THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label KinhTe - ThiTruong. Show all posts
Showing posts with label KinhTe - ThiTruong. Show all posts

11 December 2013

Vinamilk chi 7 triệu USD mua công ty sữa của Mỹ

(TNO) Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) ngày 9.12 công bố đã nhận được giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cấp. Cụ thể Vinamilk đầu tư 7 triệu USD để nắm giữ 70% vốn chủ sở hữu công ty Driftwood Dairy tại bang California, Mỹ.
Driftwood Dairy là công ty chuyên sản xuất và phân phối các sản phẩm từ sữa (như sữa tươi, sữa đậu nành, kem sữa…), nước hoa quả và đồ ăn nhẹ. Các sản phẩm được phân phối tại thị trường California và có thể được xuất khẩu.
Tính đến hết tháng 9.2013, Vinamilk đã đầu tư 236 tỉ đồng vào các công ty liên kết, liên doanh. 9 tháng đầu năm nay, công ty này đạt doanh thu 23.242,39 tỉ đồng (tăng 16,8% so với cùng kỳ năm ngoái) và lợi nhuận sau thuế hơn 5 tỉ đồng (tăng 21,4% so với cùng kỳ năm ngoái).
Dự kiến cả năm 2013, Vinamilk sẽ chia cổ tức ở mức 34% bằng tiền mặt (tương ứng 3.400 đồng/cổ phiếu).
Mai Phương

07 December 2013

PV Gas tăng giá, đột nhiên đổi tướng

(Doanh nghiệp) - Ngày 6/12, Tổng công ty Khí Việt Nam (PV Gas) đã công bố thông tin về việc thay đổi nhân sự chủ chốt của công ty.
Theo đó, ông Đỗ Khang Ninh sẽ thôi giữ chức Chủ tịch HĐQT kể từ ngày 6/12, theo quyết định của HĐQT PV Gas. 
Ông Ninh tiếp tục giữ chức Tổng giám đốc công ty và thành viên HĐQT PV Gas. Cùng ngày, HĐQT PV Gas ông Lê Như Linh làm thành viên HQĐT và giữ chức Chủ tịch HĐQT. Được biết vào ngày 3/12, tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã có công văn giới thiệu nhân sự để bầu ông Linh làm Chủ tịch HĐQT.

Nhiều doanh nghiệp gas báo lãi lớn
Nhiều doanh nghiệp gas báo lãi lớn
Việc PV Gas thay đổi Chủ tịch HĐQT cũng khá trùng hợp thời điểm giá gas trong nước tăng giá khá mạnh (tăng 80.000 đồng/bình 12kg) và chỉ sau thông báo của Bộ Công thương trước đó 4 ngày (ngày 2/12). Bộ này cho biết sẽ phối hợp với bộ Tài chính kiểm tra các doanh nghiệp kinh doanh gas, nếu phát hiện các hành vi lợi dụng, thao túng giá sẽ xử lý nghiêm.
Công bố này được đưa ra cùng lúc một số doanh nghiệp đầu mối trong sản xuất, nhập khẩu, phân phối gas vừa đồng loạt hoan hỉ báo lãi với mức lợi nhuận ngất ngưởng. Điển hình là tổng công ty Khí Việt Nam (Mã CK: GAS – HOsE ) đang dẫn đầu những doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán về mức lợi nhuận chín tháng đầu năm 2013. 
Lợi nhuận trước thuế trong quý III và ba quý của GAS đạt 3.743 tỷ đồng và 12.825 tỷ đồng, tăng lần lượt 17% và 38% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong bối cảnh khó khăn chung, 9 tháng đầu năm, PV GAS đã vượt hơn 30% kế hoạch lợi nhuận của cả năm, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là giá vốn giảm đến 16%.
Một doanh nghiệp khác, là công ty cổ phần Khí hoá lỏng miền Nam (PGS), chín tháng đầu năm cũng thu lợi nhuận sau thuế hơn 198 tỉ đồng, vượt 10% chỉ tiêu kế hoạch cả năm. 
Tương tự, tổng công ty Gas Petrolimex, quý 3 và ba quý năm nay có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 16% và 3% so với cùng kỳ năm ngoái, song lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh vẫn tăng lần lượt 14% và 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Kết thúc quý 3, doanh nghiệp này thu lợi nhuận trước thuế lần lượt hơn 28 tỷ đồng và hơn 87 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm ngoái chỉ là hơn 24 tỷ đồng và hơn 67 tỷ đồng…
Một loạt các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực gas khác niêm yết trên thị trường chứng khoán, như Công ty Vận tải sản phẩm khí quốc tế cũng thu lợi nhuận trước thuế hơn 14,9 tỷ đồng và hơn 47 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ năm ngoái là 14 tỷ đồng và hơn 41 tỷ đồng. 
Theo tính toán của chuyên gia giá cả Ngô Trí Long, kinh doanh gas có mức lợi nhuận rất cao. Theo đó, mỗi bình gas, từ khâu nhập khẩu tới tay người tiêu dùng mang lại khoản lãi từ 140.000 – 155.000 đồng (xấp xỉ 30%). 
Trong đó, doanh nghiệp đầu mối nhập khẩu thu lời khoảng 40.000 đồng một bình; tổng đại lý thu lời 50.000 – 60.000 đồng mỗi bình, và doanh nghiệp bán lẻ thu lời 50.000 – 60.000 đồng.
Để kiểm soát giá gas, ông Ngô Trí Long cho rằng, cơ quan quản lý nên xem xét điều chỉnh thuế nhập khẩu gas đang từ mức 5% hiện nay xuống còn 0%, góp phần giảm giá thành. Đồng thời, liên Bộ Tài chính, Công Thương cần kiểm tra xem cơ cấu giá thành, lợi nhuận của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này đã hợp lý chưa, làm căn cứ điều hành giá.
Thái An (Tổng hợp)

27 November 2013

Thị trường lịch yên ắng dù đã cuối mùa

Chỉ còn ít ngày nữa là hết năm dương lịch 2013 song thị trường lịch tết vẫn có phần ảm đạm, dù rằng dịch vụ lịch biếu có chút sôi động.
Tuy đã vào vụ nhưng trung tâm lịch tết 2014 ở phố Đinh Lễ (Hà Nội) vẫn ảm đạm. Ảnh: Đ.T
 
Tại các khu phố được coi là trung tâm phát hành lịch của Hà Nội như: Tràng Tiền, Nguyễn Xí, Đinh Lễ và các nhà sách tại Cầu Giấy, Nguyễn Văn Cừ (Long Biên)... hiện nay đã có hàng trăm mẫu lịch được giới thiệu, bày bán tuy nhiên rất ít người mua.
 
Theo ông Mạnh Hà - đại diện Cty thương mại Ngân Hà (một trong những Cty in và phân phối lịch lớn tại thị trường HN) – đến thời điểm này công ty Ngân Hà đã làm đến trên 3,5 triệu cuốn, chủ yếu bán buôn và bán làm lịch biếu tặng.
 
Lý giải sự èo uột của thị trường bán lẻ lịch, ông Hà cho biết phải những ngày cuối năm mới nhộn nhịp bởi người dân có tâm lý đi sắm tết mới sắm luôn lịch.
 
Tương tự, chủ cửa hàng số 17A Đinh Lễ (Hà Nội) cũng cho hay, hiện nay, cửa hàng chủ yếu đang bán cho các đơn vị làm lịch tết biếu tặng, bán lẻ thì gần hết năm hoặc áp Tết Âm lịch mới bán được.
 
“Những năm trước, vào thời điểm này chúng tôi bán hàng không ngơi tay, nhưng năm nay như anh thấy, cả chủ và nhân viên đang ngồi chơi” - chị Thu - bán lịch và văn phòng phẩm tại Đinh Lễ - cho biết.
 
Giá các loại lịch năm nay cũng tăng nhẹ từ 5-10% do các chi phí khác tăng, nhưng vẫn ở mức người tiêu dùng chấp nhận được. Lịch bàn lò xo từ 70.000-120.000đ/quyển, lịch block cỡ trung bình giá từ 40.000 – 300.000đ/quyển, lịch 7 tờ giá từ 21.000-60.000đ/quyển tuỳ theo chất liệu giấy in và trang trí hình ảnh.
 
Để hạn chế tình trạng lịch lậu, trong mùa lịch block năm nay, Cục Xuất bản cũng đã ban hành 3 mẫu tem chống giả dán trên lịch block của các nhà xuất bản. Theo đó, tem chống giả năm nay vẫn là loại tem đề can vỡ, công nghệ nước và phát sáng 2 lần trong 1.
 
Lao động

25 November 2013

Giá vàng xuống thấp nhất 34 tháng qua, nhiều người đổ ra bán ??


25/11/2013 19:44 (GMT + 7)
TTO - Ngày 25-11 tiếp tục chứng kiến sự sụt giảm của giá vàng. Với giá bán ra còn 35,23 triệu đồng/lượng, vàng miếng SJC đã chạm vào mức thấp nhất kể từ tháng 1-2011. Nhiều người mua vàng trước đây đã tung ra bán.

Giá vàng miếng SJC xuống thấp nhất kể từ tháng 1-2011

Giá vàng thế giới giảm 10 USD/ounce, tương đương 255.000 đồng/lượng, xuống mức 1.231,5 USD/ounce nhưng giá vàng miếng SJC lại giảm đến 710.000 đồng/lượng, bán ra còn 35,23 triệu đồng/lượng, thấp nhất kể từ tháng 1-2011.
Sau cú giảm này, chênh lệch giá vàng trong nước – thế giới rút ngắn còn 3,88 triệu đồng/lượng.
Đây là lần hiếm hoi giá vàng trong nước giảm mạnh hơn giá vàng thế giới. Lý giải về điều này, các công ty vàng cho rằng lực bán trên thị trường tăng vọt vào chiều nay do phần lớn phân tích đều theo hướng giá vàng trong nước và thế giới còn giảm mạnh hơn, đặc biệt khi nhiều thị trường quan trọng như Mỹ và Châu Âu sắp bước vào kỳ nghỉ Lễ Tạ ơn.
Tâm lý sợ hãi đang bao trùm toàn thị trường khiến nhiều người mua vàng trước đây đã tung ra bán.
Tính trong vòng một tuần qua giá vàng trong nước đã bốc hơi 1,28 triệu đồng/lượng. Còn nếu so với mức đỉnh 49,2 triệu đồng/lượng, mỗi lượng vàng đã mất gần 14 triệu đồng/lượng.
Giá vàng giảm cũng góp phần hâm nóng giá USD tự do. Giá USD tự do ngày 25-11 cũng tăng lên sát 21.300 đồng/USD, tăng 40-50 đồng/USD so với cuối tuần trước. Trong khi đó giá bán USD niêm yết tại NH vẫn ổn định. Giá bán USD tại ba NH lớn Vietcombank, Eximbank và ACB ở mức 21.120 đồng/USD.
Trên thị trường quốc tế, giá vàng những ngày gần đây liên tục đi xuống do lo ngại về việc Cục Dự trữ Liên Bang Mỹ (FED) sẽ kết thúc sớm gói kích thích kinh tế. Do vậy các nhà đầu tư đang rút khỏi vàng để đổ tiền vào những loại tài sản ít rủi ro hơn.
A.H

24 November 2013

Giá vàng giảm về mức 35,98 triệu đồng/lượng



Thứ bảy, 2013-11-23 11:16:11 - Nguồn: ThanhNien.com.vn
Giá vàng thế giới tăng nhẹ trong phiên giao dịch cuối tuần (23.11), trong khi giá vàng trong nước tiếp tục đà đi xuống.
Đầu ngày, tại thị trường trong nước, giá vàng SJC niêm yết giá mua vào 35,92 triệu đồng/lượng, bán ra 35,98 triệu đồng/lượng, giảm 10.000 đồng/lượng so với giá cuối ngày hôm qua.
Hiện khoảng cách chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới vẫn duy trì ở mức 4,2 triệu đồng/lượng
Trên thị trường thế giới, đóng cửa phiên giao dịch ngày 22.11 (rạng sáng ngày 23.11, giờ Việt Nam), giá vàng ở mức 1.243 USD/ounce, tăng 1 USD so với phiên giao dịch liền trước.
Trong tuần này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chỉ tổ chức một phiên đấu thầu vàng. Đến nay, sau 71 phiên đấu thầu, NHNN đã bán ra hơn 1,74 triệu lượng vàng (tương đương hơn 65 tấn vàng).
Sáng nay, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được công bố bởi NHNN ở mức 21.036 đồng/USD.
Còn tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD vẫn ổn định so với ngày hôm qua. Giá mua và bán USD tại Vietcombank ở mức 21.075 - 21.115 đồng/USD; Eximbank ở mức 21.070 - 21.120 đồng/USD.
Lê Trần

14 November 2013

Giá vàng tăng 90.000 đồng/lượng


(Từ vàng đến vàng) - Chốt phiên giao dịch ngày 13.11 (rạng sáng 14.11, giờ Việt Nam), giá vàng thế giới tăng 17 USD/ounce so với phiên liền trước, lên mức 1.283 USD/ounce. Đây cũng là mức cao nhất trong phiên.

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.
Đi cùng xu hướng này, sáng nay 14.11, giá vàng trong nước tăng 90.000 đồng/lượng so với ngày 13.11. Hiện giá mua – bán vàng miếng tại Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) ở mức 36,47 – 36,53 triệu đồng/lượng.
Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới được thu hẹp về mức 3,7 triệu đồng/lượng (mức ngày hôm qua là 4 triệu đồng/lượng). Các đơn vị kinh doanh vàng vẫn giữ khoảng cách giữa giá mua và giá bán ở mức phổ biến 50.000 – 100.000 đồng/lượng.
Sáng nay, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước công bố vẫn ổn định, ở mức 21.036 đồng/USD.
Tại các ngân hàng thương mại, giá USD tăng từ 5 – 10 đồng/USD so với ngày hôm qua. Cụ thể, giá mua và bán USD tại Vietcombank ở mức 21.080 – 21.120 đồng/USD (tăng 5 đồng/USD ở cả hai chiều), Eximbank lên mức 21.075 – 21.125 đồng/USD.
(Thanh Niên)

Chấn chỉnh “bát nháo” trong chất lượng vàng nữ trang


(Từ vàng đến vàng) - Bộ Khoa học và Công nghệ vừa ban hành Thông tư 22 quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ (có hiệu lực từ ngày 1-6-2014).

Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.
Theo thông tư, vàng trang sức, mỹ nghệ chỉ được phép lưu thông trên thị trường khi đã công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn theo quy định. Tiêu chuẩn công bố phải bao gồm các nội dung cơ bản như thông tin về sản phẩm và nhà sản xuất, phân phối, yêu cầu kỹ thuật và phải ghi ký hiệu để phân biệt từng loại vàng trang sức, mỹ nghệ.
Trong quá trình sản xuất nếu có sử dụng vật liệu hàn bằng hợp kim vàng phải có độ tinh khiết tối thiểu tương đương với hạng được công bố của sản phẩm vàng trang sức. Khi sử dụng vật liệu hàn không phải là hợp kim vàng hoặc thay thế bằng keo dán, phải được công bố rõ bao gồm cả lượng vật liệu sử dụng để gắn kết nếu làm ảnh hưởng đến khối lượng của sản phẩm.
Thông tư cũng quy định các tổ chức, cá nhân nhập khẩu, xuất khẩu, sản xuất, mua, bán vàng trang sức mỹ nghệ; kinh doanh mua, bán vàng miếng phải thực hiện các biện pháp kiểm soát về đo lường, trang bị cân có phạm vi đo và cấp chính xác phù hợp với khối lượng vàng cần đo. Cân phải được kiểm định, có chứng chỉ kiểm định còn thời hạn giá trị sử dụng.
Các đơn vị sản xuất kinh doanh cũng phải công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi nhãn đối với vàng trang sức, mỹ nghệ. Nhãn vàng trang sức, mỹ nghệ được thể hiện trực tiếp trên sản phẩm bằng cách khắc cơ học, khắc laze, đục chìm, đúc chìm, đúc nổi hoặc bằng phương pháp thích hợp hoặc thể hiện trên tài liệu đính kèm sản phẩm. Ngoài ra phải ghi rõ thông tin về sản phẩm và nhà sản xuất, phân phối cũng như các mô tả đặc điểm riêng của vàng trang sức, mỹ nghệ.
Theo các chuyên gia, Thông tư 22 của Bộ Khoa học và Công nghệ có hiệu lực sẽ chấn chỉnh tình trạng “bát nháo” hiện nay của thị trường nữ trang, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích người tiêu dùng.
(Tuổi Trẻ)

18h00 chiều nay, Eximbank tiết lộ lý do mua cổ phiếu quỹ


(Kinh tế) - Chiều nay Eximbank sẽ tổ chức gặp mặt báo chí để trả lời các câu hỏi xung quanh vấn đề mua cổ phiếu quỹ cũng như những “đồn thổi” về tình hình tại nhà băng này gần đây.

18h00 chiều nay, Eximbank sẽ tiết lộ lý do mua cổ phiếu quỹ
18h00 chiều nay, Eximbank sẽ tiết lộ lý do mua cổ phiếu quỹ
Thời gian gần đây, tình hình thay đổi nhân sự cấp cao ở Eximbank diễn ra liên tục, bên cạnh đó là một số thông tin cho biết dường như ngân hàng này đang xảy ra một vết nứt khi có hàng loạt nhân sự bị nghỉ việc hoặc điều chuyển công tác.
Câu chuyện lại càng trở nên “nóng” hơn khi ngày 8/11 vừa qua, HĐQT Eximbank ra nghị quyết mua gần 61,8 triệu cổ phiếu quỹ. Với thị giá hiện nay, Eximbank sẽ phải chi khoảng 830 tỷ đồng cho số cổ phiếu đó.
Chưa hết, xâu chuỗi lại các vấn đề, cộng với việc cùng kỳ năm ngoái Eximbank từng là trọng tâm của giới chứng khoán khi có hàng nghìn tỷ đồng trị giá cổ phiếu EIB được thỏa thuận liên tiếp trên sàn, tình hình lặp lại ở thời điểm tháng 5 năm nay và cách đây một tháng cũng có những thỏa thuận khối lượng lớn cổ phiếu EIB trên sàn.
Đến lúc này, nhiều câu hỏi được đặt ra là phải chăng ở Eximbank đang thực sự có chuyện hay có sự thay đổi về cơ cấu cổ đông?
Tuy nhiên trả lời báo chí ngày hôm qua 13/11, chủ tịch Lê Hùng Dũng đã lên tiếng khẳng định việc mua cổ phiếu không liên quan tới chuyện thâu tóm, nội bộ lục đục hay có cổ đông nào thoái vốn… Ông cho biết, tranh thủ EIB đang có thị giá đang thấp, ngân hàng mua vào giá rẻ cũng là cách để giữ giá cổ phiếu.
Theo đánh giá của một số nhà đầu tư, lập luận như ông Dũng cũng có cơ sở khi mà Eximbank thường coi trọng việc kiểm soát rủi ro, bên cạnh việc nhà băng này dường như đang có dư tiền (huy động vốn tăng trưởng mạnh liên tục từ năm 2010 tới nay trong khi cho vay tăng trưởng yếu hơn nhiều).
3 năm trở lại đây, huy động vốn của Eximbank tăng mạnh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng
3 năm trở lại đây, huy động vốn của Eximbank tăng mạnh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng tín dụng
Hy vọng những băn khoăn của nhà đầu tư và giới tài chính ngân hàng sẽ sớm có câu trả lời. Chiều nay 14/11, Eximbank sẽ tổ chức gặp mặt báo chí để trả lời các câu hỏi xung quanh vấn đề của ngân hàng thời gian gần đây, trong đó có việc mua cổ phiếu quỹ.
(Trí Thức Trẻ)

13 November 2013

Hai nền kinh tế song hành ở Việt Nam: “sinh lợi” và “đặc lợi”, ai lấn sân?



Phạm Đỗ Chí[1]

1. Hai nền kinh tế đó là gì?
Nhiều chuyên gia ở Việt Nam thường trực theo dõi các nền kinh tế tư bản (hay thị trường) và kinh tế xã hội chủ nghĩa, đặc biệt các biến chuyển lý thuyết, với nhiệm vụ chính là để giữ gìn những đặc trưng cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay được mệnh danh “kinh tế thị trường với định hướng chủ nghĩa xã hội”. Vài chuyên gia này có nhiệm vụ chính là cho ra những cảnh báo chính trị ở cấp cao nhất nếu thấy nền kinh tế thị trường dù chỉ đang phôi thai ở Việt Nam đi “chệch đường” nghĩa là khác đi với các “nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội”. 

Có quá nhiều giấy mực đã bàn về đề tài trên, nhất là để so sánh những ưu khuyết điểm của kinh tế thị trường và kinh tế xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi không dám mạn bàn thêm các vấn đề to lớn này, nhưng khuôn khổ bài ngắn này sẽ đặt vấn đề một cách khác: muốn ghi lại vài nhận định thiết thực về hai nền kinh tế thực sự đang song hành ở xứ ta: nền kinh tế sinh lợi (dịch từ chữ “profit-making economy”) và nền kinh tế đặc lợi (tạm dịch từ “rent-seeking economy”[2], hay còn có thể hiểu nôm na hơn là “tìm lợi”—hay sát thực tế nhất là “đặc biệt cho nhóm lợi ích”, theo các giải thích dưới đây). 

Nền kinh tế sinh lợi chính là nền kinh tế được hướng dẫn bởi các nguyên tắc thị trường, kết quả của hơn hai thập kỷ Đổi Mới, nôm na là đang được dẫn đầu bởi giới doanh nhân của nền kinh tế thị trường tìm lợi nhuận (profit) đích thực từ sản xuất bằng cách kiếm được doanh thu (revenue) cao hơn phí sản xuất (cost)—viết theo phép số học đơn giản là: lợi nhuận = doanh thu trừ phí sản xuất. Nền kinh tế này còn bao gồm đại đa số các thành phần cư dân thành thị làm việc trong các hãng xưởng công tư nhằm mục đích sinh lợi nhuận (profit) kinh doanh đích thực như định nghĩa ở trên, người làm việc trong các khu vực sản xuất dịch vụ thật sự theo định nghĩa GDP, hay nông dân ở tất cả các vùng nông thôn tham dự vào việc sản xuất nông sản vốn là trụ đỡ của nền kinh tế cả nước qua các thời đại…

Trái lại, nền kinh tế đặc lợi (rent) không cần thiết phải dựa vào sản xuất mà chỉ đơn giản là tiền hay lợi (rent) kiếm được do các đặc quyền kinh tế như thế độc quyền sản xuất (monopoly) hay ưu đãi tín dụng (các công ty nhà nước)…, hay đặc quyền chính trị như ở vị trí chính trị cao có thể ban phát giấy phép hoạt động kinh tế trong một chế độ dựa vào xin-cho, hay đặc quyền thông tin như biết trước những tin tức có lợi cho một hành vi kinh tế hay mua bán (thí dụ biết trước tin qui hoạch một vùng đất nên trực tiếp chạy đi mua hay cho người nhà/đàn em đi mua đất trước để bán lại với giá cao hơn nhiều lần lúc thông tin đó được chính thức công bố cho mọi người biết), hay giản dị nhất là lợi kiếm được nhờ tham nhũng do ở các vị trí chính trị hay hành chính cao có thể ban phát chức tước, lợi lộc kinh tế (cấp phép dự án không thông qua các qui luật thông thường, hay các loại giấy phép xin-cho trong khu vực sản xuất buôn bán v.v…).

Có muôn hình vạn trạng trong xã hội ta bây giờ về cách tìm đặc lợi mà không dựa vào sản xuất. Sự xuất hiện nhan nhản của các “CÒ” kiếm tiền trung gian ở khắp nơi và trong mọi địa hạt từ sinh hoạt kinh tế ở mức phức tạp đến luồn lách pháp luật như “chạy án” hay xin “quotas”, hay để vượt qua vài thủ tục hành chính hay giấy tờ ở cấp thấp, đơn giản nhất như để vượt qua các hàng đuôi chờ dài ở các bến xe rạp hát đông người…

Rất khó để định lượng được chính xác tỷ trọng của hai nền kinh tế song hành này trong nền kinh tế tổng thể của Việt nam bây giờ. Nhưng chỉ có thể tạm ước tính vai trò tương đối của cả hai qua những thời kỳ kinh tế chính như từ thời bao cấp (trước 1989), đến 25 năm Đổi Mới thực sự (1991-2006), và sau đó từ 2007 đến nay khi một số nguyên tắc và vận hành căn bản của kinh tế thị trường lại bị thay đổi bởi ảnh hưởng của các nhóm lợi ích quan trọng và chi phối quá lớn nền kinh tế quốc gia, khiến nhiều qui luật thị trường bị thay thế bởi các biện pháp hành chính và sự tái xuất hiện và bùng mạnh thêm của các Tổng công ty với nhiều đặc quyền ưu thế trong sản xuất và hưởng phân bổ tín dụng nhưng lại gây những thất thoát tài chính nghiêm trọng cho quốc gia.

Có thể tạm hình dung các hình ảnh cùng tỷ trọng tương đối dưới đây của 2 nền kinh tế trên nhằm mục đích phân tích chính sách, chứ không nhằm định lượng chính xác để hy vọng bài nói chuyện ngắn này không bị chỉ trích là thiếu luận cứ dữ kiện thống kê hay tinh thần khoa học nghiêm túc:

·       Trong thời bao cấp trước cải tổ kinh tế: nền kinh tế sinh lợi (hay thị trường) chiếm độ 70-75%, và nền kinh tế đặc lợi 25-30%
·       Trong thời kỳ Đổi Mới, nền kinh tế thị trường dù đang giai đoạn phôi thai đã tăng cường vai trò của các sinh hoạt kinh tế chính thống và nâng tỷ trọng của khu vực kinh tế sinh lợi lên 80-85% và khu vực kinh tế đặc lợi xuống còn 15-20%
·       Trong thời kỳ từ 2007 đến nay, khu vực sinh lợi có thể đã rơi xuống còn 65-70% và khu vực đặc lợi đã chiếm ưu thế mới đến 30-35%.

Nhưng nghiêm trọng nhất, bài này không muốn chỉ nói đến vấn đề công bằng hay đạo đức xã hội khi các nhóm lợi ích hay hưởng đặc lợi về chính trị kinh tế đã hưởng lợi quá nhiều trong 5-6 năm qua, mà là trên phương diện hiệu quả chính sách kinh tế–là mục tiêu chính của bài này. Sự thiên vị hay ưu đãi các nhóm lợi ích (interest groups) và nhóm tìm đặc lợi (rent-seekers) đã dẫn dắt đến tình hình kinh tế tài chính khủng hoảng hiện tại với tăng trưởng kinh tế sụt giảm nghiêm trọng (5-6%, mặc dù công bằng cũng phải công nhận là do ảnh hưởng một phần của hai năm suy thoái kinh tế thế giới 2008-09), so với 5 năm 2001-2005 (GDP tăng 7%-8%).

Nhưng đáng lo nhất là sự mất cân bằng vĩ mô (macroeconomic disequilibrium) và các mất mát thua lỗ tài chính khổng lồ (colossal financial losses) của khu vực công trong vài năm qua. Hai nguyên nhân chính mới đây đã được các chuyên gia phân tích đầy dủ và sâu sắc:[3]

(i) Nhận xét gần đây nhất là của TS Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR), dựa trên khoảng cách giữa tiết kiệm và đầu tư quá lớn, cho rằng “tiết kiệm của Việt Nam so với thế giới không hề thấp (khoảng 35%) tuy nhiên tổng đầu tư/GDP của Việt Nam giai đoạn từ 2006 – 2011 lại quá lớn, trung bình đều trên 40%; riêng năm 2011, do Chính phủ thực hiện chính sách cắt giảm đầu tư công để kiềm chế lạm phát nên con số này chỉ dừng ở mức 34,6%”. Và “sở dĩ đầu tư của Việt Nam luôn ở mức cao là do mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam dựa trên mở rộng đầu tư nhưng chất lượng đầu tư ngày càng giảm, năng suất nền kinh tế không được cải thiện.”

(ii) Thêm vào đó, Chính phủ lại tập trung vào đầu tư công và cho các Tổng công ty nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Vì hiệu quả đầu tư của khư vực này thấp theo nhiều nghiên cứu khác nhau, kết quả là làm suy giảm toàn bộ năng suất nền kinh tế, điển hình là làm hệ số ICOR tăng nhanh từ 4-5 lên 7-8 trong những năm gần đây.  TS Vũ Thành Tự Anh cũng đã dẫn chứng rằng: “Xét về mức độ phân tán/tập trung của các tập đoàn nhà nước thì Việt Nam cũng xếp vào hàng “vô địch”. Nếu ở Việt Nam, điểm số này là 6,4 thì Hàn Quốc chỉ là 1,7; Indonesia là 2,1; Philippines là 3,1; thậm chí Trung Quốc cũng chỉ mức 2,3.” Cũng theo ông, tỉ lệ doanh số của 10 đại tập đoàn kinh tế Việt Nam trên GDP thuộc loại lớn nhất thế giới. Cụ thể, tỷ lệ này của Việt Nam lên tới 37,3%, chỉ đứng sau Hàn Quốc thời gian trước khủng hoảng, còn lại đều vượt xa các nước khác.Thí dụ để so sánh: Trung Quốc (9,4%), Đài Loan (19%), Indonesia (25%), Brazil (8%), Argentina (11%) và Mexico (10%).[4]

Nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh nhiều hơn các vấn đề chính sách tương lai trong phần sau, không phải đơn thuần là các chính sách có tính “kỹ trị” như tài khóa ngân sách hay giá cả…theo các thảo luận thông thường, mà là các vấn đề căn bản hơn về thể chế, về tái lập nguyên tắc thị trường, về khu vực kinh tế chủ đạo dẫn dắt mới, nói chung về sự thay đổi triết lý và tư duy kinh tế căn bản để điều hành guồng máy kinh tế mới trong tinh thần một Đổi Mới đợt II (“Economic Renewal” Mark II).

2. Vài vấn đề chính sách lớn và khẩn cấp trước mặt

a.Vấn đề đặc lợi của một nhóm lợi ích hay đặc quyền nhỏ (thí dụ nhan nhản là Vinashin, EVN, hay các DNNN khác sẽ được điều tra đem ra ánh sáng công luận trong tương lai…) gây nên mất cân bằng vĩ mô căn bản giữa tổng chi tiêu và để dành, phần lớn do khu vực đặc lợi (rent-seeking economy), đã gây nên lạm phát cao ngất ngư trong suốt 6 năm qua (2007-2012) và là một hình thức thuế trá hình được trả bởi đại đa số cư dân thuộc khu vực sinh lợi (profit-making economy). Hình ảnh tiêu biểu đau lòng tương phản giữa các đoàn xe lộng lẫy hay các căn hộ cao cấp luôn tắt đèn bỏ trống sở hữu bởi khu vực đặc lợi, so với một thành phần lớn dân cư đang phải chạy từng bữa cơm bớt dần thịt cá do ảnh hưởng lạm phát và sống lây lất ở các vùng ven đô hay nông thôn.

b. Ưu tiên chính sách số một vẫn phải là giảm lạm phát, không phải bằng cách đẩy lãi suất lên cao nữa, mà bằng cách cắt giảm các món chi tiêu công hay bán công khổng lồ vẫn tiếp tục cho các nhóm đặc quyền dưới tên những Tổng công ty ưu đãi, các dự án “khủng” thiếu hiệu quả kinh tế nhưng vẫn được theo đuổi do nhóm lợi ích chi phối chính sách, các chương trình phát triển vùng/cảng/khu chế xuất thiếu hiệu quả kinh tế, tiếp tục được tài trợ hay hưởng ưu đãi tín dụng do “các nhân vật hay người thân đứng sau”.

c. Tình trạng đình đốn sản xuất kéo dài từ 3 năm nay đang kéo theo sự phá sản khủng khiếp của nhiều doanh nghiệp, nhất là vừa và nhỏ, và gây khốn đốn cho nhiều doanh gia có tim óc thật sự trong khu vực sinh lợi vì thiếu tiếp cận tín dụng. Dần dà khu vực tư doanh sẽ được thay thế bởi các DNNN vẫn có ưu tiên tín dụng và chúng ta sẽ trở lại thời xưa khi tỷ trọng khu vực nhà nước hay nền kinh tế đặc lợi lại có dịp được phình to hơn với cơ chế xin-cho càng tràn lan thay vì phải thu hẹp dưới Đổi Mới I, bản thân tự nó đang bị lung lay tận gốc rễ vì các cơ chế thị trường tự do như tín dụng ngân hàng, lãi suất hay tỷ giá tự do đang bị thay thế bởi các thị trường chợ đen khác nhau hay biện pháp hành chính thay thế. Ai có thể nói chúng ta vẫn theo hay đang đẩy mạnh Đổi Mới trong 3-4 năm qua với các chính sách hiện hữu?

d. Đặc biệt là các chính sách của NHNN hiện nay nhằm mục đích “chữa cháy ngắn hạn” bằng các biện pháp hành chính thêm dồn dập hay đã kéo dài khá lâu, được lầm tưởng là đang có tác động tốt cho bệnh nhân là toàn nền kinh tế hay dân cư được “ngấm thuốc” sẽ khỏi bệnh, chẳng hạn tỷ giá tạm ổn định, lãi suất đang có chiều xuống nhờ “trần lãi suất”, phân bổ tín dụng giữa các ngân hàng do NHNN ấn định để cứu hệ thống ngân hàng hay giúp các “ngân hàng nhỏ”…Thật sự nếu phân tích kỹ thì các dấu hiệu trên chỉ mang tính cách tạm thời thiếu bền vững.

(i) Tỷ giá tạm yên năm nay 2013 không phải do “ngấm thuốc” tốt mà thật sự là phản ánh tình trạng đình đốn sản xuất đang rất nguy kịch kéo dài từ quý 2/2011, khi các dữ kiện thống kê cho thấy chỉ số sản xuất công nghiệp và ngay cả nông nghiệp tăng trưởng chậm dần, nhập khẩu sụt giảm hẳn khiến mức nhập siêu hàng năm từ 10-12 tỷ USD từ các năm trước 2011 có lẽ trở thành xuất siêu năm nay.

(ii) Các lãi suất chính sách và lãi suất huy động trần được giảm mạnh đang đi đúng hướng theo lý luận trên đây. Nhưng việc tiếp tục duy trì lãi suất trần này cũng như việc phân bổ trực tiếp mức tăng tín dụng (quotas) cho từng ngân hàng đặt ra nhiều dấu hỏi cho các quan sát viên kinh tế cả trong và ngoài nước về hiệu quả thật sự của các cải cách của NHNN. Duy trì lãi suất cho vay trần là tiếp tục “giết” các ngân hàng nhỏ, vì họ khó huy động vốn nơi các trương mục nhỏ lẻ của đa số dân cư. Lại một lần nữa, khu vực kinh tế sinh lợi hay thị trường bị thiệt thòi vì tuân theo luật lệ chính thức được công bố chỉ được trả lãi suất thấp cố định. Còn khu vực đặc lợi tuy số ít nhưng có nhiều tiền bỏ vào ngân hàng hơn vẫn được trả trên mức lãi suất chính thức đó.  

(iii) Các ngân hàng lớn chỉ phải trả 5-6% cho vốn huy động của đa số dân cư tìm đến ngân hàng lớn cho yên tâm, nhưng lại được thả lỏng để cho vay trong thị trường 1 (tức là với các doanh nghiệp hay tư nhân ngoài hệ thống NH) ở mức thỏa thuận riêng với mức cao khủng cho NIM (net interest margin—mức lợi biên ngân hàng) theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhờ đó “nhóm lợi ích” gồm vài ngân hàng to lại đang hưởng lợi ích lớn nữa trên thị trường 2 với các NH khác qua thị trường liên ngân hàng. Khó nói không hề có chuyện nhóm lợi ích trong hệ thống NH hiện nay khi các biện pháp hành chính đã làm nảy sinh vô số rủi ro đạo đức (moral hazards).

(iv) Thêm một biện pháp hành chính nữa từ cuối tháng 2/2011 là việc NHNN áp dụng phân bổ tín dụng cho từng ngân hàng theo các tiêu chuẩn “riêng”, gây ra những lệch lạc trong thị trường. Một lần nữa, khu vực kinh tế đặc lợi vẫn được hưởng lợi và chịu thiệt hại là khu vực sinh lợi hay thị trường và đa số doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận tín dụng nên còn nhiều hãng sẽ vẫn tiếp tục phá sản. Đa số dân cư chỉ được lãi suất huy động trần thấp trong khi các NH lớn cho vay ở mức cao trên TT 1 cho các doanh nghiệp cần vốn trong khu vực thị trường sinh lợi đang bàn đến.

e. Vấn đề lớn nữa là cần xem lại vai trò của chính sách tài khóa để kích cầu bằng cách bội chi ngân sách và vay ồ ạt qua trái phiếu chính phủ trong năm nay 2013.

f. Vấn đề sau nữa cho tái cấu trúc kinh tế và chính sách tài chính công là cần đưa mới vai trò chủ đạo của doanh nghiệp tư nhân thay vì các DNNN. Đây là một quyết định cả chính trị lẫn kinh tế can đảm nhất trong bối cảnh chính trị hiện tại của VN. Sẽ cần giảm cả tỷ lệ thu lẫn chi ngân sách so với GDP trong vài năm tới như kim chỉ nam dẫn đường cho chiến lược kinh tế mới này. Một biện pháp gây sốc nhưng rất quan trọng là giảm thuế doanh nghiệp từ 25% xuống còn 20% trong bước đầu.

g. Sau cùng, cố gắng tạo lối ra cho các thị trường chứng khoán và bất động sản bằng sự cải thiện môi trường vĩ mô bền vững và tìm các nhà đầu tư mới có thể “gây sốc” và tái lập niềm tin lâu dài cho thị trường và người đầu tu. (xem khung 1). 

   Khung 1. Lối ra cho các TT Chứng Khoán và Bất Động Sản
v    Tình hình kinh tế vĩ mô phải có bước ngoặt nhanh chóng để gây lại niềm tin là Chính Phủ thực sự sẽ kiểm soát được tình hình kinh tế vĩ mô.
v    Cần giảm lạm phát thêm trong các quý 1-2/2014 và dẫn đến giảm lãi suất cuối quý 2. Thị trường BĐS cũng sẽ phục hồi từ từ sau TTCK khi lãi suất có dấu hiệu giảm thực sự.
v    Giải pháp tối ưu và khả thi hiện tại rõ ràng là phải dùng chính sách tài khóa để hỗ trợ thực sự chính sách tiền tệ nhằm giảm tổng cầu và lạm phát, và từ từ sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ để giảm lãi suất.
v    Bất động sản: cần các cú sốc từ việc tái cơ cấu nền kinh tế và có mặt các nhà đầu tư mới
v    Sau khi thị trường BĐS được khởi động từ lãi suất, thị trường này chỉ có thể phục hồi nhanh chóng nếu có cú sốc ào ạt từ các nhà đầu tư mới (thí dụ thực tế nhất và “hấp dẫn” nhất là các nhà đầu tư Nhật bản đang tìm cách di dời cư dân và nhiều xưởng hãng từ các vủng bị tsunami và dò rỉ từ trung tâm nguyên tử quanh vùng Tokyo), đây sẽ là điều gây tác động tâm lý mạnh nhất cho BĐS ở Việt Nam. 
v    Ngoài ra các chính sách tái cơ cấu nền kinh tế sẽ tiếp sức mạnh mẽ cho nhu cầu BĐS nếu khu vực tư nhân được đóng vai trò chủ đạo trong nỗ lực giảm thật sự đầu tư công và vai trò các doanh nghiệp nhà nước. Việc giảm thuế doanh nghiệp xuống 20% sẽ là bước đầu cho chính sách này.

KẾT LUẬN NGẮN CÙNG ĐỀ XUẤT ĐỊNH LƯỢNG CHO CHÍNH SÁCH VĨ MÔ TRUNG HẠN ĐẾN 2015

(1) Sau các nhận định ngắn gọn và thẳng thắn về thực trạng kinh tế đất nước năm 2013, chúng tôi chỉ muốn đề nghị là nên thay đổi chiến lược căn bản từ cấp chính trị cao nhất về đường hướng và thể chế của nền kinh tế đến áp dụng ngay các biện pháp cấp thiết vĩ mô ngắn và trung hạn đến 2015 để tái lập các cân bằng vĩ mô đã mất trong 6 năm qua từ 2007:

(2) Giảm bớt các đặc quyền và ưu đãi hiện có của khu vực kinh tế đặc lợi (rent-seeking economy) và nâng cao vai trò của khu vực doanh nhân tư nhân là đầu máy (locomotive) của khu vực kinh tế thị trường hay sinh lợi (profit-oriented economy)

(3) Trong tinh thần trên, tuyên bố chính thức vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế tư nhân thay vì các DNNN là bước sáng kiến thứ nhất

(4) Giảm gánh nặng thuế nói chung của nền kinh tế (giảm dần tỷ lệ tổng thu/GDP) và giảm thuế doanh nghiệp nói riêng từ 25% xuống 20% từ năm nay là bước chủ động thứ hai

(5) Tập trung việc tái cấu trúc ba ngành kinh tế vào một cơ quan chỉ đạo duy nhất dưới sự đôn đốc trực tiếp và toàn thì của một Phó Thủ Tướng với sự trợ giúp của các chuyên gia trong và ngoài chính phủ, cùng với một thư ký đoàn (secretariat) gồm chuyên viên các bộ liên hệ thuộc loại “trẻ, giỏi” đang có mặt rất nhiều trong các cơ quan hay trên các diễn đàn kinh tế.

(6) Công bố chính thức một định hướng bằng số cho các chính sách vĩ mô trung hạn (thí dụ trong bảng kèm dưới đây) để hướng dẫn về định hướng chính sách mới của chính phủ và tái lập niềm tin cho các doanh nhân và giới đầu tư.

(7) Cần sự minh bạch thông tin hơn lúc nào hết, các chỉ số suy yếu kinh tế rất rõ ràng từ khu công nghiệp và nhập khẩu như bàn trên, và cần cập nhật hóa số tăng trưởng GDP cho ba năm qua 2011-2013. Tổng cục Thống kê cũng cần giải thích rõ hơn về các tính toán của mình. Ngoài ra thị trường tài chính vẫn đợi sự công bố chính thức các số liệu về khảo sát tiền tệ và dự trữ ngoại hối như NHNN đã hứa trước đây.  
Nguồn: Các số liệu 2011-15 dựa trên các tính toán ước tính và dự báo của tác giả. 
Untitled_1

Ghi chú:
1)      Số liệu 2010 là số thực hiện, 2011 là ước thực hiện, từ 2012-2015 là số mục tiêu
2)      *Tỷ giá tự do vào cuối năm (theo mục tiêu trượt giá 1,5-2% mỗi năm như trong quá khứ)
3)      **Theo cách tính của Việt Nam
4)      *** Chưa tính đầu tư từ tín dụng ngân hàng
5)      **** Chưa tính đầu tư của địa phương, phần không đưa vào cân đối ngân sách.
6)      ***** Cán cân thanh toán tổng thể trong năm 2011-2015 thặng dư  tổng cộng 40,3 tỷ USD


[1] Tác giả là chuyên gia kinh tế độc lập.
[2] Chữ “rent” nôm na nhất có thể dịch là “địa tô” trong kinh tế học, thường được nói đến để chỉ thu nhập của những sở hữu chủ đất đai, là một trong các yếu tố đầu vào căn bản của sản xuất như  lao động (labor), tư bản (capital), và đất đai (land).

[3] Xin xem “Vì sao bất ổn vĩ mô của Việt Nam kéo dài?, của Khánh Linh (TTVN) trên mạng cafef.vn,http://cafef.vn/20120321043525142CA33/vi-sao-bat-on-vi-mo-cua-viet-nam-keo-dai.chn, báo cáo về buổi Tọa đàm “Hướng tới một khung khổ chính sách kinh tế vĩ mô cho Việt Nam trong trung và dài hạn” (21/3/2012).

[4] Đã dẫn trên ở chú thích 2. 

Theo Viet-Studies


Vietcombank bán khoảng 2,1 tỷ USD cho Ngân hàng Nhà nước


(Kinh tế) - Vietcombank đã bán lại cho Ngân hàng Nhà nước khoảng 2,1 tỷ USD từ đầu năm đến nay; lượng bán lại trong năm 2012 là 3,14 tỷ USD.

Theo Phó tổng giám đốc Vietcombank Phạm Thanh Hà, sau khi Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều biện pháp quyết liệt và hiệu quả, đặc biệt thời điểm cuối tháng 6 đầu tháng 7/2013, thị trường ngoại hối và tỷ giá đã ổn định, nguồn cung thuận lợi.

Và sau khi nâng giá mua vào từ 20.826 VND lên 21.100 USD vào ngày 7/8/2013 để theo kịp diễn biến thị trường, Ngân hàng Nhà nước bắt đầu mua vào lượng lớn ngoại tệ. Hoạt động mua vào này vẫn nối tiếp trong thời gian gần đây.
Vietcombank bán khoảng 2,1 tỷ USD cho Ngân hàng Nhà nước
Ông Phạm Thanh Hà cho biết, ở hoạt động mua vào trên, riêng Vietcombank đã bán lại cho Ngân hàng Nhà nước khoảng 2,1 tỷ USD từ đầu năm đến nay; lượng bán lại trong năm 2012 là 3,14 tỷ USD.
Về diễn biến của tỷ giá USD/VND thời gian qua, Phó tổng giám đốc Vietcombank nhìn nhận rằng, giữ được sự ổn định là một thành công trong công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và đã có nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế.
Cụ thể, ổn định tỷ giá đã góp phần quan trọng vào việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; củng cố niềm tin của doanh nghiệp và người dân vào tiền đồng Việt Nam; doanh nghiệp chủ động trong việc lập và thực hiện kế hoạch kinh doanh; tâm lý găm giữ ngoại tệ được đẩy lùi một bước khiến thị trường ngoại hối và tỷ giá về cơ bản ổn định, yếu tố đầu cơ được hạn chế; tỷ giá ổn định góp phần thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh…
“Sự ổn định của tỷ giá và hoạt động thị trường ngoại tệ đi vào khuôn khổ là một trong những nhân tố góp phần làm giảm thiểu tình trạng đô la hóa tại Việt Nam. Với những biện pháp quản lý ngoại tệ và kinh doanh vàng hiệu quả và quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2013, xu hướng chuyển dịch tiền gửi ngoại tệ sang VND ngày càng mạnh, quan hệ cho vay/gửi ngoại tệ đã dần dần giảm và được thay thế bằng quan hệ mua/bán… nhờ đó góp phần đẩy lùi tình trạng đô la hóa nền kinh tế”, ông Hà phân tích thêm.
Về diễn biến cuối năm, Phó tổng giám đốc Vietcombank dự báo, theo quy luật mùa vụ, cầu về ngoại tệ thường có xu hướng gia tăng, tỷ giá do đó thường có xu hướng tăng nhẹ.
Tuy nhiên, ông dự báo, qua các đánh giá vĩ mô, nhập siêu hiện đang ở mức thấp, các nguồn thu ngoại tệ khác của nền kinh tế như đầu tư trực tiếp, kiều hối vẫn diễn biến ổn định, dự báo cán cân thanh toán quốc tế của Việt Nam trong những tháng cuối năm 2013 sẽ tiếp tục thặng dư và dự kiến cán cân thanh toán tổng thể cả năm 2013 sẽ thặng dư. Do vậy áp lực lên tỷ giá vào thời điểm cuối năm sẽ không lớn.
(Vneconomy)