng phải nằm trong khuổn khổ cuả Hiến pháp và luật pháp, nhưng không đem lại ràng buộc pháp luật trong thực tế, một điều kiện tạo hiệu lực cho luật hiến pháp. Vì không có luật pháp làm cơ sở nên Đảng có quyền lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối nhưng không chịu trách nhiệm pháp luật: tất cả các Cương lĩnh và Nghị quyết của Đảng đứng ngoài và đứng trên luật pháp, mọị sinh hoạt nội bộ của Đảng không theo nguyên tắc dân chủ và mọi kỷ luật Đảng dựa trên đạo đức cách mạng và lương tâm tập thể. Hiển nhiên đây là sự vi phạm nguyên tắc ràng buộc và không cần lý giải thêm. Tạo ra một khuôn khổ pháp chế cho Đảng hoạt động và đề ra mối quan hệ giữa Đảng trong vai trò lãnh đạo và chức năng điều hành Nhà nước là một nhu cầu khách quan thời đại.
Không bình đẳng
Kant giới hạn nguyên tắc bình đẳng trong phạm vi áp dụng luật pháp và không đi sâu vào các lĩnh vực công bình cơ hội và thể chế như John Rawls hay công bình cụ thể như Amartya Sen phân tích. Vi phạm bình đẳng xảy ra trong trường hợp áp dụng hoặc không áp dụng luật kinh tế.
Trường hợp không áp dụng luật doanh nghiệp nhà nước đang bị phá sản mà không giải thể là thí dụ. Đây là một nghịch lý trong luật cạnh tranh, vì doanh nghiệp tiếp tục hoạt động thì chỉ duy trì khủng hoảng và kiềm hãm tăng trưởng. Chính sách này thuộc về Đảng quyền, một lĩnh vực nằm ngoài và trên sự tài phán của nhà nước pháp quyền. Hậu quả là người vi phạm pháp luật mà cả nước không dám minh danh để truy tố theo luật định, một thắng lợi cho Đảng quyền nhằm bảo vệ người vi phạm, tư bản thân tộc và các nhóm lợi ích.
Trường hợp áp dụng luật cho dành cho công nhân và nông dân thì lại làm bất công trầm trọng hơn. Nông dân là thành phần chủ yếu đóng góp và không được hưởng thành quả tương xứng. Trở ngại chính là đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân mà do nhà nước đại diện chủ sở hữu, một khái niệm ngược với tinh thần tôn trọng quyền tư hữu. Chính sách công nghiệp hoá, thành thị hoá và an ninh quốc phỏng không nhằm bảo vệ tư lợi của nông dân. Các luật lệ chống lạm phát và an ninh lương thực làm nông dân không bán được nông phẩm theo đúng giá cạnh tranh và các biện pháp thu mua chỉ phục vụ cho quyền lợi công ty nhà nước.
Việc thực tế nhất để đem lại công bình cho công nhân là tăng lương tối thiểu và cải thiện các biện pháp an sinh xã hội. Vì môi trường đầu tư đang bớt thu hút mà luật pháp dành nhiều ưu đãi cho nhà đầu tư ngoại quốc và quyền lợi công nhân bị thua thiệt. Bất công sẽ kéo dài khi luật lao động không là một giải pháp thích hợp. Cả hai trường hợp trên là bằng chứng vi phạm nguyên tắc công bình theo lý tưởng của Kant.
Vì không tuân thủ các nguyên tắc tự do, công bình và ràng buộc theo chuẩn mực nên Hiến pháp không có giá trị về mặt pháp lý. Do đó, theo Kant cũng có nghĩa là không có Hiến pháp về mặt thực tế.

Nguyên nhân

Có nhiều lý giải về thực trạng vô luật pháp mà độc tôn Đảng quyền, vi phạm thẩm quyền lập hiến của toàn dân và thiếu kỹ năng lập pháp và lập quy của quốc hội là nguyên nhân chính.
Độc tôn Đảng quyền
Theo Kant, Hiến pháp thể hiện quyền quyết định của người dân về ý chí chung sống với chính quyền và có mục tiêu là phụng sự hoà bình. Thực tế cho thấy tất cả các Hiến pháp chỉ thể hiện ý muốn chính trị của Đảng, sao chép lại những đường lối đấu tranh cho từng giai đoạn lịch sử để dân chúng tuân thủ hơn là đề ra một khuôn mẩu quy phạm chung cho xã hội. Điển hình là việc phát động các cuộc đấu tranh chống Pháp và chống Mỹ là kết quả của các Nghị quyết của Đảng và không có phúc quyết của người dân theo thủ tục hiến định. Người dân hoàn toàn không có cơ hội bày tỏ chính kiến trong các Tuyên ngôn Độc Lập, Hiệp định Genève và Paris như Hội nghị Diên Hồng, một trường hợp duy nhất trong lịch sử Việt.
Vi phạm thẩm quyền lập hiến.
Một mặt Hiến pháp xác định thẩm quyền lập hiến là chủ quyền của nhân dân và nhưng mặt khác lại đề cao vai trò tối thượng của Quốc hội, vì không phân định rõ phạm vi nên đây là một nghịch lý. Tất cả quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân và Nhà nước bảo đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nhưng người dân không thể thực hiện quyền này trong thực tế, vì dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp và chỉ có Quốc hội mới quyền sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp đề cao chủ quyền cuả nhân dân, nhưng không minh thị thẩm quyền phúc quyết hiến pháp, một sự thiếu nhất quán trong quy định quyền lực của nhân dân. Hiến pháp mặc nhiên không phát huy đúng mức quyền làm chủ của nhân dân vì cho phép Quốc hội không thực hiện trưng cầu dân ý, một lổi hệ thống.
Thiếu kỹ năng lập pháp và lập quy
Sự hổn loạn của việc áp dụng luật pháp còn đến từ kỹ năng lập pháp và lập quy. Trên lý thuyết, nguyên tắc quyền lực nhà nước phải được thống nhất và do phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước. Trong thực tế, mức vi phạm của các văn bản quy phạm luật pháp đến mức độ báo động vì các cơ quan ban hành không có kỹ năng và cơ quan kiễm tra cũng không thể hoàn thành chức năng. Nguyên tắc phân công nội bộ của Đảng là quan trọng nhất phải tuân thủ nên kiểm soát thẩm quyền lập hiến, lập pháp và lập quy không được đặt ra đúng mức. Nhiều Nghị Định quy định các quyền tự do hiến định của người dân mà không dựa vào Hiến pháp, chỉ căn cứ vào Luật Tổ chức Chính phủ để ban hành, một vi phạm trầm trọng về luật thủ tục. Việt Nam chưa có Toà Bảo Hiến để xét vấn đề vi hiến hay vi luật của các quyết định hành chính trong khi Toà án Hành chính hay Toà án Nhân dân lại không có thẩm quyền. Quyền giải thích luật pháp thuộc về Uỷ ban Thường Vụ Quốc hội, một cơ chế kiểm tra nhưng không bảo đảm tính thống nhất cuả hệ thống luật pháp và một số Đại Biểu phải dồn sức trao dồi kỹ năng viết, đọc và chất vấn.
Kant giải thích khi hình thái cai trị dựa trên lịch sử và chuyên chính chính trị không phải là cai trị bằng pháp luật. Tại Việt Nam mối quan hệ trực tiếp giữa cương lĩnh chính trị và soạn thảo hiến pháp là thí dụ. Hiến pháp không do dân phúc quyết nên không thể hiện thẩm quyền lập hiến và chính quyền cuỡng chế luật hiến pháp không thể hiện tinh thần trọng pháp.
Tóm lại, do những nguyên nhân này mà tìm giải pháp cho việc sửa đổi Hiến pháp là vấn đề, nhưng cụ thể nhất là phân biệt mục tiêu chính trị và trách nhiệm luật pháp của Đảng, trả lại thẩm quyền tối thượng lập hiến cho toàn dân, nâng cao kỹ năng lập pháp của quốc hội và thực thi tinh thần trọng pháp của chính quyền.

Giải pháp

Các giải pháp hiện nay
Giải pháp thứ nhất cho là tu chỉnh Hiến pháp phải phù hợp với nhu cầu tự hoàn thiện của cơ chế. Do đó, cần duy trì Đảng quyền để cho mọi sinh hoạt chính tri sẽ tuần tự chuyển hoá trong an hoà và việc thay đổi triệt để bằng cách soạn thảo Hiến pháp mới là không cần thiết. Điều kiện cần có là nâng cao ý thức về trọng pháp qua giáo dục và khái niệm về NNPQXHCH cần được triển khai sâu rộng hơn. Những người tin rằng Đảng sẽ đem lại giải pháp cho vấn đề Hiến pháp nên họ ủng hộ và góp ý trong khuôn khổ mà Đảng đề xuất. Thành tựu tiệm tiến là một triển vọng khả thi.
Giải pháp thứ hai chủ trương đột phá hơn. Tu chỉnh không thể cải thiện các lổi hệ thống vì không có tác dụng triệt để và lâu dài mà du nhập những mô hình ngoại lai để thay thế là giải pháp. Nguyên tắc tam quyền phân lập, xác định vai trò Đảng quyền trong hệ thống chinh trị đa nguyên và đa đảng và phát huy tinh thần thượng tôn luật pháp là những biện pháp cụ thể. Các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước và hải ngoại cổ vũ cho giải pháp này. Họ tin rằng Đảng là vấn đề mà mô hình Hiến pháp các nước phương Tây là giải pháp, nhưng họ không đủ khả năng huy động sự đồng thuận của Đảng để cùng thực hiện giải pháp này.
Dù tiệm tiến hay đột phá, tu chỉnh hay soạn mới, cả hai giải pháp đều tùy thuộc vào thiện chí của ba tác nhân chủ yếu là chính quyền, dân chúng và học giới, mà hiện nay thì không ai tạo được niềm tin cho triển vọng cải cách: thực tâm sửa đổi của Đảng, tích cực tham gia của toàn dân và đóng góp hiệu năng của luật giới là vấn đề.
Khi dân góp ý để sửa đổi Hiến pháp trong khuôn khổ của Đảng, thì những ý kiến táo bạo trong vấn đề Đảng quyền lại không được Đảng phản biện lập luận dựa trên khái niệm pháp luật mà xử lý dựa theo quyền lực chuyên chính và suy thoái đạo đức. Lập luận này không thuyết phục khi tranh luận về luật pháp, vì hai phạm trù này khác nhau cần phân biệt. Khi dân thỉnh nguyện ngoài hệ thống, thiểu số này thể hiện tinh thần can đảm đáng khâm phục, nhưng lại bị phê bình là không phản ánh thực thi dân quyền là phải đòi lại quyền mình đã bị tướt đoạt và không thể xác minh được thẩm quyền đại diện, vì không có thống kê chính xác. Chứng minh khoa học về nhu cầu thay đối Hiến pháp là nhiệm vụ của học giới, nhưng lại là vấn đề nhạy cảm chính trị và họ không được phép tiến hành. Dù thành tâm đóng góp của học giới là có thực, nhưng hiệu năng bị nghi ngờ. Vì Đảng không đào tạo được những nhà luật học tầm vóc quốc gia và quốc tế, nên thoả mãn nhu cầu này hiện nay là điều mơ ước.
Giải pháp của Kant
Lý thuyết của Kant có đem lại giải pháp nào không? Kant không có lập luận ủng hộ cho độc quyền Đảng trị và nghiêm khắc khi cho là Hiến pháp phải theo thể chế cộng hoà, không thể khác hơn. Hiến pháp không có giá trị khi có Đảng đứng trên Hiến pháp. Khi Hiến pháp không có giá trị pháp lý thì cũng đồng nghĩa là không có Hiến pháp trong thực tế. Suy luận theo quan điểm chặt chẻ này thì Việt Nam trong suốt thời chiến cũng như bình đã không có Hiến pháp mà chỉ có Đảng quyền cai trị. Việc sửa đổi Hiến pháp trong khuôn khổ Đảng soi sáng là tiếp tục duy trì tình trạng vô luật pháp. Do đó, một Hiến pháp mới theo thể chế cộng hoà cho Việt Nam sẽ phù hợp với suy luận của Kant.
Triển vọng này sẽ không mở ra vì Đảng sẽ chống đối. Một là, hoàn cảnh của Việt Nam với thí dụ về truyền thống đấu tranh Cách mạng, liên tục của lịch sử và thành tích Đổi Mới. Hai là, Hiến pháp với mô hình theo các nước phương Tây sẽ không bảo đảm được sự vận hành. Đề cao giá trị văn hoá Á Đông trong sinh hoạt chính trị là một đề tài gây nhiều tranh luận và không đem lại một giải pháp, nhưng lập luận chính cho rằng trình độ dân trí là không phù hợp. Đảng sẽ không mở lối cho lý thuyết của Kant làm thành một lộ trình khả thi như một triển vọng khởi đầu.

Chúng ta đang ở đâu?

Suốt một quá trình dài, chúng ta chưa có luật Hiến pháp đúng nghĩa; người dân không còn được lên tiếng để quyết định vận mệnh đất nước. Hiện nay chúng ta đang muốn thoát khỏi tình trạng tự do vô luật lệ và tự đặt mình trong khuôn khổ của luật Hiến pháp để giải quyết các vấn đề chung sống. Chúng ta hoàn toàn không có một khế ước nguyên thủy theo ý nghĩa cao đẹp nhất của một contrarius originarius trong lý thuyết luật học, một vấn đề nền tảng cho Hiến pháp. Khi khế ước nguyên thuỷ là một vấn đề ưu tiên, thì các nguyên tắc hiến định trở thành vấn đề kỷ thuật có thể sẽ được giải quyết sau.
Hiện nay, khái niệm NNPQXHCH chưa đủ sức thuyết phục, khái niệm về chuyên chính vô sản đã hết hào quang; khái niệm thế lực phản động cũng không phù hợp trào lưu dân chủ hoá; những khái niệm về đối lập, quyền tư hữu và tự do báo chí cũng không được chấp nhận. Tất cả các khó khăn về khái niệm sẽ được làm lại trên một căn bản mới khi một khế ước nguyên thủy hình thành. Đó là điểm mà ý dân và ý Đảng còn có thể gặp nhau trong một giới hạn nhất định. Khi học giới biết được căn bản này thì họ sẽ đóng góp hữu hiệu hơn để giải quyết vần đề khái niệm hiến định.
Ý Đảng? Chuyện dể hiểu vì đã thể hiện rõ. Không một Đảng cầm quyền nào, kể cả tại các nước dân chủ, lại muốn tự bỏ điạ vị cai trị. Ở Việt Nam có khác hơn, vì theo quan điểm lịch sử mà Đảng muốn cầm quyền toàn diện triệt để và muôn đời, trong khi Kant cho là một chế độ chính trị chỉ đem lại một giải pháp tạm thời cho các vấn đề xã hội. Khi uy lực của luật pháp loan toả trong xã hội và ý thức trọng pháp của dân chúng lên cao, đó là cơ sở để làm ổn định cho việc phát triển chính trị dân chủ.
Ý dân? Không ai có khả năng tri thức để trả lời câu hỏi này thoả đáng. Đảng tự hào thu phục nhân tâm khi dựa vào thành tích đấu tranh giải phóng và Đổi Mới, nhưng hiện nay Đảng không chứng minh được về niềm tin của dân vào sự lãnh đạo của Đảng với phương pháp thăm dò dư luận như các nước phương Tây. Người bất đồng chính kiến thấy mình là thiểu số; bi quan này thiếu cơ sở, khi ý thức về bất công xã hội càng ngày càng nhiều, mà chính họ không thể xác định được mức độ. Đã đến lúc ý kiến của toàn dân trước vấn đề hệ trọng của đất nước cần được tìm hiểu, luận chứng và trình bày công khai với các phương pháp khoa học khả tín; một chuyện dễ làm, xảy ra hàng tuần và hằng tháng tại các nước phương Tây, nhưng chưa hề có tại Việt Nam. Tuân theo sự chỉ đạo của Đảng nên đã có một số góp ý sửa đổi Hiến pháp trong sự dè dặt thường lệ, trong khi đó đã có một số khác đang kiến nghị ngoài sự chỉ đạo của Đảng với tất cả thiện chí. Cả hai đóng góp này rất đáng được trân trọng và gây tiếng vang. Hiển nhiên cả hai luồng ý kiến này cũng không phải là của tất cả 90 triệu dân Việt, vì nếu có là đa số thì cũng cần được kiểm chứng khách quan. Nhưng cả hai loại góp ý này tiếp tục chấp nhận duy trì nguyên trạng vô luật pháp và không là khởi điểm cho tiến trình cải cách.

Chúng ta phải làm gì?

Nếu chúng ta đồng ý với Kant và nghiêm khắc với chính mình thì chúng ta phải nhận ra rằng đã đến lúc đất nước cần có một khế uớc nguyên thủy làm nền tảng cho sự chung sống, một nguyên ủy cho mọi chuyển động tương lai của xã hội. Triển vọng duy nhất mở ra cho Việt Nam hôm nay phải là một cuộc trưng cầu dân ý theo phương cách khách quan để xác định lòng dân. Chúng ta muốn đặt mình trong khuôn khổ mới của luật pháp, một tiền đề cho mô hình tương lai của Hiến pháp, kết quả này phải tùy thuộc vào trưng cầu dân ý. Ở đây không có thể bàn sâu chi tiết về mô hình cụ thể mà chỉ đề cập về điều kiện khả thi cần có, đó là thiện chí của Đảng và hợp tác của dân chúng.
Thiện chí của Đảng được suy đoán nhiều, nhưng không ai có thể biết chính xác các tác động đang chuyển biến. Vũ khí của Đảng hôm nay không còn là bạo lực mà là lập luận của lý trí dựa trên khái niệm pháp luật để thuyết phục, một hình thức tự khai sáng và vận dụng mà Kant đề cao. Đảng phải tự diễn biến hoà bình trong bối cảnh mới, tạo thu hút hơn bằng cách chấp nhận dân chủ là một trò chơi mới và đồng ý với kết quả luật chơi khi tham dự. Đảng cần lập luận và thuyết phục dân chúng trên cơ sở hợp tác và đối thoại. Người đầy tớ của nhân dân, đại biểu trung thành của giai cấp, thành tích trong chiến tranh và Đổi Mới không là khái niệm pháp luật đem đến sự đồng thuận về hình thức cai trị như Kant đòi hỏi, nên không tạo ra chính danh cho một nhà nước pháp quyền. Quan trọng hơn, khả năng trong quá khứ không bảo chứng cho Đảng có thể lãnh đạo hữu hiệu hơn cho tương lai của đất nước. Đảng và dân chúng, ai là vấn đề và ai là giải pháp, rồi ai sẽ thắng ai trong các lập luận này, không ai biết được, nhưng như Kant đề xuất, lý trí là mệnh lệnh để cả hai cùng tuân thủ. Nếu dân chúng là vấn đề mà Đảng đem lại giải pháp, thì Đảng sẽ làm cho chính danh thêm ngời sáng. Nhưng thiện chí của Đảng đang bị nghi ngờ vì góp ý là một trò chơi nguy hiểm cho người tham dự, lý do dể hiểu là Đảng không áp dụng tiêu chuẩn khách quan để phân biệt giữa thiện chí đóng góp và ác ý nói xấu chế độ. Tiếp tục sử dụng bạo lực để trấn áp người bất đồng chính kiến thì Đảng sẽ làm tình hình tệ hại hơn mà Liên Xô, Đông Âu và khối Á Rập là bài học.
Hợp tác của dân chúng đòi hỏi có ý thức về giá trị sử dụng thẩm quyền lập hiến. Dân chúng phải kể đến đầu tiên ở đây là cộng đồng do mạng lưới thông tin hiện đại nối kết, tuy là thiểu số trong thế giới ảo nhưng họ là tác nhân quan trọng làm gia tăng kiến thức và tạo nên một hệ thống thông tin trung thực và nhanh chóng hơn cho xã hội đang bị bưng bit sự thật mà đa số thầm lặng và mất niềm tin đang cần đến. Đa số thờ ơ có lý do chính đáng: cơm áo là thực tế quan trọng nhất; quyền lực, thân tộc và tiền là phương tiện tốt nhất để giải quyết tranh chấp; nếu tin tức và luật pháp không cần thiết thì việc sử dụng thẩm quyền lập hiến không thể đặt ra. Cảm nhận giá trị này đến từ một nền hệ thống thông tin tự do và giáo dục trọng pháp; nó sẽ mang lại kiến thức và trở thành ý thức. Ý thức giúp nâng cao khả năng phán đoán về thẩm quyền lập hiến. Giáo dục ngày càng lạc lối và tác động tích cực thông tin cho mọi sự chuyển hoá xã hội khó kiểm chứng; tình huống này không cho phép lạc quan về triển vọng hợp tác của dân chúng.
Ngược lại, một thực tế khác đang xảy ra khắp mọi nơi trên đất nước: các cuộc biểu tình của dân oan đòi công lý, bảo vệ lãnh thổ, đòi làm sáng tỏ những cái chết do bạo lực công quyền trở thành bức thiết hơn bao giờ hết. Như vậy, ý thức về luật pháp đến từ bức xúc trước các bất công trước mắt này. Đó là những tín hiệu khởi đầu cho một sự bất ổn thường trực mà bạo lực chính quyền làm cho động loạn trầm trọng hơn. Phản ứng trước bất công là cần nhưng chưa đủ để chuyển biến thành ý thức của toàn xã hội về vai trò luật hiến pháp và thẩm quyền lập hiến. Ước vọng của đa số thầm lặng về một cuộc Đối Mới khác toàn diện và triệt để hơn đang dâng cao, nhưng cũng khó xác định chiều hướng và tốc độ. Huy động toàn dân tham gia vào cuộc trưng cầu dân ý càng khó khăn hơn vì cần quá nhiều yếu tố khác. Những chuyển biến gần đây cho thấy ý thức về vai trò luật Hiến pháp thay đổi nhiều so với trước đây, mà kết quả góp ý và thỉnh nguyện là thí dụ. Dĩ nhiên, khi dân chúng ý thức rằng Đảng là vấn đề mà dân chúng là giải pháp thì trưng cầu dân ý là một cơ hội lịch sử để toàn dân tham gia đem lại giải pháp này. Trong chiều hướng này, chúng ta được phép hy vọng là mức độ tham gia sẽ cao hơn bao giờ hết.

Kết luận

Lý thuyết của Kant đề cao ba nguyên tắc tự do, ràng buộc pháp luật và bình đẳng của Hiến pháp cộng hoà. Đây là một kết ước giữa người dân vả chính quyền để theo đuổi một lý tưởng là chung sống trong an hoà. Sư đồng thuận về hình thức cai trị phải dựa trên các khái niệm pháp luật, một cơ sở lập luận cần có của người dân và chính quyền và cả hai cùng tuân thủ. Lịch sử Việt Nam cận đại cho thấy dân Việt chưa bao giờ hành sử thẩm quyền lập hiến. Để bước vào thời kỳ mới cho đất nước thì một cuộc trưng cầu dân ý tìm sự đống thuận theo ý nghĩa khế uớc nguyên thủy cần được lập ra.
Đề xuất trưng cầu dân ý không hoàn toàn mới lạ, mà thực ra đã có nhiều kêu gọi tương tự trước đây của các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước và hải ngoại. Họ chứng minh là Đảng tước đoạt quyền dân tộc tự quyết và kêu gọi Đảng thức tỉnh về lý trí và đạo đức. Ở đây đề xuất dựạ vào lý thuyết luật Hiến pháp của Kant, đó là sự khác biệt, nhưng dể bị phê phán là hoang tưởng; một là lý thuyết của Kant hình thành trong một điều kiện lịch sử và xã hội khác biệt, hai là Đảng muốn tiếp tục nằm quyền mà không cần lý thuyết của Kant và không muốn có điều kiện của dân. Nhưng nếu chúng ta chấp nhận học thuyết của Kant có giá trị phổ quát thì đề xuất này thực tế hơn bao giờ hết. Kant để lại cho chúng ta một phương cách hành động với tính thời sự và cẩm nang. Nhận chân các giá trị này và nổ lực đòi lại thẩm quyền đã mất để thực thi là vấn đề chọn lưạ hành động của toàn dân.
Dù nâng cao tầm quan trọng của giải pháp trưng cần dân ý, tiểu luận này còn nhiều thiếu sót, vì không đưa ra các mô hình cụ thể để thực thi, không bàn đến mối quan hệ giữa trưng cầu dân ý và mô hình hiến pháp và không đi vào chi tiết của các góp ý và thỉnh nguyện để so sánh. Đóng góp này chỉ là ý tưởng khiêm tốn ban đầu để thảo luận mà dĩ nhiên lý thuyết của Kant không là tất cả cho thực tế Việt Nam.

BÁ THANH SỢ ĐẾN LIỆT DƯƠNG ?!



Cau rong

Kinh kỳ vặn vẹo Bá Thanh
Đắp con cá ngựa Đà thành làm chi?
Chú làm, anh cũng sinh nghi
Hay là tham vọng có chi bất thường?
Bá Thanh sợ đến liệt dương
Cấp tốc kêu đám cầu đường sửa ngay
Đầu rồng thấp xuống thế này
Nếu không làm thế, anh mày sẽ tiêu….
Theo Mít Tờ Đỗ


Chưa thể dời 'hòn đá lạ' ra khỏi đền Hùng ???



Cho rằng người cung tiến và người đặt hòn đá lạ ở đền Hùng đều mong muốn sự tốt đẹp cho nhân dân, đất nước nên tỉnh Phú Thọ chưa di dời hòn đá ngay mà sẽ tổ chức hội thảo để làm sáng tỏ mọi việc.
'Nên dời hòn đá lạ ra khỏi đền Hùng'Hòn đá lạ ở đền Hùng

Phó chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ, Trưởng ban tổ chức lễ hội đền Hùng Hà Kế San khẳng định, hòn đá nói trên không phải lạ mà đã được đặt trong đền từ năm 2009, đến nay đã trên 3 năm. Hòn đá không phải do người nước ngoài đặt mà do những người có trách nhiệm với khu di tích thời điểm đó quyết định.
Theo ông San, chưa thể di dời hòn đá ra khỏi khu di tích đền Hùng bởi ảnh hưởng tốt, xấu chưa được xem xét kỹ lưỡng. UBND tỉnh sẽ tổ chức cuộc hội thảo, mời các nhà nghiên cứu Hán Nôm, chuyên gia, nhà lịch sử và Cục Di sản cùng đánh giá về hòn đá này.
"Tuy nhiên, có thể khẳng định khi đặt viên đá này thì người cung tiến và người đặt đều mong muốn những sự tốt đẹp cho đất nước, cho nhân dân", ông San bày tỏ.
Nguyên Giám đốc Ban quản lý khu di tích đền Hùng Nguyễn Tiến Khôi khẳng định, không thể tự ý di dời hòn đá ngọc xanh ra khỏi đền Hùng. Ảnh: Kiều Trinh.
Là người hiểu rõ nguồn gốc của viên đá, nguyên Giám đốc Ban quản lý khu di tích đền Hùng Nguyễn Tiến Khôi cũng cho rằng không thể tự ý di dời. Theo ông, khi hoàn thiện tu bổ đền Thượng (nằm trong quần thể khu di tích đền Hùng), những vật dụng được đặt trong đền đều có quyết định của Cục Di sản. Đồ thờ phải để nguyên, các vị trí thờ tự theo hội đồng di sản đặt nguyên phía trong, không động chạm đến hậu cung. Hòn đá được đặt ở góc đền, không ảnh hưởng đến lối đi, bên kia đặt trống đồng đối xứng.
Một lý do khác, theo ông Khôi, hòn đá là "bùa cát, bùa lành, phản lại bùa yểm của quân Nguyên Mông đã được phát hiện khi hạ giải đền Thượng". Nguyên Giám đốc Ban quản lý khu di tích đền Hùng kể, khi bắt đầu tu sửa khu di tích đền Hùng, ông đã nhờ những người có trách nhiệm ở Bộ Văn hóa tìm người giỏi về tâm linh để hỗ trợ trong việc tìm vị trí xây dựng. Viện trưởng Viện tu bổ di tích lúc bấy giờ giới thiệu ông Nguyễn Minh Thông, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu ứng dụng văn hóa phương Đông, người từng chọn huyệt đạo xây đền Mẫu Âu Cơ.
Việc tu bổ đền Thượng, Trung, Hạ đến đền Giếng, xây dựng đền Lạc Long Quân đều có sự tham gia giúp đỡ của ông Thông. Khi tháo dỡ đền Thượng, công nhân đào nền phía trong hậu cung, ở ban giữa, phát hiện có vật lạ. "Đó là viên gạch được bọc bởi một lớp giấy bạc, trong có dòng chữ lộn ngược, khi bóc tờ giấy ra thì chữ in mờ trên gạch. Tôi không biết là chữ gì nên nhờ ông Thông xem giúp", ông Khôi kể.
Mặt trước chạm “trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai” dựa trên trận đồ bát quái của đức Thánh Trần trong Binh Thư Yếu Lược của nhà Trần. Ảnh: Kiều Trinh.
Trong báo cáo gửi UBND tỉnh Phú Thọ, ông Nguyễn Minh Thông nêu rõ, qua nghiên cứu, thẩm định của các chuyên gia ngoại cảm, giáo sư, tiến sĩ, Trung tâm ứng dụng văn hóa Phương Đông kết luận viên gạch có bọc giấy bạc đó là bùa yểm được "đạo sĩ cao tăng Nguyên Mông cải trang" mang sang. Bùa này được yểm tại ban giữa đền Thượng, thần chú trên tờ giấy viết bằng chữ của vùng cao nguyên Ấn Độ - Tây Tạng.
"Để hóa giải bùa yểm, Trung tâm đã lên kế hoạch tìm một viên đá ngọc xanh có nhiều năng lượng tốt lành, có khả năng hóa giải và tiếp nhận năng lượng tốt của tinh tú trời đất, mặt trời, mặt trăng...", ông Thông trình bày.
Sau đó, ông Nguyễn Đình Khảm, giám đốc một công ty đá quý, đã phát tâm công đức viên đá ngọc xanh. Qua thẩm tra, nhiều chuyên gia khẳng định viên đá đạt tiêu chuẩn. Trung tâm đã thuê người chạm ngọc rubi và các loại ngọc quý khác lên viên đá. Mặt trước chạm “trận đồ bát quái thiên tinh Phật Tổ Như Lai” dựa trên trận đồ bát quái của đức Thánh Trần trong Binh Thư Yếu Lược của nhà Trần. Trên mặt của Trận đồ được chạm mật chú mật tông của Ấn Độ làm "tăng hào quang của Phật và độ linh, độ uy của Phật để giải hóa bách nạn, bách khổ, bách bệnh cho nhân dân"...
Mặt sau của viên đá ngọc phía trên là chạm ấn của Vua Hùng, dưới là lá bùa giải bách họa cho nhân dân. Ảnh: Kiều Trinh.
"Theo các chuyên gia, phải có linh khí của Phật và linh khí của Đức Thánh Trần mới hóa giải được bùa phép nguy hiểm đã yểm của Phương Bắc", ông Thông nêu trong báo cáo và cho hay, ở mặt sau của viên đá ngọc, phía trên chạm ấn vua Hùng, dưới là lá bùa giải bách họa cho nhân dân.
Ông Khôi cho biết, ngày nhập trạch đền Thượng cùng với lễ dâng ngọc hóa giải bùa yểm có lãnh đạo tỉnh cùng cán bộ trong khu di tích và Trung tâm nghiên cứu ứng dụng Văn hóa Phương Đông tham dự. Cả ông Khôi và ông Thông đều cho rằng "từ ngày được hóa giải, tỉnh Phú Thọ và khu di tích đền Hùng được phát triển tốt đẹp và viên đá ngọc xanh càng ngày càng được tích năng lượng thu phát".
Trước dịp lễ hội đền Hùng, nhiều du khách phát hiện hòn đá có ký tự cổ, dấu ấn vuông, họa tiết phức tạp khó hiểu. TS Nguyễn Xuân Diện, Viện nghiên cứu Hán nôm cho rằng, nhìn hình thức bên ngoài cho thấy hòn đá là đạo bùa cát, cầu giải tai ương, thỉnh cầu phúc đức. Tuy nhiên, các chi tiết chưa được biết có thể phản lại ý nghĩa trên. Vì vậy, ông Diện đề nghị di dời ngay lập tức hòn đá ra khỏi khu vực đền Hùng để tránh những tác dụng xấu tới khu di tích linh thiêng này.
Kiều Trinh

Băng đảng và nhà nước


Hiện trường nơi xảy ra vụ xô xát
Hiện trường nơi xảy ra vụ xô xát
Source dantri.com


 Hiện tượng doanh nghiệp và chính quyền đứng sau lưng xã hội đen tấn công người dân ngày càng trở nên công khai, phổ biến khiến xã hội như đang rơi vào sự hổn loạn có chủ đích của các thế lực lợi ích nhóm được tiếp tay bởi chính quyền các cấp đang là mồi lửa rất nguy hiểm hiện nay. Mặc Lâm tìm hiểu thêm chi tiết trong vụ mới nhất này.
Chính quyền làm ngơ cho xã hội đen lộng hành?
Vào trưa ngày hôm qua hơn 50 côn đồ đã được công ty Hoa Thành thuê tới khu vực đất tranh chấp tại xã Đại Thắng huyện Tiên Lãng tấn công người dân đang đấu tranh đòi đền bồi giải tỏa cho họ. Nói đến côn đồ Hải Phòng người dân nghĩ ngay đến những đầu gấu nổi tiếng từ những thập niên 80 khi các nhóm này cùng tháp tùng những người vượt biên tìm tự do sang Hong Kong định cư trong các trại tỵ nạn lúc bây giờ, đã cấu kết nhau dùng mọi thủ đoạn để tước đoạt vật phầm ít ỏi do Cao Ủy phân phối cho người tỵ nạn. Những nhóm côn đồ này sau cùng lọt sổ qua vài nước đa số là Canada một số khác bị cưỡng bức hồi hương về lại Việt Nam và tiếp tục kiếm sống bằng những hành động phi pháp. Họ được bảo kê vì trong xã hội Việt Nam không có bất cứ một hành động côn đồ nào có thể qua mắt được công an khu vực.
Hơn 50 côn đồ vũ trang đã tấn công người dân tại đây gây ra thương tích cho hàng chục người và cuối cùng thì không một tên lưu manh nào bị bắt mặc dù chính quyền xã, huyện đã được thông báo và tới hiện trường chỉ để đứng nhìn sự rút lui của bọn người này
Khi các vụ tranh chấp đất đai nổ ra tại Văn Giang Dương Nội và những địa phương khác, xã hội đen lại xuất hiện nhưng lần này với một tư thế khác, họ tập trung từng nhóm hàng chục người vũ trang bằng dao kiếm cùng những hung khí lạ lùng khác, kéo nhau tới những nơi có nông dân bám trụ giữ đất và dùng những động thái khiêu khích, chửi bới người dân rồi sau đó tấn công họ mà không sợ bị bắt bởi chính quyền sở tại.
Nhiều câu chuyện tấn công như vậy đã xảy ra và chính quyền vẫn tiếp tục im lặng như không phải phần việc của mình. Chưa có người dân nào chết nhưng mức độ thương tật trên cơ thể của họ đã đủ nhiều để đánh động với dư luận quần chúng rằng côn đồ đang được chính quyền thuê mướn hay chí ít bao che bằng sự im lặng để tấn công những người không quy phục các hành vi mờ ám toa rập với doanh nghiệp để lấy đất của người dân.
Câu chuyện côn đồ tấn công người dân mất đất lại xảy ra vào ngày hôm qua, 21 tháng Tư tại xã Đại Thắng, huyện Tiên Lãng Hải Phòng. Hơn 50 côn đồ vũ trang đã tấn công người dân tại đây gây ra thương tích cho hàng chục người và cuối cùng thì không một tên lưu manh nào bị bắt mặc dù chính quyền xã, huyện đã được thông báo và tới hiện trường chỉ để đứng nhìn sự rút lui của bọn người này.
Ông Lương Văn Trinh, người dân xã Đại Thắng huyện Tiên Lãng Hải Phòng, trực tiếp trong vụ tranh chấp đất ngay từ đầu giữa người dân và doanh nghiệp cũng như chính quyền cho biết:
Cái việc này nếu mà nói thì rất dài dòng nhưng từ quyết định sai trái của UBND thành phố Hải Phòng dẫn đến việc này. Người ta tự ra quyết định thu hồi tự áp đặt giá cho nhân dân. Khi dân người ta phát hiện và khiếu kiện thì người ta các cấp chính quyền từ năm 2004 đến bây giờ không cấp chính quyền nào đứng ra giải quyết việc này. Bây giờ doanh nghiệp thuê xã hội đen về đánh đập đàn áp cả buổi chiều ngày hôm qua. Tôi là người đứng đầu đơn và khiếu nại đã chứng kiến việc này từ đầu tới cuối, tất cả vụ việc xã hội đen người ta đàn áp nhân dân.
Bà Lương Thị Đính bị đập gạch vào đầu.
Bà Lương Thị Đính bị đập gạch vào đầu. Photo Minh Khang/VTC

Khi chúng tôi hỏi cụ thể vụ việc xảy ra như thế nào ông Trinh cho biết thêm chi tiết:
Vào lúc 12 giờ 15 ngày 21 tháng Tư khi người dân phát hiện ra doanh nghiệp về có thuê một số xã hội đen đang giở lều giở mọi thứ của nhân dân thì nhân dân ra thì đã có mấy chục tên đầu cạo trọc xăm trổ đầy mình, khi nhân dân vào trong ruộng của mình để sản xuất thì nó tập trung nó đánh một số người dân bị thương rất đau. Thế nhưng hôm qua tôi có gọi chính quyền xã người ta đến kịp thời nhưng nói thật với anh chính quyền xã hay huyện thì người dân chúng tôi rất thất vọng về chính quyền rồi không nói gì về chính quyền huyện và xã nữa.
Tôi rất thất vọng vì việc xảy ra như thế, yêu cầu chính quyền huyện và xã đứng ra giải quyết, lập biên bản thì người ta không ký mà các phóng viên báo chí về thì người ta bảo không ký cũng được còn quyết thế nào thì hồi sau các ông sẽ chịu trách nhiệm về vấn đề này.
Vào lúc 12 :15 ngày 21/04, khi người dân phát hiện ra doanh nghiệp về có thuê một số xã hội đen đang giở lều giở mọi thứ của nhân dân thì nhân dân ra thì đã có mấy chục tên đầu cạo trọc xăm trổ đầy mình, khi nhân dân vào trong ruộng của mình để sản xuất thì nó tập trung nó đánh một số người dân bị thương rất đau.
Ông Lương Văn Trinh
Theo ông Trinh số người dân bị tấn công và mang thương tích đa số không nặng lắm chỉ có hai người là chị Dính và ông Phượng là bị nặng. Chị Dính bị ném gạch vào đầu hiện vẫn nằm viện, ông Trinh cho biết:
Dạ mười một mười hai người, có một người hiện nay nằm nhẹp vì bị đánh vào cổ, còn một chị vỡ đầu thì nằm viện chắc chắn hôm nay về còn một số người bị đánh tím bầm chân tay vào ngực và mạn sườn rất là nhiều.
Chẳng lẽ quyết định của chính quyền không giá trị
Công ty Hoa Thành là chủ đầu tư và là công ty được chính quyền hỗ trợ trong việc trưng thu đất đai của người dân. Khi vụ việc xảy ra người dân cho biết chính công ty này thuê một công ty khác mang phương tiện cơ giới đến để san bằng ruộng đất của bà con đang canh tác và để hỗ trợ việc làm này họ đã thuê côn đồ không chế và tấn công bà con. Trong khi đó ông Hà Như Nam Tổng giám đốc công ty Hoa Thành có mặt tại hiện trường nhưng không có một cử chỉ nào đối với côn đồ hành hung người dân.
Dạ không, kể cả ông Hà Như Nam đứng đấy vẫn không giải quyết vấn đề gì cả mà trước khi xảy ra vụ đánh đập tôi đã hỏi ai là trưởng đoàn đại diện ở đây, nếu các anh đại diện cho các người trong công ty về đây làm việc thì các anh có đầy đủ giấy tờ thủ tục pháp lý hay không thì về ủy ban tỉnh với tôi làm việc nhưng họ không có một thứ giấy tờ gì. Sau tôi mới áp giải ông Đài Loan thì ông ấy mới về. Về lập biên bản nhưng ông ta không ký.
Cái tin này người dân rất bức xúc. Trong xã hội chủ nghĩa mà làm sao chính quyền lại để xảy ra những việc như thế này, tôi rất bức xúc và thất vọng về chính quyền. Mình đường đường là xã hội chủ nghĩa, nhà nước mà lại để xã hội đen đánh dân không tiếc tay giải phóng mặt bằng? Trong khi đó chính thành phố ra quyết định ngừng đình chỉ thi công việc này. Quyết định ra rồi nhưng công ty Hoa Thành vẫn cứ tiến hành làm việc không qua chính quyền vậy công ty này có coi chính quyền coi nhà nước này ra cái gì nữa không?
Chính thành phố ra quyết định ngừng đình chỉ thi công việc này. Quyết định ra rồi nhưng công ty Hoa Thành vẫn cứ tiến hành làm việc không qua chính quyền vậy công ty này có coi chính quyền coi nhà nước này ra cái gì nữa không?
Ông Lương Văn Trinh
Khi chúng tôi hỏi thêm về chi tiết đền bù giải tỏa của chính quyền đối với khu vực đất này thì được biết khu dất 88.000 m2 đất nông nghiệp của người dân xã Đại Thắng đã được chính quyền đền bù cho mỗi mét vuông là 20.000 đồng. Sau khi tính thêm các khoản hoa mầu thì giá tiền vẫn chỉ 23.700 một mét vuông. Tổng số các hộ dân trong khu dất là 123 hộ và trong đó có 9 hộ không đồng ý với số tiền này và hiện nay có tới 100 hộ dân không chịu giao đất.
Đúng rồi, người ta áp đặt người ta quy định giá nhà nước đưa ra chỉ có như thế thôi, 23,700 cộng tất cả các khoản vào rồi, còn thực tế đền tiền hoa lợi không được như thế đâu. Cái giá này anh có cần thì về đây em thông tin có cả giấy viết tay người ta thông báo bằng giấy viết tay chứ không phải văn bản gì cả. Chủ tịch xã Đào Văn Thuận bây giờ đã nghĩ rồi ổng ký tay thôi còn giá đất đền bù em có đầy đủ. Những sai phạm gì anh cần thì về đây em cung cấp.
Điều đáng nói là thành phố Hải Phòng đã ra lệnh cho doanh nghiệp ngưng không được tiến hành giải tỏa vì chưa giải quyết dứt điểm nhưng công ty Hoa Thành vẫn tập trung xã hội đen làm áp lực với người dân. Câu hỏi đặt ra hiện nay ai là người chống lưng cho Hoa Thành để công ty này coi thường luật pháp Việt Nam như vậy. Nói với chúng tôi về việc làm sắp tới của bà con ông Lương Văn Trinh cho biết:
Chúng em định tối nay họp dân, chính quyền xã và huyện không giải quyết thì sáng mai chúng em hàng trăm người kéo nhau ra thành phố Hải Phòng. Việc đúng sai về đất cát em chưa cần nói nhưng giải quyết cái vụ ngày 21 vừa qua thuê xã hội đen đánh người chính quyền xã huyện không giải quyết thì UBND thành phố Hải Phòng giải quyết thế nào thì trả lời chúng em. Sáng mai chúng em sẽ đi ra đó
Sự căm phẫn của người nông dân vẫn có giới hạn. Họ chưa phản ứng mạnh vì còn tin vào công lý và sự tha hóa chỉ là một hai cá nhân nào đó. Cho đến khi người dân khẳng định được hầu hết cán bộ đều đứng về phía doanh nghiệp và im lặng cho xã hội đen trấn áp bà con thì với số đông thầm lặng ấy họ không dễ gì bỏ cuộc. Không lẽ lúc ấy chính quyền sẽ dùng tới quân đội chăng?

Theo rfa

Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng'



Hội đồng giám mục Việt Nam
Hội đồng Giám mục VN đã gửi bản góp ý Hiến pháp cho chính quyền ngày 01/3/2013
Văn bản của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội được cho là đã làm 'rung chuyển' nhiều thành phần trong xã hội.
Tiếng nói này của BấmHội đồng có vẻ không chỉ tác động tới cộng đồng Công giáo Việt Nam, mà có thể còn ảnh hưởng ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc và trong chừng mực nào đó đã tạo ra sự hân hoan, phấn khởi ở một bộ phận người dân.
Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ, trí thức và quần chúng cũng đã gây nên một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có 'những dấu hiệu chuyển mình - cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân VN.
Có vẻ những sự kiện trên đã làm cho nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và phản ứng của nhiều quan chức tỏ ra 'giấu đầu hở đuôi, tiền hậu bất nhất' đã bị dư luận xã hội phản ứng kịch liệt để khẳng định quyền của mình – quyền của những 'Con Người'.
Lý do của sự 'lúng túng và hoảng hốt' này có vẻ dễ hiểu và trước đây, đã có nhiều đợt kêu gọi góp ý cho các văn bản của Đảng và Nhà nước rồi những màn tuyên truyền với các lập luận như ở Việt Nam: “Dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản” theo cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hay “gấp vạn lần dân chủ tư sản,” theo lời của Phó Chủ tịch nước, bà Nguyễn Thị Doan.
Thế nhưng, có vẻ đa số người dân chẳng mấy ai quan tâm vì họ thừa biết mục đích của những tuyên truyền ấy là gì trong khi các đợt góp ý, lấy ý kiến nhân dân đều “hoàn toàn thắng lợi rực rỡ” và việc tuyên truyền về chúng trở nên rầm rộ.
Có vẻ tưởng rằng mọi chuyện cũng sẽ xuôi chèo mát mái như mọi lần trước, nên Chính quyền và Đảng có vẻ tăng tốc việc tổ chức “lấy ý kiến nhân dân sửa đổi Hiến Pháp”.

'Lương tâm và đòn bẩn'

"Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn 'đục khối bê-tông', càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông"
Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh
Nhưng thời thế đã khác. Trước những tiếng nói hợp lòng dân, vì đất nước, dân tộc, nhà cầm quyền đã không thể đàng hoàng tranh luận, công khai phổ biến nên đã dùng những chiêu 'rất… bẩn'.
Trước hết, là kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba. Một trong những mục đích của việc kéo dài thời gian, là sau khi chi 'hàng đống tiền dân' từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”.
Bằng chứng là chỉ sau mấy tháng, nhà nước đã tuyên bố có cả chục triệu ý kiến góp ý. Lẽ dĩ nhiên là “đa số tuyệt đối” sẽ phải đồng ý với nhà nước. Chỉ riêng tỉnh Bình Dương, đã có gần 45 triệu chữ ký. Một con số không có thể có gì hài hước hơn khi mà ngay trước đó, báo chí nhà nước đã khẳng định nông dân chẳng quan tâm gì đến trò này – và trò này đã bi 'vạch mặt.'
Ngoài ra, hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn 'lôi đám nhân sĩ, trí thức' ra 'đánh hội đồng' trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì? Ngón nghề này xưa nay vẫn được dùng có hiệu quả khi tạo lên cơn lên đồng tập thể theo ý muốn của nhà nước. Song giờ đây bài thuốc này xem ra 'mất linh', trong khi nhân dân vẫn 'khi thì âm ỉ, khi thì sôi sục, công khai' nói lên nguyện vọng của mình.
Riêng với văn bản của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HĐGMVN), nhà cầm quyền thừa hiểu rằng: tiếng nói của Hội đồng này là tiếng nói, tâm tư của 8 triệu giáo dân, chiếm tới khoảng 1/10 dân số cả nước.
Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn.
Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn 'đục khối bê-tông', càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là 'bẩn thỉu' hơn.

'Dựng chuyện và bịa đặt'

"Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú"
Bắt đầu là bài dựng chuyện và bịa đặt, con bài này đã được sử dụng nhiều trong các vụ việc liên quan đến các tôn giáo cũng như những 'thế lực thù địch' của nhà nước.
Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội 'mạt sát' được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú.
Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”.
Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”.
Thế nhưng, với Công giáo, vở kịch này có vẻ không dễ dàng diễn ra bởi khối thống nhất hiệp thông mạnh mẽ của Giáo hội. Vì thế Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân 'bóc mẽ', sự bịa đặt bị phê phán là 'trắng trợn nhớp nháp' này đã bị 'vạch trần' trước muôn dân và dư luận quốc tế.
Tiếp đến là một phóng sự về vùng Công giáo Nam Định với Góp ý Dự thảo Hiến pháp. Một linh mục được đưa lên màn hình, thế nhưng những điều nhà đài muốn nói thì lại không có, màn gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó.
Và tiếp đến là Báo Nhân Dân đăng “trang trọng” bài viết được cho là của một giáo dân “Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý”. Bài viết được giới thiệu là trích lại từ website 'Sách hiếm', đây là trang web cùng với 'Giao điểm', được cho là luôn được nhà nước 'ưu ái' trích dẫn, đăng lại các bài viết.
Người ta mệnh danh Phật giáo để 'điên cuồng xuyên tạc' và 'chống phá Công giáo.' Việc 'đánh phá Công giáo' ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra.
Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm 'vừa lòng ông chủ' và cơn 'hận thù mù quáng' của họ.

'Mạo danh và đâm lưng'

"Thực ra, để 'dựng ra' một chức sắc công giáo, thì Đảng vẫn có thể dễ dàng làm được, do đó việc tạo ra một ai đó gọi là 'giáo dân' không phải là điều khó khăn"
Nếu ai đó quan tâm xem những trang website như ' BấmGiao điểm', ' BấmSách hiếm' là của ai, có thể tìm thấy một 'văn bản yêu cầu' Tổng cục Hải Quan Việt Nam 'hỗ trợ' một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí 'Giao Điểm' được in trong nước đưa ra nước ngoài để 'phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'.
Chỉ cần như vậy cũng đã giúp thể hiện rõ 'Giao điểm', 'Sách hiếm' cũng như tờ Nhân Dân là ai và thiết nghĩ ai đó có lẽ khỏi cần 'nhọc công' bày đặt những điều được cho là 'các trò trích dẫn'. Thông thường, khi nhà nước có vấn đề nào đó với giáo hội Công giáo, người ta có thể quan sát thấy nhà nước liền sử dụng những người thuộc nhóm 'Giao điểm' như các ông Trần Chung Ngọc, Nguyễn Mạnh Quang, bị cáo buộc là 'mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo'.
Năm 2008, các vị này được cho là đã 'ra tay thi thố lắm trò'. Thế nhưng, như cái kim trong bọc có ngày thò ra, nhân dân đã tỏ ra là 'cũng có mắt', thậm chí còn là 'những con mắt tinh tường' không dễ bị 'lòe bịp.' Còn nhớ đã có một bài viết được báo Nhân Dân đăng và một số báo khác đăng lại, nói rằng là của “một công dân theo Thiên chúa giáo” và được đăng với sự đồng ý của tác giả.
Đọc qua bài viết được cho là 'ngây ngô' này, thiết nghĩ không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao. Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”.
“Hiện tại, Việt Nam là quốc gia tiến bộ về vấn đề nhân quyền – quyền con người nên nếu nhận định “trói buộc” nên bị “kìm hãm” là không thực và quá thiên kiến hay cố ý gán ghép”. Hoặc: “Dân trí ta còn thấp nên khó lòng đòi hỏi thực hiện tối đa các quyền dân chủ…” hay “Trên thực tế tôi nhận thấy 'tam quyền phân lập' kiểu Việt Nam chúng ta trong hiện tại là phù hợp với tâm cảnh người Việt Nam”…
Thậm chí, vẫn theo tác giả này, thì: “Theo tôi được biết chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân.”
Thiết nghĩ và e rằng, đọc những câu chữ ấy, thì đến trẻ con cũng không khỏi phải 'bật cười' về nhận thức cũng như trình độ của tác giả trên tờ báo Đảng. Thế nhưng, điều cần lưu ý là tác giả đã được Báo Nhân Dân đề cao chỉ vì là “một công dân theo Thiên chúa giáo” đã nói theo 'đúng ý Đảng', bằng những lập luận có thể được xem là vẫn thường thấy trên Nhân Dân và Quân đội Nhân dân.

'Giáo dân hay giáo gian?'

"Khi sự tự trọng của một cơ quan truyền thông quốc gia còn không coi là có giá trị nào để việc bịa đặt, thêu dệt trở thành đặc tính riêng của họ, thì vài ba nhân vật, dăm bảy phóng sự được cho là 'bịa đặt thêm' chẳng có gì là quan trọng"
Thực ra, để 'dựng ra' một chức sắc công giáo, thì Đảng vẫn có thể dễ dàng làm được, do đó việc tạo ra một ai đó gọi là 'giáo dân' không phải là điều khó khăn.
Khi sự tự trọng của một cơ quan truyền thông quốc gia còn không coi là có giá trị nào để việc bịa đặt, thêu dệt trở thành đặc tính riêng của họ, thì vài ba nhân vật, dăm bảy phóng sự được cho là 'bịa đặt thêm' chẳng có gì là quan trọng.
Điều này đã được thực hiện quá nhiều trong thực tế khi người ta quan sát thấy có những sự kiện bộ đội được huy động gỡ bỏ đai hiệu của họ để đóng vai giáo dân, rồi chính quyền bị 'bắt quả tang' sử dụng văn bản nhà nước 'nhét vào mồm linh mục' nói rằng một văn bản nào đó là văn bản 'tự nguyện hiến đất nhà thờ' cho chính phủ…
Có thể gọi là đủ các chiêu thức. Chúng ta còn nhớ hồi năm 2008, trong biến cố ở 40 phố Nhà Chung, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội đã yêu cầu chính quyền làm rõ việc giới chức 'chiếm, cướp, tịch thu hay mượn' của Nhà thờ để dẫn tới việc cơ sở tôn giáo này khi đó sắp bị 'bán, phá phách và làm biến dạng' để phục vụ điều được cáo buộc là 'bán và chia chác'.
Khi đó, Báo chí Việt Nam đang 'im tịt' bỗng dưng đồng loạt đăng bài viết được ghi là của tác giả “Phùng Nhân Quốc - Một giáo dân Hà Nội”.
Khi bị chất vấn liệu tác giả bài báo có phải là một 'giáo dân Phùng Nhân Quốc' có thực hay chỉ là 'một Giáo gian hạng xịn', một dạng được cộng đồng giáo dân nghi vấn là 'cái lưỡi nói theo ý chủ mà thôi, thì y như rằng sau đó, nhiều nguồn tin đã cho hay đây là bài của ông Hồng Vinh, Phó trưởng ban Văn Hóa tư tưởng Trung ương.
Nếu cáo buộc này là đúng thì quả là chính quyền còn 'tài hơn Tề thiên đại thánh' khi bố trí để một Phó ban quan trọng như thế của Đảng biến thành một giáo dân hay là 'giáo gian."

'Vạch mặt nhiều lần'

"Đơn giản nhất là trong đất nước VN này, hẳn không ai không biết rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục"
Có lẽ chính vì bị vạch mặt quá nhiều lần, lần này báo Nhân Dân tưởng vớ bở khi có một người có tên tuổi và địa chỉ đưa ra cho có vẻ có sự thật. Đó là ông Nguyễn Trọng Nghĩa, ngụ tại số 37, đường Ðiện Biên Phủ, xã Mỹ Trà, Thành phố Cao Lãnh, tỉnh Ðồng Tháp, được giới thiệu là giáo dân giáo xứ Cao Lãnh.
Đọc qua bài viết của ông Nghĩa, quả thật chúng tôi buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông, bởi ở bài viết hàm chứa đầy đủ điều được cho là 'sự hỗn xược và ngu dốt' nếu đúng đó là một giáo dân.
Đơn giản nhất là trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân. Tiếc rằng có vẻ báo Nhân Dân đã không thể hiểu được điều hiển nhiên này.
Ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự 'hoang tưởng' của một người có đầu óc không bình thường đã buộc chúng tôi tìm hiểu về nhân vật này.
Và một số giáo dân Giáo xứ Cao Lãnh do linh mục Marcel Trần Văn Tốt, chánh xứ, Linh mục Phêrô Trần Trung Chỉnh làm phó xứ, cho chúng tôi biết như sau:
Ông Nguyễn Trọng Nghĩa tại địa chỉ này năm nay 32 tuổi có một vợ và một con. Ông mới học xong Phổ thông Trung học thì làm Phó Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của xã Mỹ Trà. Được một thời gian, do vi phạm khuyết điểm, nên ông buộc phải ra khỏi chức vụ đó. Ông được cho là đã 'bỏ đạo' đã hơn chục năm nay, hoàn toàn không liên hệ với nhà thờ, với giáo xứ và các việc thuộc Giáo hội Công giáo.
Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị 'man mát', hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức.
Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”? Chắc Báo Nhân Dân thừa biết rằng một tôn giáo cũng như bất cứ một tổ chức nào, khi anh đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định, nghĩa là anh đã đứng ra ngoài tổ chức đó.

'Không còn hiệp thông'

"Trong Giáo hội Công giáo, khi anh đã không còn hiệp thông với Giáo hội, nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo. Chân lý đơn giản như vậy thôi"
Ở Giáo hội Công giáo không giống như tổ chức của Đảng Cộng sản vốn luôn tự cho là 'trong sạch, vững mạnh, liêm khiết và đạo đức' và rằng các đảng viên cộng sản là 'bộ phận tiên phong' hay nói cách khác 'là tinh hoa dân tộc,' điều mà chính Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phải đặt dấu hỏi khi nói “một bộ phận không nhỏ” hay là có sự tồn tại của “cả một bầy sâu” trong Đảng.
Ở đây, trong Giáo hội Công giáo, khi anh đã không còn hiệp thông với Giáo hội, nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo. Chân lý đơn giản như vậy thôi.
Nó cũng tương tự như khó có ai có thể nói ông Hoàng Văn Hoan còn là đảng viên Cộng sản Việt Nam sau khi ông đã đào thoát sang Trung Quốc, dù ông Hoan đã từng là Ủy viên Bộ Chính trị.
Một người cả chục năm nay không liên hệ, hiệp thông với giáo hội, không tham gia các nghi lễ tôn giáo, các bí tích, thế mà ông ta vẫn viết: “con nhắc nhở các Ngài Giám mục và hàng giáo sĩ chúng ta luôn đọc “kinh sáng soi” trước khi làm việc gì! Con đọc kinh sáng soi nhiều lần trong ngày và trong 7 ngày để viết thư này,” một điều thiết nghĩ không còn gì có thể 'hài hước hơn.'
Cuối cùng, vẫn biết rằng chẳng ai dư thời gian để đi đọc hoặc trả lời những lời lẽ này của người được cho là mắc chứng 'hoang tưởng' hay 'bị bệnh tâm thần', nhưng việc tờ báo Đảng, tiếng nói của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN, lại lấy những thứ này như là chiếc 'phao cứu sinh' thì điều được cho là 'sự quẫn bách' đã đến mức tận cùng.
Và quan trọng hơn, nó có thể ít nhiều thể hiện sự cùng quẫn, hoảng loạn và lúng túng từ đầu não của một bộ phận đáng kể hay toàn thể ê-kíp lãnh đạo chóp bu Việt Nam trong tình hình hiện nay.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một blogger và nhà báo tự do theo Công giáo, đang sinh sống tại Hà Nội.

Theo BBC

VC Đấu thầu vàng để bình ổn thị trường: Cuộc chơi không kỳ vọng (22/04/2013)

Ngân hàng nhà nước sẽ chuẩn bị thêm 12 tấn vàng cho đợt đấu thầu thứ hai sau khi 10 tấn vàng đã chính thức được cơ quan này tung ra cho các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp. Giá vàng trong nước vẫn chưa thôi biến động và người dân vẫn chịu thiệt thòi khi tham gia.
 
Giữa "cơn lốc” giá vàng,
người dân vẫn hoang mang và chịu nhiều thiệt thòi
                                                                      Ảnh: Hoàng long
 
Nghi ngờ hiệu quả đấu thầu
 
Khi bắt đầu công cuộc bình ổn giá vàng vào tháng 10 năm 2011, thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình đã tuyên bố: Mục tiêu thời gian tới là đưa chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới về mức 400 nghìn đồng/lượng.  Nếu giá vàng có sự vượt quá mốc điểm này tức là bị đầu cơ. Thế nhưng, sau gần một năm rưỡi (đến tháng 4-2013) từ can thiệp đến kiến tạo thị trường vàng, giá vàng trong nước vẫn vênh cao kỷ lục so với giá thế giới. NHNN đang giữ vai trò là người mua bán cuối cùng, vậy đây là trách nhiệm của ai? 
 
Điểm lại thị trường vàng kể từ khi NHNN chính thức tổ chức phiên đấu thầu thứ nhất vào ngày 28-3 và phiên cuối đợt 1 (phiên 9) vào ngày 18-4 cho thấy: 10 tấn vàng đã được NHNN tung ra cho 22 TCTD và DN thiết lập mối quan hệ mua bán với NHNN. Khoảng cách giá vàng trong nước và thế giới tăng từ 2,6 triệu đồng đến 6,5 triệu đồng. Có thời điểm, cán mốc 7 triệu đồng. Và cũng không ai dám chắc chắn rằng, đây là mức giá chênh cuối cùng.
 
Hiệu quả công tác đấu thầu vàng do NHNN đang và sẽ tiếp tục triển khai đặt ra những nghi vấn lớn hơn bao giờ hết. Vậy bản chất của việc đấu thầu vàng là gì? Câu trả lời đang đổ dồn về việc NHNN gián tiếp giúp các TCTD hoàn thành cân bằng trạng thái vàng thiếu hụt trước hạn 30-6. 
 
So với nhu cầu vàng tất toán lên tới 20 tấn vàng của các NHTM thì con số 10 tấn vàng đã cung ra chiếm tỷ lệ 50%. Việc chuẩn bị thêm 12 tấn vàng cho đợt đấu thầu lần này cũng hoàn toàn nằm trong chuỗi lôgic này.
 
Một chuyên gia về vàng khẳng định trên thị trường, trước kia giá vàng được quyết định bởi thị trường. Nhưng nay NHNN độc quyền nhập, dập và bán. Vậy NHNN đang thao túng giá vàng. Một khi  NHNN đã phát giá đi từ các phiên đấu thầu là cao thì giá ở thị trường thứ cấp (doanh nghiệp – người dân) đều đặn cao và không có chuyện phá rào.
 
Giá vàng trong nước vẫn nằm trong thế ảo
                                                                       Ảnh: Hoàng Long
 
Giá vênh cao - biểu hiện thị trường vàng bình ổn?
 
Vì vậy dù giá vàng giật cục, rớt về 39 triệu đồng/lượng rồi lên 42 triệu đồng/lượng vẫn không phản ánh đúng biến động của vàng. Giá vàng bất ổn cũng được các chuyên gia nhìn nhận là do một tay NHNN và các TCTD làm nên.  Bởi họ là người mua tích cực trên thị trường và góp phần vào sự tăng giá ảo mạnh mẽ của thị trường vàng trong nước, chứ không phải người dân. Chính người dân cũng đang ngần ngại bởi khoảng cách giá quá lớn. Theo một lãnh đạo  NHNN, qua chế độ báo cáo của hệ thống, lượng mua của người dân có tăng lên nhưng không quá lớn, chỉ khoảng vài nghìn lượng/ngày. Lượng cầu này không đủ tác động đến giá vàng.
 
NHNN nói chỉ muốn bình ổn thị trường chứ không bình ổn giá nhưng điều người dân quan tâm nhất lại là giá. Quan điểm về thị trường vàng của NHNN và người dân không gặp nhau. Đơn giản người dân chỉ biết rằng, giá vàng ổn định thì thị trường mới ổn định. Một khi giá vàng trong nước vênh quá cao với giá vàng thế giới, có nghĩa là người dân phải mua đắt, quyền  lợi không được đảm bảo.
 
Điểm chung của 9 phiên đấu thầu là NHNN đưa ra giá sàn cao hơn giá thị trường trong nước cùng thời điểm. Việc niêm yết giá vàng ngoài thị trường "hậu đấu thầu” mang tính chủ quan do chính NHNN mào đầu, dẫn đến tình trạng doanh nghiệp nhìn giá NHNN niêm yết, cùng nhau đẩy giá lên, hoặc neo giá gây thiệt hại cho người dân. Thực tế, người dân hiện đang mua giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới đến 18- 20%. Các chuyên gia cho rằng, không thể gọi đây là dấu hiệu của một thị trường vàng bình ổn.
 
Ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý Ngoại hối (Ngân hàng Nhà nước), cho biết, giá vàng thế giới giảm mạnh nhưng giá vàng trong nước điều chỉnh không kịp, chênh lệch giá vẫn ở mức cao. NHNN khuyến cáo người dân cần bình tĩnh, thận trọng trước khi quyết định mua bán vàng bởi diễn biến giá thế giới hiện nay rất khó dự báo.
Bước đệm để "xì hơi”?
 
Ông Nguyễn Quang Huy, Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối, NHNN cũng khẳng định, NHNN cũng không khuyến khích người dân chạy theo đầu cơ mua bán vàng. Hiện việc đưa  giá vàng  trong nước tiệm cận với giá vàng thế giới được hình dung như đi trên cái thang. Tức là nó diễn ra khi nào NHNN làm xong nhiệm vụ bình ổn thị trường, sau đó đến mục tiêu bình ổn giá.
 
Ông Nguyễn Thành Long, Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, muốn có một cái nhìn chính xác về sự ổn định thị trường vàng thì phải đợi sau ngày 30-6-2013, khi mà các NHTM hoàn tất đóng trạng thái vàng.
 
Một chuyên gia kinh tế độc lập phân tích lộ trình: vàng hậu đấu thầu được đưa ra thị trường rất ít, NHNN và TCTD  đang trực tiếp đẩy giá ảo cho thị trường. Sau khi việc tất toán vàng đã hòm hòm, NHNN vẫn tiếp tục cung ứng vàng. Lúc đó TCTD và DN ngồi chờ thị trường trong nước biến động theo thế giới, nếu giá cao thì bung hàng đã gom được trong lần đấu thầu 1 ra bán. Giá thấp thì mua vào.
 
Chuyên gia kinh tế, TS Lưu Bích Hồ, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ KH &ĐT) khuyến cáo, giá vàng trong nước vẫn đang nằm trong thế ảo, và có thể bị xì hơi  nên nếu đầu tư vào vàng với quan điểm đầu tư ngắn hạn thì người dân phải cẩn trọng tránh bị thiệt hại. Ông khẳng định, tất cả các kênh đầu tư vàng, chứng khoán, bất động sản… còn tiềm ẩn rủi ro cho người chơi nếu như công cuộc tái cơ cấu kinh tế không được làm triệt để. 
 
Thúy Hằng