THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog
Showing posts with label VanHoc. Show all posts
Showing posts with label VanHoc. Show all posts

18 September 2013

mời các bạn vào đây đọc ebook "Con đường Việt Nam"


mời các bạn vào đây đọc ebook "Con đường Việt Nam"


+
XUYÊN MỘC: BA THÁNG CÁCH LY - NHỚ SINH NHẬT LÊ CÔNG ĐỊNH


Chủ Nhật 8/9 vừa qua gia đình đi thăm Thức theo định kỳ hàng tháng. Đây là lần thứ 3 chúng tôi đến trại giam Xuyên Mộc, cả 3 lần chúng tôi đều được bố trí ngồi nói chuyện trong phòng thăm gặp chỉ có mình Thức và các cán bộ trại giam.

Thức trông vẫn khỏe, tinh thần vững vàng, dẫu vậy ánh mắt vẫn có chút mệt mỏi, âu lo. Thức cho biết từ lúc chuyển về đây đến giờ mình và các anh Cường, Hùng, Trí, Tuấn vẫn bị giam riêng, mỗi người một phòng. Nay khoảng cách giữa các phòng lại càng xa hơn, nên không có cách nào trò chuyện với họ. Trại giam cho mở cửa phòng nhưng hạn chế không cho ra ngoài phạm vi sân rào xung quanh. Vì vậy, để tránh cảm giác tù túng và tình trạng trầm cảm do không tiếp xúc với người khác, Thức nói mình vẫn thiền và tập thể dục thường xuyên.

Trại Xuyên Mộc nghiêm ngặt trong việc gửi đồ ăn, vật dụng hơn nhiều so với trại Xuân Lộc như chúng tôi từng biết trước đây. Các túi đồ gia đình mang đến đều phải mở ra tại chỗ và kiểm tra rất chi li. Tại đây mấy anh em không còn được tự nấu ăn như trước nữa, mà nhận suất ăn do trại giam phát hoặc mua ở căn-tin. Thức nói đa phần phải mua thêm từ căn-tin. Vì không được đi ra khỏi phạm vi hạn chế nên hầu hết anh em chỉ đặt và nhận đồ ăn khi có người từ căn-tin đến. Do lần thăm trước Thức cho biết nước chín trại giam cung cấp không đủ nóng cho mì gói và cà phê, nên đợt này gia đình có chuẩn bị 1 ấm đun nước bằng nhựa gửi vào. Nhưng đáng tiếc là trại giam không cho phép. Cán bộ chuyên phụ trách việc thăm nuôi giải thích với chúng tôi rằng ấm đun nước tuy bằng nhựa nhưng có thể trở thành vũ khí gây thương tích. Chúng tôi dẫn chứng trước đây ở trại Xuân Lộc mấy anh em vẫn được dùng ấm đun nước, thì cán bộ này nói từ sau vụ nổi dậy của tù thường phạm Xuân Lộc cuối tháng 6, lãnh đạo có chỉ thị việc quản lý an ninh tại các trại giam phải thắt chặt hơn, nên bây giờ quy định ở Xuân Lộc hay Xuyên Mộc cũng đều như nhau.

Tôi có hỏi về các tin tức thời sự đương thời, nhưng Thức cho biết chỉ đọc được tin trên báo Nhân Dân và xem thời sự của đài truyền hình Việt Nam. Dù vậy, Thức cũng có biết sơ lược về sáng kiến của anh Lê Hiếu Đằng những ngày gần đây. Thức bảo sau chuyến công du Hoa Kỳ của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, không khí ngoài đó chắc là sôi nổi lắm, có cả diễn biến tích cực lẫn tiêu cực. Thức nhận định rằng dù TPP và FTA (với EU) chỉ là những cứu cánh tạm thời cho kinh tế trong nước, nhưng đó lại là “cái phao” cần kíp vào lúc này. Các nhóm lợi ích và cơ hội vẫn còn đó không ít trong hàng ngũ chính quyền, vì vậy về cuối năm sẽ có những diễn biến trái chiều. Việt Nam trong thời gian tới sẽ có viễn cảnh sáng hơn hay tối hơn phụ thuộc rất nhiều vào quyết tâm chính trị của những lãnh đạo có lòng, và quan trọng không kém là niềm tin lẫn trách nhiệm từ người dân.

Có một điều khiến chúng tôi phiền lòng là thời gian thăm gặp chỉ được 30 phút so với trước là 45 phút, dù số lượng người đi thăm ngày hôm đó rất vắng. Lúc ra về, Thức và gia đình ôm hôn trước khi từ giã. Sau đó một cán bộ cao cấp (quân hàm Thiếu tá) nói gia đình đi thăm là quá nhiều (8-9 người một lượt thăm), và cảnh cáo việc ôm hôn lần sau sẽ không giải quyết. Gia đình rất không hài lòng và phản ứng mạnh việc này. Họ không nói gì thêm nữa. Ngoài ra, sách báo từ thư viện cho mấy anh em đọc cũng khá khan hiếm và thường phải chờ đợi khá lâu.

Khi ra về, vì không được gửi thư nên Thức có nhờ gia đình chuyển lời chúc mừng sinh nhật cháu Lê Công Định vào ngày 23/9 tới.

Trần Văn Huỳnh - 09/2013

P/S: Bài viết này được lưu trên trang web: http://tranhuynhduythucofficial.wordpress.com/news-thong-tin-moi/xuyen-moc-ba-thang-cach-ly-nho-sinh-nhat-le-cong-dinh/

Hình minh họa: Sách "Trần Huỳnh Duy Thức - Con đường nào cho Việt nam" ra đời bản in tại Hoa Kỳ.
View PDF: http://bit.ly/1059g6O
Download PDF: http://bit.ly/1awVlLd
Download PRC: http://bit.ly/14MhgLQ

23 January 2013

“Hãy tôn trọng lịch sử” nhưng lịch sử nào?


Trần Trung Đạo (Danlambao) - Tôi chưa đọc Bên Thắng Cuộc đầy đủ để viết về tác phẩm này. Sách do một người em gởi từ California vẫn chưa đến. Có thể khi đọc xong cả hai cuốn, sẽ nhận xét Bên Thắng Cuộc với tư cách một người miền Nam đã sống những năm khắc nghiệt ở Sài Gòn, “sinh viên chế độ cũ”, đi kinh tế mới, vượt biển và trăn trở cùng đất nước. Bài viết này chỉ bàn đến luận điểm mà các báo lề đảng dùng khi viết về tác phẩm Bên Thắng Cuộc. 

Hầu hết báo lề đảng đều đòi hỏi “Hãy tôn trọng lịch sử”, vâng, nhưng lịch sử nào?

Một trong những đề án lớn của các quốc gia thuộc khối CS Liên Xô cũ không chỉ phục hồi kinh tế, ổn định xã hội sau gần 80 năm sống trong chế độ toàn trị kinh hoàng nhưng là viết lại lịch sử. Các nhà sử học Nga dành nhiều năm để đánh giá các sự kiện diễn ra từ thời Vladimir Lenin đến Mikhail Gorbachev và cho đến nay vẫn còn đang đánh giá. Nhiều chi tiết như các điều khoản bí mật trong hiệp ước Molotov-Ribbentrop, việc chiếm đóng các quốc gia vùng Baltic, sự giúp đỡ của đồng minh trong thế chiến thứ hai v.v... đã bị xóa trong sử CS. Một số sự kiện có nhắc đến nhưng lại cố tình viết sai thủ phạm như vụ tàn sát 22 ngàn sĩ quan Ba Lan tại Katyn vào tháng 3 năm 1940 được viết là Đức Quốc Xã chứ không phải do mật vụ Sô Viết hành hình. Không chỉ sử Nga mà cả lịch sử thế giới, sự sụp đổ của đế quốc La Mã, các hình thái kinh tế cũng được giải thích theo quan điểm CS. 

Các nhà sử học Việt Nam trong tương lai cũng sẽ nhức đầu như thế. Lịch sử không có một dòng chảy chính thống và trong suốt qua các thời kỳ đất nước. Lịch sử Việt Nam từ năm 1954 ở miền Bắc và từ năm 1975 trên phạm vi cả nước là lịch sử của kẻ thắng trận, được giải thích theo quan điểm của kẻ thắng trận và để phục vụ cho mục đích của kẻ thắng trận. Lịch sử Việt Nam mà sinh viên học sinh đang học là lịch sử được phát ra từ cái loa, biểu tượng cho bộ máy tuyên truyền của chế độ, giống như cái loa mà Huy Đức có thể đã ám chỉ trong bìa sáchBên Thắng Cuộc. 

Rất nhiều tranh luận về lý do tồn tại của chế độ CS tại Việt Nam. Trong cái nhìn của riêng tôi, chế độ CS tại Việt Nam chưa sụp đổ, không phải nhờ đổi mới kinh tế, ổn định xã hội nhưng chính là nhờ tác dụng của cái “loa lịch sử” đó. Đảng CS ít nhiều đã thành công trong việc che giấu được tội ác và khoát cho mình chiếc áo chính danh, chính nghĩa hay ít nhất không một thành phần dân tộc nào chính danh, chính nghĩa hơn đảng CS. 

Đảng Cộng sản tại năm quốc gia sót lại từ phong trào CS quốc tế, đặc biệt Trung Quốc và Việt Nam đã pha chế chủ nghĩa Dân tộc vào chủ nghĩa Cộng sản thành một loại hợp chất gây mê man nhãn hiệu Dân tộc Xã hội chủ nghĩa. Đảng CS lý luận rằng họ ra đời để đáp ứng một nhu cầu lịch sử và, như một tác giả viết trong báo Pháp Luật, “những người cộng sản chỉ nối tiếp sứ mệnh mà lịch sử giao phó”. Lịch sử nào giao phó? 

Chủ trương nhuộm đỏ Việt Nam của đảng CS rõ như ban ngày khi đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc mang súng đạn Nga Tàu vào cưỡng chiếm miền Nam. Pháp rút sớm hay rút muộn, Mỹ đến hay không đến cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mục tiêu thiết lập một nhà nước CS trên toàn lãnh thổ Việt Nam nhất quán từ ngày thành lập đảng CS vào năm 1930. “Độc lập dân tộc”, “Thống nhất đất nước” chỉ là những chiêu bài. Nếu không dùng khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” bộ máy tuyên truyền tinh vi của đảng cũng thừa khả năng để nặn ra hàng trăm chiêu bài, khẩu hiệu hấp dẫn khác để kích thích và vận dụng lòng yêu nước. Bộ máy tuyên truyền của đảng nhồi nhét vào nhận thức của các thế hệ Việt Nam, nhất là thế hệ sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến, rằng cuộc chiến tranh gọi là “Chống Mỹ cứu nước” trước 1975 là cuộc chiến chính nghĩa, “đánh Mỹ” là bước kế tục của chiến tranh chống Thực Dân Pháp. Đó là lý luận của kẻ cướp. Đảng CS không chỉ cướp đất nước mà cướp cả niềm tin và khát vọng của những người đã chết. 

Như tôi đã viết trước đây, miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Xây dựng một xã hội dân chủ vừa bước ra khỏi phong kiến và thực dân là một tiến trình vinh quang nhưng cũng đầy trắc trở. Dân chủ ở miền Nam như một chiếc cây non lớn lên trong mưa chiều nắng sớm. Nhưng dù có khó khăn, tham nhũng thối nát bao nhiêu đi nữa, đó cũng là vấn đề riêng của Việt Nam Cộng Hòa không dính dáng gì đến đảng CS ở miền Bắc. Những ông như Trịnh Đình Thảo, Lâm Văn Tết có đủ không gian và phương tiện để đấu tranh một cách hợp pháp tại miền Nam cho một xã hội tốt đẹp hơn như hàng trăm chính khách quốc gia khác. Dĩ nhiên, họ có thể thất bại, bị tù đày và ngay cả bị giết nhưng vẫn là những người quốc gia chân chính. Tuy nhiên, khi tham gia Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, chấp nhận làm công cụ cho đảng CS, họ đã tự chắt chiếc cầu biên giới giữa họ và nhân dân miền Nam. 

Tác giả viết trong Sài Gòn Giải Phóng nhắc đến "10 cô gái Đồng Lộc” mà không biết rằng nếu có thể hiện hồn về, công việc đầu tiên của các cô chết trong hố bom Đồng Lộc là đi tìm lãnh đạo đảng CS để thanh toán cả vốn lẫn lời vì cái chết oan uổng của các cô chỉ để đổi lấy một đất nước nghèo nạn, lạc hậu, một chế độ độc tài, tham nhũng, phản văn minh tiến bộ như ngày nay. 

Tác giả trên báo Sài Gòn Giải Phóng cũng nhắc đến đến “nhà tù Côn Đảo”, “nghĩa trang Hàng Dương” làm tôi nhớ đến nơi này. Tôi cũng đã từng đến đó, không phải vì phải ở tù mà chỉ vì muốn biết một di tích lịch sử của dân tộc. Đảng xem nhà tù Côn Đảo như một “trường đại học CS”, tài sản riêng của đảng CS nhưng đừng quên nhà tù Côn Đảo do thực dân Pháp lập ra năm 1862 tức 68 năm trước khi đảng CS ra đời. Năm 1945, đảng CS ước lượng có khoảng 5 ngàn đảng viên. Cho dù thực dân Pháp bắt và đày nguyên cả đảng ra Côn Đảo cũng không thể so với số tù nhân thuộc các phong trào yêu nước khác. Với tôi, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Trong suốt gần một thế kỷ trong bóng tối thực dân, hàng vạn đồng bào thuộc nhiều thế hệ Việt Nam đã bị bắt, tra tấn và đã hy sinh trên Côn Đảo. Những đồng bào đã hy sinh trong cuộc chiến chống Thực Dân và bỏ xác trên đảo đều xứng đáng được tôn vinh. 

Nếu họ đã từng là đảng viên Cộng sản thì sao? Không sao cả. Như tôi đã có dịp viết trong tiểu luận Từ buổi chiều trên nghĩa địa Hàng Dương, việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn chứ không phải vì tin vào chủ nghĩa Cộng Sản. Ngày đó, vì điều kiện giao thông khó khăn, núi non cách trở, sự phát triển của các đảng phái chống thực dân ít nhiều bị giới hạn bởi các đặc tính địa phương, bà con giòng họ, hoàn cảnh trưởng thành. Nếu họ sinh ra ở Quảng Nam họ sẽ gia nhập Việt Nam Quốc dân Đảng, sinh ra ở Quảng Trị họ sẽ gia nhập Đại Việt, sinh ra ở Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang họ sẽ gia nhập Dân xã Đảng. Đó là trọng điểm của các đảng phái chống Pháp trong những thập niên đầu của thế kỷ 20. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Đảng Cộng sản như một tổ chức thì khác. Mục đích của đảng CS không chỉ nhuộm đỏ miền Nam, nhuộm đỏ Việt Nam mà còn nhuộm đỏ cả dòng lịch sử. 

Tác giả viết trên báo Pháp Luật so sánh việc chính quyền miền Nam tra tấn các đảng viên CS và tù “cải tạo” sau 1975 khi kết án tác giả Bên Thắng Cuộc đã “Nhấn mạnh “chế độ hà khắc” của các trại cải tạo nhưng cuốn sách lại không nhắc đến những trại tù và cách ứng xử của chế độ Sài Gòn cũ đối với những người yêu nước.” 

Những kẻ ném lựu đạn vào nhà hàng, ám sát, đặt mìn trên quốc lộ 1, quốc lộ 4, đặt bom trong sân vận động, đốt chợ, đốt làng, giết người vô tội không phải tù chính trị hay tù binh chiến tranh mà chỉ là những tên khủng bố. Chúng là những kẻ yêu đảng chứ không phải là “những người yêu nước”. Bấm vào đây để xem các “chiến công hiển hách” của Biệt động thành Sài Gòn Gia Định khi ám sát hàng loạt “Mỹ ngụy” còn mặc tã ở nhà hàng Mỹ Cảnh. Tội ác giết phụ nữ trẻ em của chúng phải được xét xử theo đúng luật pháp. Điều đó đã và đang được áp dụng tại mọi quốc gia trên thế giới không riêng gì Việt Nam Cộng Hòa. 

So sánh tù CS ở Côn Đảo và tù “cải tạo” là một cách so sánh vụng về và không cân xứng. Tổng số tù tại Côn Đảokhác nhau tùy theo bên nào tống kết, 5 ngàn theo con số của VNCH công bố và 17 ngàn theo con số của Hà Nội. Dù chọn con số 17 ngàn của đảng thổi phồng vẫn không thể so với hơn 200 ngàn công nhân viên chức và sĩ quan quân đội VNCH bị giam giữ trong 150 trại tù, đa số tận rừng sâu nước độc kéo dài từ 1975 đến 1992 mà chính Thủ tướng CS Phạm Văn Đồng thừa nhận. Các tổ chức quốc tế ước lượng cho đến 1982 số viên chức và sĩ quan VNCH bị giam giữ vẫn còn lên đến 300 ngàn người. Theo tổng kết của báo chí Mỹ, khoảng 165 ngàn người đã chết trong các trại tù CS. Ngoài ra, hàng triệu thân nhân, gia đình, con cái họ bị đày ra các vùng kinh tế mới, bị bạc đãi như nô lệ thời CS chỉ vì lý lịch VNCH. 

Một điều quan trọng mà người dân miền Nam sẽ không bao giờ quên, không giống tù Côn Đảo xảy ra trong thời chiến, tội ác “tù cải tạo” vô cùng phi nhân đã được đảng thực thi sau khi đất nước đã hòa bình, sau khi Lê Duẩn ngọt ngào tuyên bố “chiến thắng này thuộc về nhân dân Việt Nam” và sau khi Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban Quân quản Sài Gòn Gia Định vuốt ve các viên chức VNCH còn trong Dinh Độc Lập “Nhân dân Việt Nam chính là người chiến thắng và chỉ đế quốc Mỹ mới thật sự là kẻ bại trận mà thôi.” 

Phân tích như vậy để thấy lý luận trong bài viết trên báo Pháp Luật cho rằng cuộc chiến chấm dứt sáng 30-4-1975 “không phải là chiến thắng của một “bên thắng cuộc” hạn hẹp mà là chiến thắng của mọi người Việt Nam, trong đó cả những người từng ở phía bên kia” đúng là sản phẩm của chính sách tẩy não. Miền Nam sau 30-4-1975 là một nhà tù và nhân dân miền Nam là tù nhân dưới nhiều hình thức khác nhau. 

Từ 1983, để tồn tại, đảng CS phải tự diễn biến hòa bình bằng cách mở thêm một vài ô cửa sổ cho gió vào nhưng thực chất đất nước vẫn còn bị bao bọc bằng bức tường dày bưng bít thông tin và một chế độ trấn áp không thua tiêu chuẩn một nhà tù khắt khe quốc tế nào. Lý thuyết Mác Lê có thể chỉ còn trong đầu môi chót lưỡi, trong các diễn văn, trong các bài ai điếu của các lãnh đạo đảng nhưng các phương tiện chuyên chính, toàn trị CS vẫn không khác gì nhiều so với thời triệt để cách mạng trước đây. Một nhạc sĩ trẻ Việt Khang chỉ viết hai bài hát chống Tàu bị kết án bốn năm tù. Một cô gái Đỗ Thị Minh Hạnh mới ngoài hai mươi tuổi, đấu tranh cho quyền lợi công nhân phù hợp với luật pháp của đảng CS quy định bị kết án bảy năm tù, một thanh niên trẻ Lê Sơn chỉ đưa tin tức các cuộc biểu tình chống Trung Quốc và chống khai thác Bauxite tại Tây Nguyên bị kết mười ba năm tù. Và hàng trăm, hàng ngàn người khác đã sống và đã chết, nhiều trường hợp rất âm thầm, trong nhà tù CS chỉ vì dám nói lên khát vọng dân chủ tự do. 

Tác giả trên báo Sài Gòn Giải Phóng viết “Có thể lúc này lúc khác, Đảng có sai lầm. Cuộc sống khó khăn, đôi khi tôi cũng mất lòng tin vào đường lối của Nhà nước.” Hãy chỉ dùm tôi, không phải một năm, một tháng mà chỉ một ngày thôi đảng CS đã “lúc này lúc khác”. Bản chất của chế độ chưa hề thay đổi dù chỉ một giờ. 

Lãnh đạo đảng có 38 năm để chọn một hướng đi phù hợp với trào lưu tiến hóa của nhân loại, có hàng trăm cơ hội để sửa sai nhưng họ không làm. Tất cả chính sách của đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là củng cố quyền cai trị mặc cho dân tộc bị bỏ lại phía sau một đoạn đường quá xa so với đà tiến của nhân loại sau cách mạng tin học và toàn cầu hóa kinh tế cuối thập niên 1980. Tội ác của đảng với “tù cải tạo”, “kinh tế mới”, “đổi tiền”, “đánh tư sản”, có viết hàng tủ sách cũng không hết. Nỗi đau và sự chịu đựng vô bờ bến của nhân dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung, không thể nào diễn tả cạn dòng. Hàng ngàn câu chuyện thật đau lòng đã xảy ra trên con đường máu nhuộm Việt Nam sau 1975 và chỉ được phơi bày khi bức tường chuyên chính CS bị đạp đổ. 

Có hai cách để đạp đổ bức tường chuyên chính. Thứ nhất, đi mượn một cái búa lớn của các cường quốc đem về đập phá bức tường và thứ hai xoi mòn bằng những bàn tay nhỏ Việt Nam kiên nhẫn. Sau 38 năm, những người đi tìm búa hoặc chết trên đường hoặc trở về không. Còn lại hôm nay là những bàn tay Việt Nam nhỏ nhoi. Bàn tay Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Quốc Quân, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, Lê Văn Sơn và hàng ngàn người Việt Nam yêu nước khác. Dù đang ngồi trong bốn bức tường đen, họ mới chính là những người đang viết sử và thấy đâu là sự thật. 


19 January 2013

Nhà văn Y Ban từ chối "Giải bằng khen" và tuyên bố rút khỏi hội đồng văn xuôi hội nhà văn Việt Nam


Nguyễn Trọng Tạo Blog - Thư ngỏ của nhà văn Y BAN

Kính gửi ông chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam và 14 vị ủy viên BCH

Kính thưa các quí vị. Tên tôi là Y Ban, hội viên Hội nhà văn VN. Tôi viết thư này để bày tỏ với các quí vị một việc như sau: Ơn giời và nhờ sự mưa móc của các vị mà tôi được ngồi ở cái ghế ủy viên hội đồng văn xuôi. Đã trải qua hai mùa xét giải và kết nạp hội viên tôi đã nhận ra rằng, việc tôi ngồi ở hội đồng không thể đem lại lợi ích nào cho các nhà văn, cho người viết. Tôi chỉ đang bị biến thành một con rối trong tay những kẻ vụ lợi, bè phái và dối trá. Khi bức thư này đến tay các quí vị cũng có nghĩa rằng tôi chính thức chối bỏ cái ghế ủy viên hội đồng văn xuôi.

Tôi là một nhà văn. Tôi viết ra những tác phẩm. Tôi phải trung thực với chính bản thân mình, với từng còn chữ của mình. Tôi biết khi lá thư này đến tay các vị thì sẽ dấy lên một cơn sóng dư luận. Các vị sẽ tha hồ phán xét tôi. Xin vui lòng, các vị cứ làm theo lương tâm. Tôi đã trải qua những cơn sóng như vậy. Tôi có bản lĩnh để chịu đựng. Tôi chỉ cần nói lên một sự thật. Nhiều người đã chọn cách im lặng. Đó là cách khôn ngoan. Tôi chọn con đường dại. Thực ra tôi đã chọn con đường dại này khi tôi bước vào văn chương. Nhưng có một cách nghĩ khác. Nếu chúng ta đều chọn sự im lặng, chúng ta có như bầy cừu kia, lặng lẽ ăn cỏ, lặng lẽ để người ta cắt lông và lặng lẽ để người ta lùa vào lò mổ? Tôi là một con cừu hay đi chệch hướng.

Tôi đã trải qua hai mùa giải thưởng. Mùa giải năm 2011 những tác phẩm tôi thích, tôi bỏ phiếu thì không đoạt giải. Mùa giải năm 2012 tôi có tác phẩm dự thi. Ngày bỏ phiếu tôi cũng được triệu tập đến. Có 5 thành viên hội đồng có mặt. Nhà văn Bão Vũ có bản nhận xét và bỏ phiếu qua email. Nhà văn Thái Bá Lợi xin bỏ sau. Nhà Văn Trần Văn Tuấn bỏ phiếu qua điện thoại. Chị Tuyên nghe điện thoại nói lại, anh Tuấn bảo anh ấy bỏ tất cho mọi người vì..chưa kịp đọc. Nhà văn Nguyễn Khắc Trường cầm điện thoại nói với nhà văn Trần Văn Tuấn: Không bỏ thế được đâu. Ông đọc ai rồi thì bỏ. Nhà văn Trần Văn Tuấn bỏ một phiếu duy nhất cho Thành phố đi vắng. 5 nhà văn còn lại được mời vào phòng kín hợp với phó chủ tịch Nguyễn Quang Thiều. Tôi lại được chỉ định là thư ký. Bỗng nhiên chị Tuyên đưa một tờ giấy ra đọc, qui chế..tôi có tác phẩm dự thi thì không được bỏ phiếu. Tôi đứng dậy ra về. Có nhà văn ái ngại hộ tôi bảo, thôi cứ ngồi nghe cũng được. Thú thật là tôi cũng muốn ngồi nghe xem mọi người nhận xét về mình thế nào nhưng lại nghĩ thế là làm khó mọi người. Mấy năm trước khi chưa ngồi ở hội đồng tôi có cuốn Hành trình tờ tiền giả cũng được hội đồng đưa vào bỏ phiếu. Có một ủy viên rất khen cuốn đó, thế nhưng khi bỏ phiểu thì nó chỉ được một số không tròn trịa. Kết quả cuối cùng có 4 cuốn lọt vào chung khảo: Thành phố đi vắng 6/7 phiếu. Một thế kỉ bị mất 6/7 phiếu. Trò chơi hủy diệt cảm xúc 5/7 phiếu và Sông núi nước Nam được đề nghi bằng khen.

Mùa giải 2011ban chung khảo là tất cả các ủy viên BCH. Các ủy viên BCH nào có sách dự giải sẽ không tham gia bỏ phiếu. Bỏ phiếu lần 1 các cuốn sách của các ủy viên BCH không quá bán. Ông chủ tich Hội chỉ đạo bỏ phiếu lần 2. Vỗ tay hoan hô, 3 ủy viên đoạt giải. Cái cách này thì ông chủ tịch quá thạo, vô cùng thạo, nó y trang việc ông chỉ đạo bỏ phiếu thử trong cuộc bỏ phiếu Giải thưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước. kết quả không như thật thì lại thử tiếp, đến khi thật thì thôi. Năm nay thành viên BGK rút xuống còn có 9 người. Và ông chủ tịch lại tung chiêu mới. Thay vì bỏ phiếu cùng với bỏ phiếu hội viên mới nhưng ông đã lùi lại, vì búa rìu dư luận đang mạnh. Để khi dư luận tạm lắng mới bỏ phiếu. Hoan hô, vỗ tay, Đúng, Trúng, Đủ rồi nhé. Tiền của Hội không nhiều, chỉ đủ đáp ứng những cách lách của ông chủ tịch. Xin bái phục ông. Dư luận đối với ông chỉ như muỗi đốt gỗ.

Trò chơi hủy diệt cảm xúc được 4 phiếu giải thưởng, 3 phiếu bằng khen và 2 phiếu trắng. Đây chính là mấu chốt của vấn để. Nếu tôi sáng suốt, nếu tôi không đi trên con đường dại thì ngay từ đầu tôi phải từ chối BGK này. Họ không đủ Tâm, đủ Tầm để bỏ phiếu cho tác phẩm. Họ chỉ đủ Tâm, đủ Tầm để bỏ phiếu cho tên tác giả. Hai phiếu trắng ở đây nói lên điều gì? Làm giám khảo mà không dám đối mặt với chỉ một cái tên trên một tờ giấy? Vậy tại sao họ vẫn thích ngồi ở ghế BGK? Tiền ư? Không nhiều đâu. Mùa giải 2011 hội đồng văn xuôi đọc hơn 200 cuốn, tiền thù lao là 12 triệu đồng, trừ 1.2 triệu tiền thuế. Năm nay chưa nhận. Mùa kết nạp năm 2011 danh sách hội đồng văn xuôi đưa lên BCH, kiểm lại thấy thiếu một người, hội đồng phải bỏ thêm. Mùa kết nạp năm nay hội đồng thơ cũng phải làm điều tương tự. Vậy họ vì cái gì? Vì oai. Họ có quyền mưa móc và phán xét. Có thể tôi nhầm. Có thể được nhiều thứ nữa, không chỉ là oai. Vì họ đã phải đùng đến mọi thủ đoạn mánh lới, thậm chí tận diệt.

Tôi từ chối không nhận bằng khen. Điều đó đồng nghĩa với việc tôi không thừa nhận BGK này. Tại sao tôi lại phải chấp nhận một BGK không đủ Tâm đủ Tầm đủ Tài? Với một lý lẽ thông thường: Dám làm dám chịu các vị cũng không dám? Mà lại thích mưa móc ban ơn.

Lợi ích nhóm. Cụm từ tưởng rất xa lạ trong văn chương. Nhưng không ngờ nó lại gần gũi đến vậy. Và tôi đã nhìn thấy nó đang trói buộc các vị. Một câu cửa miệng của các vị, nghe rất buồn cười, tôi có muốn làm đâu, anh ấy cứ bắt tôi làm. Giời ạ, thế hệ chúng tôi đang còn sung sức đây để chúng tôi làm cho. Anh ấy ơi để chúng tôi làm cho. Chờ đấy, cái thế hệ gạch nối chúng mày. Cứ viết đi, cứ phấn đấu đi, cứ tâm huyết đi, cứ đổi mới đi…Trong các báo cáo thành tích chúng anh khen chúng mày lên tận mây xanh nhưng thực tế bọn chúng anh đè cho không ngóc đầu lên được đâu. Đừng có ti toe..Không, tôi không ti toe. Tôi chối từ.

Khi tôi chọn con đường dại này tôi cũng đã chọn một hội nghề nghiệp để tựa lưng. Tôi đã vun xới cho những hi vọng của mình. Tôi cũng vun xới cho hội nghề nghiệp tôi đã chọn. Bằng những tác phẩm của mình tôi cũng đã làm rạng danh cho hội nghề nghiệp. Bằng chứng ư? Trong những bản báo cáo thành tích của hội cái tên Y Ban thường được xướng lên. Nhưng cuộc vui thì ngắn, nỗi buồn thì dài. Hai tác phẩm của tôi là I Am Đàn bà (2007) và Này hỏi thật thấy gì chưa đấy(2011) bị thu hồi, truyện ngắn I Am Đàn bà bị rút giải, hội nghề nghiệp phủi tay đứng ngoài cuộc. Lúc tôi cũng thương thân mà khóc. Sau nghĩ lại sự phủi tay đứng ngoài cuộc đó lại là một sự may mắn cho tôi. Trong quá khứ đã chẳng có những đòn của đồng nghiệp mà chết hắn một đời người, một đời văn đó sao?

Khi tôi viết thư ngỏ này, tôi bỗng nhớ đến câu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, một vị trong BCH kể rằng, ông chủ tịch có lần đã nói đại ý, để xem thế hệ trẻ họ đối xử với nhau thế nào? Tôi giật mình đến thột. Trẻ đấy, mà thực ra có trẻ nữa đâu, đều trên dưới 50 cả rồi, thọi nhau đi, để chúng anh vỗ tay. Lại một lần nữa tôi xin bái phục ông chủ tịch. Ông thánh thật. May tôi đứng gần, nhìn rõ. Tôi vẫy cờ trắng. Tôi xin đầu hàng. Tôi xin bày tỏ sự nể phục ông một lần nữa. Thế hệ ông, ông đã lo cho tròn. Mỗi người được một góc bánh. Để lo được sự tròn trịa đó ông cũng đã nếm chịu sự khốn nạn. Mà sao ông tài chịu đựng

Tôi vẫn có niềm tin và hi vọng, rằng một ngày kia hội nghề nghiệp sẽ thực sự nơi tựa lưng cho những người cầm bút. Chắc phải chờ cho đến khi miếng bánh đã được chia hết. Nhưng để có sự tin tưởng đó thì hiện tại tôi phải nên tránh xa cái sự Dối Trá lộng lẫy huy hoàng trơn lì bóng nhẫy trường kỳ lưu cữu này.

Cuối cùng tôi xin chúc các Vị sức khỏe an khang, bách niên giai lão, sống lâu trăm tuổi để tiếp tục dẫn dắt nền văn học Việt Nam.

Hà Nội, ngày 18.1.2013.

Y Ban

21 October 2012

Giải Nobel Văn học: Bao giờ mới đến Việt Nam?



21/10/2012 06:51:40
 - Vậy là Giải Nobel về Văn học năm nay được trao cho Mạc Ngôn, nhà văn Trung Quốc mà không phải là… thi sĩ Việt Nam. Nghe đâu trước đó, có dư luận ồn ào ta cũng gửi hồ sơ kèm hàng chục ký lô thơ thiền của một tác giả nào đó đi… tranh giải.

Tôi có ông bạn, cũng dân “buôn chữ” với nhau, thường than vãn: “Dạo này tôi phải xa lánh văn vẻ và thơ thẩn ông ạ, lắm lúc còn thấy ghét. Tưởng đó là cảm giác của riêng mình, nhưng không. Hôm ngồi cà phê với gã bạn, nói chuyện mới biết gã cũng cảm giác như tôi. Gã “căm thù” thơ và nhà thơ ra mặt”.

Tôi mới hỏi lý do tại sao. Ông bạn khề khà: “Tôi lúc đầu cũng thắc mắc như ông. Hỏi ra mới biết cái sự “thù hằn” trên của gã bắt nguồn từ vị Tổng biên tập - sếp gã. Sếp thích thơ và thích “mần thơ”, dĩ nhiên đó là cái tốt. Nhưng hoảng nhất là sếp bỏ tiền túi ra nhờ nhà xuất bản in hàng trăm quyển rồi đem tặng cho các anh em trong tòa soạn mình lẫn tòa soạn bạn, sau đó bảo anh em đọc để cảm nhận, rồi bình, rồi viết, rồi gửi bài đăng báo thì... "chuối" hết chịu nổi”. Nói xong, bạn tôi thở dài.
Trước đó, có dư luận từng cho rằng thơ của tác giả Hoàng Quang Thuận từng được gửi đi để cử giải thưởng Nobel.

Bạn tôi kể, hồi trước những buổi giới thiệu sách của một tác giả nào đấy bạn tôi vẫn thường hay đến, nghe giới thiệu sách thì ít mà hóng hớt chuyện bên lề thì nhiều. Cuối buổi, thường thì bạn tôi được tặng một cuốn (cũng có khi mua với giá rẻ) kèm theo chữ ký của tác giả.
Hội người cao tuổi, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ ở phường mỗi khi sinh hoạt cũng kéo bạn tôi đến bằng được để dự... sinh hoạt. Cuối buổi, nhiều cụ nhét vào tay mình cả tập thơ dày cộp như tiểu thuyết, rồi lắc lắc: “Ông đọc đi nhé, tôi viết đấy, tâm tình gửi hết vào thơ đấy. Thơ là người mà. Ông đọc rồi viết bài đăng lên báo cho tôi nhé…”.

Quả thực rất khó xử, thơ các cụ thế nào thì biết rồi, khỏi cần phải đọc. Thành thử đành phải lấy thêm ít thông tin hoạt động của phường rồi viết dạng cổ xúy phong trào như mô hình sinh hoạt độc đáo, tổ dân phố văn hóa, tấm gương người cao tuổi,... rồi “đá” vào đó dăm vần thơ của các cụ để các cụ khỏi thấy tự ái. Sách thơ, truyện cầm về bỏ lăn lóc trên bàn, trên nóc tủ. Nhiều hôm khó ngủ lấy ra đọc vài trang rồi chán, lại ném đấy.

Cũng theo ông bạn, sáng tác đã chán, đội ngũ phê - bình (luận, loạn, phẩm) hiện nay lại càng chán. Vào mấy trang chuyên về văn nghệ hay blog đọc thấy toàn kiểu bình như bạn bè nể nương mà khen nhau. Đôi lúc cố tìm một bài phê bình ấn tượng mà khó quá.

Nhân tiện bạn tôi kể: “Hôm rồi đi họp báo, đến muộn, ngồi bàn cuối. Lăng quăng thế nào ngồi cạnh một gã cũng hay viết phê bình văn học kiêm hội họa. Lúc họp xong đi uống nước, tôi nói đến chuyện phê bình văn nghệ, gã thản nhiên: “Phê bình ấy à? Nhiều loại lắm. Loại thứ nhất là phê xong rồi bình, loại thứ hai là bình xong rồi phê, loại thứ ba là vừa bình vừa phê, loại thứ tư là không biết gì về nghệ thuật nhưng vẫn cố phê bình để giải quyết khâu… oai. Ngoài ra còn một loại nữa, loại này khá phổ biến hiện nay, đó là: nghệ thuật phê bình” . Mình và gã nhìn nhau, cười trừ”.
Cần những người dám sống, dám viết, dám tìm tòi những cái mới cho trang viết của mình.

Bạn tôi thật thà tâm sự: “Cũng lâu rồi tôi ghét những vần thơ tao nhã, những truyện rặt đạo đức. “Đạo đức” nhiều quá rồi, đọc truyện và thơ là để giải trí cho đỡ xì-choét mà đến truyện cũng “đạo đức” nữa thì vứt. “Đạo đức” đậm đặc, đạo đức có mặt khắp chốn, len lỏi đến từng xó xỉnh ngóc ngách. “Đạo đức” khiến người ta chết ngạt vì nó toàn là… đạo đức giả”.

Bạn tôi còn bảo: “Văn học cũng không ngoại lệ ông ạ. “Cái áo đạo đức khoác lên bề mặt câu chữ càng dày thì cái đạo đức của người cầm bút càng mỏng”, một nhà văn gạo cội có tiếng trong làng văn, trong một lần ngồi trò chuyện đã nói với tôi như thế. Nghĩ mà phát hoảng”.

Một lúc, bạn tôi lại quay sang nói chuyện thơ. Bạn kể, vẫn giữ thói quen như xưa, nghĩa là hay lang thang trên mạng để tìm đọc những bài thơ “ngồ ngộ” (chả biết dùng từ thế có đúng không nữa) và những lời bình cũng “ngồ ngộ”.
“Ngồ ngộ” vì chẳng biết hay dở thế nào, nhưng chắc là đọc xong người ta cũng chưa đến mức bị... ngộ độc. Những bài viết “găng găng” một tí, “khang khác” một tí, chanh chua một tí, sắc lẹm một tí và đôi khi cũng cần… “khốn nạn” một tí! Miễn đừng có “đạo đức” quá.

Một cây bút nữ trong làng thơ có lần đã từng thổ lộ, đại ý: “Những bài thơ đủ để cho những thằng đàn ông đang cương, đọc xong ỉu xìu như đỉa phải vôi, lắm kẻ cao chạy xa bay, không dám quay lại lần 2; hay những em gái luôn tự tin với thân hình khuôn vàng thước ngọc lẫn cái học vấn cao vất vưởng ngọn tre làng, vào đọc xong cũng thấy mình hóa thành những Thị Nở, Thị Màu bên cạnh cái ao rau bèo ngàn năm”...

Nói chung, hãy để cho độc giả đọc xong còn vương vấn lại chút gì đó, dù rất ít, nhưng cũng đã tìm thấy con người, cảm xúc thực của mình trong đấy”, bạn giải thích.

“Cần những người dám viết ông ạ. Và càng cần hơn những người dám “lột quần áo” cho câu chữ, bắt câu chữ… nuy. Người ta đang nuy nhiều lắm. Nuy từ sàn catwalk cho đến ngoài đường. Nuy dạo phố, nuy trong quán ăn, nuy trong rạp hát, nuy cả những nơi vốn tôn nghiêm “sặc mùi nước hoa” giáo lễ... Cả xã hội hoa mắt quay cuồng vì ngợp "màu nuy".

Nhưng cái “mặt nạ đời” thì chẳng ai chịu cởi bỏ. Sao không nuy cả trái tim? Và với thơ, sao lại không, dù chỉ một lần, nuy cho những câu chữ lẫn ý tưởng nhỉ?!...”, bạn tôi cười chua chát.

Lúc ra về, bạn tôi còn bảo: “Tôi cá với ông là nếu không chịu tìm tòi đổi mới, cứ giữ cách sáng tác thơ văn như hiện nay, dù có cả tấn thơ như ông thi sĩ nào đó của ta từng làm thơ thiền đem đi dự giải thì cũng đừng bao giờ mơ đến việc tranh giải Nobel. Còn tiếc dài dài…”.

Tuấn Linh - Đỗ Văn

21 July 2012

Thái Bá Tân và những bài thơ 5 chữ


2012-07-21
Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật tuần này xin được giới thiệu nhà thơ Thái Bá Tân với những bài thơ 5 chữ đặc sắc của ông.

Courtesy FB Thái Bá Tân
Thái Bá Tân, một nhà văn, nhà dịch thuật và nhà giáo, ảnh chụp trước đây.

“Khẩu thơ”

Trong thời gian gần đây cộng đồng mạng rộ lên một làn sóng ngạc nhiên trước những bài thơ năm chữ xuất hiện đều đặn với cùng một chủ đề về hiện tình đất nước, đặc biệt là thái độ của tác giả đối với con người mà sự kiện và hành vi có liên quan ít nhiều ít nhiều đến thời sự.

Tôi già rồi nên cũng muốn phá phách một tí, giả vờ ngây một tí. Già rồi thì tự nhiên lại muốn thật thà không hoa lá cành nữa.
Thái Bá Tân
Tác giả những bài thơ 5 chữ ấy là Thái Bá Tân, một nhà văn, nhà dịch thuật và nhà giáo với nhiều chục năm trong nghề. Tác giả hiện sống và dạy học tại Hà Nội.
Trên trang blog của tác giả, Thái Bá Tân tự bạch cuộc đời mình qua hình ảnh, tiểu sử, cũng như tác phẩm của ông từ 50 năm qua. Là một dịch giả, Thái Bá Tân có hơn ba mươi đầu sách được ông dịch ra từ các tác phẩm nổi tiếng thế giới. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng trong dó Anh ngữ là ngoại ngữ chính. Ngoài ra ông còn là một nhà thơ với hàng trăm bài ngũ ngôn, thể loại mà ông dùng khá nhiều trong thơ của ông.
Nói chuyện với chúng tôi một cách ngắn gọn ông cho biết:
“Tôi cũng viết đa dạng lắm chủ yếu là dịch nhiều hơn mặc dù đã viết 150 truyện ngắn rồi. Tôi sáng tác thơ 8 chữ cũng nhiều và dạo này tự nhiên lại sáng tác thơ 5 chữ. Chắc tại chán chán nên muốn viết dân dã một tí. Tôi già rồi nên cũng muốn phá phách một tí, giả vờ ngây một tí. Già rồi thì tự nhiên lại muốn thật thà không hoa lá cành nữa.
Tôi nghĩ rằng nhà văn nhà thơ mà cứ im mãi thì không đúng. Phải có trách nhiệm của công dân. Tôi chẳng chống phá gì đâu thậm chí tôi còn ăn lộc của chế độ vì được ăn học tử tế nhưng chuyện nào ra chuyện ấy trách nhiệm công dân thì mình phải nói.”
552773_200.jpg
Chân dung nhà văn, nhà giáo Thái Bá Tân. Courtesy FB Thái Bá Tân.
Gần đây Thái Bá Tân chỉ dùng một thể thơ ngũ ngôn để trang trải nội dung. Tuy độ dài ngắn khác nhau nhưng việc ông trung thành với một thể thơ duy nhất khiến nhiều người ngạc nhiên và nhanh chóng kết luận rằng tác giả quá nghèo nàn.
Tuy nhiên nếu xem xét kỹ từng bài thơ, người đọc sẽ thấy thể loại ngũ ngôn có lẽ là thể thơ thích hợp nhất với những gì mà Thái Bá Tân muốn gửi gấm. Nhà văn Nguyễn Quang Lập gọi thơ Thái Bá Tân là “khẩu thơ” vì theo nhà văn, thơ Thái Bá Tân gần với cách mà người ta nói chuyện, bộc bạch, hay truy vấn người khác.
Hình thức là thế nhưng khác biệt quan trọng nhất làm nên loại thơ khẩu văn có lẽ là nội dung mà tác giả muốn gửi đi. Điều này tạo cho Thái Bá Tân một chỗ đứng mới, rất mới trong vườn thơ Việt Nam vốn đang đối diện với những sáo mòn khi chất sáng tạo ngày một hiếm hoi giữa một đất nước ai cũng có thể làm thơ và vì vậy thơ giống nhau không kể xiết.
Trước tiên xin được giới thiệu một bài thơ Thái Bá Tân sáng tác vào ngày 11 tháng 7 vừa qua:

Ballad về một đại đội bị bỏ rơi

“Tôi mới nghe kể lại
Một câu chuyện đau lòng.
Có thể là chuyện thật,
Cũng có thể là không.

Chuyện kể rằng, lần ấy,
Khi đánh nhau với Tàu,
Quân ta và quân địch
Cách nhau một chiếc cầu.

Bỗng từ trên có lệnh
Một đại đội xung phong
Vượt qua cây cầu ấy,
Sang bờ bên kia sông.

Thế mà lạ, sau đó,
Hai bên đang đánh nhau,
Có lệnh từ trên xuống.
Lần này lệnh phá cầu!

Câu chuyện chỉ có thế.
Một đại đội sang sông,
Rồi phá cầu, theo lệnh...
Nghe mà nhói trong lòng.

Ừ, mà một đại đội
Biên chế bao nhiêu người?
Một trăm, hay năm chục,
Bị đồng đội bỏ rơi?

Có thể là chuyện thật,
Cũng có thể là không.
Sao lòng tôi đau nhói,
Đau nhói mãi trong lòng.

Ai ra cái lệnh ấy,
Lệnh quân ta phá cầu,
Để đồng đội đơn độc
Giữa vòng vây quân Tàu?

Câu chuyện chỉ có thế,
Dù có thật hay không,
Nhưng cả một đại đội
Đã chết bên kia sông.”

Câu chuyện đánh Trung Quốc phải hy sinh cả một đại đội dưới cái nhìn nhân bản của một nhà thơ thì người chỉ huy trận chiến năm nào có thể là vô nhân, cam tâm hy sinh đồng đội một cách vội vã để đạt chiến công nhưng dù sao cũng nói lên mức tàn khốc của chiến tranh mà nói theo Nguyễn Duy “ai chiến thắng thì người dân cũng là ngưởi chiến bại” cả.

Tôi nghĩ rằng nhà văn nhà thơ mà cứ im mãi thì không đúng. Phải có trách nhiệm của công dân. Tôi chẳng chống phá gì đâu thậm chí tôi còn ăn lộc của chế độ.
Thái Bá Tân
Thái Bá Tân không phải bỗng nhiên nhớ tới câu chuyện được kể từ rất lâu về trước. Ông nhắc lại câu chuyện này trong hoàn cảnh đặc biệt khi cuộc biểu tình chống Trung Quốc xảy ra trên khắp nước vào ngày Chúa Nhật đầu tiên của tháng Bảy.
Trận chiến cũ tuy tàn khốc nhưng là người Việt Nam không ai trong chúng ta lại cam tâm nhìn Trung Quốc lần hồi xâm lấn bờ cõi một cách trân tráo. Sức mạnh tiềm năng của dân tộc là lòng yêu nước và việc xuống đường biểu tình chống Trung Quốc là một trong nhiều cách thể hiện.
Thái Bá Tân không xuống phố biểu tình nhưng tấm lòng của ông đối với người biểu tình rất rõ ràng: Chẳng những đồng tình mà ông còn kính phục và ngưỡng mộ họ. Khi nghe tin Huỳnh Thục Vy bị bắt khi đi biểu tình vào ngày 1 tháng 7 ngay hôm sau ông lập tức phản ứng qua bài thơ:

Huỳnh Thục Vy

Cháu - cô gái xinh đẹp,
Đẹp cả ngoài lẫn trong.
Nhìn cháu mà cứ nghĩ
Cái đẹp của non sông.
Chúng, chính quyền, thật xấu.
Vừa ác vừa bất minh,
Đến mức không muốn nghĩ
Đó là chính quyền mình.
Cháu như người phụ nữ
Trong tranh Delacroix,
Guidant le peuple
Mà peuple - là chúng ta.
Cháu chỉ muốn công lý,
Dân chủ và tự do.
Tự do cho cả chúng,
Mà chúng, bọn côn đồ
Lại luôn truy bức cháu,
Dùng cả cách đê hèn.
Ngẫm mà thấy phẫn nộ.
Thấy nhục cho chính quyền.
Thục Vy, bền gan nhé.
Chúc chân cứng đá mềm.
Cháu như ngọn đuốc sáng
Đang dẫn đường trong đêm.
Nói thật, bác nhìn cháu
Vừa thán phục, tự hào,
Vừa pha chút xấu hổ.
Cháu hiểu rõ vì sao.
Xin lỗi, thế hệ bác
Dựng nên chế độ này
Để bây giờ cháu khổ,
Để dân tình đắng cay.
Cái hồi bác đi Mỹ,
Thăm tượng Liberty,
Đặt hoa dưới chân tượng,
Bác chưa biết Thục Vy.
Giờ xin phép âu yếm
Đặt hoa dưới chân mày.
Mày vấp ngã, còn sức,
Nhất định bác chìa tay.
460909_250.jpg
Nhà văn, nhà giáo Thái Bá Tân tại căn hộ của ông ở Hà Nội, ảnh chụp trước đây. Courtesy FB Thái Bá Tân.
Bốn câu cuối thân thương nói với Huỳnh Thục Vy mà như nói với cả thế hệ trẻ của Việt Nam. Hai chữ “mày” trong Huỳnh Thục Vy thương yêu trìu mến bao nhiêu thì “mày” trong bài thơ “Mắng con” lại nghiêm khắc bấy nhiêu. Thái Bá Tân mắng con nhưng nhiều kẻ lớn tuổi, trí thức trùm chăn, cán bộ cao cấp bất chính lại ngẩn ngơ xấu hổ. Những kẻ lớn tuổi đời nhưng non trí tuệ ấy có thể cho Nguyễn Bá Tân là cuồng sĩ, không thức thời nhưng với những tấm lòng đang rực cơn yêu nước thì ngôn ngữ Nguyễn Bá Tân dùng như một sức mạnh khởi động trong không gian u ám hiện nay khi đất nước bị đè nặng dưới cơn sợ hãi núp dưới chiêu bài hữu nghị:

Mắng con

Mày láo, dám khuyên bố
Mai không đi biểu tình.
Chuyện ấy có nhà nước,
Không liên quan đến mình.
Mày nói y như đảng.
Không liên quan thế nào?
Nước là của tất cả,
Của mày và của tao.
Biểu tình chống xâm lược,
Chứ có lật ai đâu.
Không lẽ mày không biết
Cái dã tâm thằng Tàu?
Mày bảo có nhà nước.
Nhà nước hèn thì sao?
Mà ai cho nhà nước
Quyết việc này thay tao?
Xưa đánh quân Mông Cổ,
Vua còn hỏi ý dân.
Sao không thấy nhà nước
Xấu hổ với vua Trần?
Đành rằng thế mình yếu,
Phải thế nọ, thế này.
Nhưng ở đời, con ạ,
Mềm nắn, rắn buông ngay.
Bố biết con thương bố,
Lo cho bố, cảm ơn.
Con “biết sống”, có thể.
Xưa bố còn “biết” hơn.
Chính vì khôn, “biết sống”,
Tức ngậm miệng, giả ngây,
Mà thế hệ của bố
Để đất nước thế này.
Ừ, bố già, lẩn thẩn,
Nhưng vẫn còn là người.
Mà người thì biết nhục,
Biết xấu hổ với đời.
Mai biểu tình, thế đấy.
Bố không bắt con đi,
Nhưng cũng đừng cản bố.
Cản cũng chẳng ích gì.
Thái Bá Tân vốn là người hiền lành qua những câu chuyện kể của những người quen biết ông cho thấy ông không mặn mà gì với chế độ mặc dù ông được ưu đãi nhiều lần. Ông tự ý về hưu rất sớm và chỉ chuyên chú vào việc dạy học và sáng tác. Thế nhưng kẻ sĩ trong giòng máu không cho phép ông im lặng trước những nhi nhô của một loại người cơ hội. Mắng con xong, ông mắng ngay cả Nguyễn Thế Thảo, chủ tịch thành phố Hà Nội kẻ lộng ngôn khi nói rằng người đi biểu tình chống Trung Quốc đang bị thế lực phản động kích động. Thái Bá Tân viết:

Gửi ông Nguyễn Thế Thảo

Xin phép được giới thiệu,
Tôi đã U bảy mươi,
Tuổi nhiều hơn ông đấy,
Tuổi gần đất xa trời.
Cho nên, xin nói thật,
Là ông còn hồ đồ.
Ông đâu phải con nít.
Hay giả vờ ngây ngô?
Tôi và những người khác
Tham gia đi biểu tình
Chống thằng Tàu xâm lược,
Thực hiện quyền của mình.
Khi nhà ông bị cướp.
Vợ con ông kêu lên,
Mà ông ngồi im lặng
Thì ông là thằng hèn.
Ông bảo rằng bọn xấu
Đang xúi giục chúng tôi,
Thế thì bọn xấu ấy
Quả là bọn không tồi.
Vì chúng còn liêm sỉ,
Còn biết ghét và yêu.
Còn yêu nước, vì vậy
Tôi mong chúng có nhiều.
Đấy là chưa nói chuyện
Chúng tôi cũng lớn rồi.
Tha không xúi chúng nó,
Đừng hòng xúi chúng tôi.
Quốc Hội ra luật biển
Để ông và mọi người
Chung sức giữ lấy đảo,
Thế mà ông, ôi trời,
Ông không chỉ im lặng,
Không tham gia biểu tình,
Mà còn nhắc người khác
Đừng để ai xúi mình.
Tôi hỏi khí không phải:
Hay thân Tàu lâu nay,
Ông đã bỏ phiếu chống
Thông qua luật biển này?
Ông ạ, ta, người lớn,
Là cứ phải lo xa.
Nói hay làm gì đấy
Nên tính trước đường ra.
Ngộ nhỡ có chiến sự,
Ta và Tàu đánh nhau.
Tàu thắng, ông có thể
Làm thái thú cho Tàu.
Nhưng có thể ngược lại,
Chẳng ai biết thế nào.
Ta thắng, tôi nghĩ thắng,
Ông ăn nói làm sao?
Lại nữa, xin nói thật,
Tôi có nghe người ta
Đồn về ông đủ chuyện,
Chuyện cái ghế ấy mà.
Trước tôi không tin lắm,
Thế mà tôi, bây giờ,
Thấy tầm ông chưa chuẩn,
Cũng buộc phải nghi ngờ.
526286_200.jpg
Nhà văn, nhà giáo Thái Bá Tân tại căn hộ của ông ở Hà Nội, ảnh chụp trước đây. Courtesy FB Thái Bá Tân.
Cũng với cung cách khẩu thơ, Thái Bá Tân dẫn người đọc đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Lần này ông nói chuyện với người cháu rể có nghề nghiệp là công an. Ông quan sát người cháu với đôi mắt vừa soi mói vừa bao dung. Ngôn ngữ ông dùng trong bài thơ có khi cay chát có khi nóng giận lại có khi tự trách mình quá khắc khe với cháu. Bài thơ sống động lạ lùng bởi ngôn ngữ mà Thái Bá Tân dùng không phải là ngôn ngữ thơ của những diễm lệ cao vời mà là một chất liệu mới kết nối thơ và người đọc qua sợi dây dân dã nhưng không thiếu sự thâm trầm vốn cần thiết trong thơ.
Cái bí ẩn làm thơ Thái Bá Tân sống và thở hào hễn với đủ các cung bậc là sự thật thà, hồn nhiên không làm dáng, không trau chuốt.

Nói với cháu rể

Mày rót bác cốc nước,
Rồi bác nói điều này.
Năm ngoái bác phản đối,
Không cho cháu lấy mày. 
Vì sao ư? Đơn giản
Vì mày là công an.
May, giờ bác vẫn thấy
Mày ngoan, hoặc còn ngoan. 
Công bằng ra mà nói,
Công an cũng chẳng sao.
Hơn thế, còn cần thiết,
Nhưng chẳng hiểu thế nào 
Giờ lắm đứa tệ quá,
Đạp vào mặt người ta,
Còn giở các trò bẩn,
Đánh đập cả đàn bà. 
Giả sử, mai “dự án”
Nó cướp đất nhà mày,
Mày có để lặp lại
Vụ Vân Giang gần đây? 
Vợ mày đang có chửa.
Bác mừng cho chúng mày.
Nếu có đứa đạp nó,
Mày sẽ nghĩ sao đây? 
Lại nữa, bác bị bắt,
Mày cứ nói thật lòng,
Người ta bảo mày bắn,
Mày có bắn bác không? 
Mà bác thì mày biết,
Như mấy lão nông dân,
Làm sao mà “thù địch”,
Mà “phản động”, vân vân. 
Nói thật cho mày biết,
Bác yêu đất nước này,
Người Văn Giang cũng vậy,
Hơn gấp vạn chúng mày. 
Vứt mẹ cái khẩu hiệu
Còn đảng là còn mình.
Thế mai kia đảng chết,
Không lẽ mày quyên sinh? 
Bác là người ngoài đảng.
Mày vào đảng, không sao,
Miễn là mày thực sự
Vì quốc dân, đồng bào. 
Mày thừa biết chúng nó,
Cái bọn “vì nhân dân”
Đang ăn cướp trắng trợn,
Pháp luật chúng đếch cần. 
Sống ở đời, cháu ạ,
Có nghề mới có ăn.
Làm công an cũng được,
Nhưng phải nhớ vì dân. 
Mà dân là bố mẹ,
Là bác, là vợ mày.
Chứ mày nghe bọn xấu
Làm ngược lại là gay, 
Là có tội, cháu ạ.
Chưa nói chuyện ở đời
Có cái luật nhân quả,
Tức là luật của trời.
Vứt mẹ cái khẩu hiệu / Còn đảng là còn mình./ Thế mai kia đảng chết / Không lẽ mày quyên sinh? Đã làm bài thơ vượt lên khỏi cái phù phiếm của ngũ ngôn. Nó tươi roi rói và hừng hực tính thời sự. Thái Bá Tân hớp hồn người nghe, người đọc trong bốn câu ngắn và bén như dao này.
Thơ Thái Bá Tân còn có một nét duyên khác lôi cuốn người đọc là sự hài hước bao lấy nỗi xót xa bên trong câu chuyện. Ông tỏ ra thẳng thắng hơn mọi người khác khi thú nhận rằng mình không hề tự hào là người Việt Nam. Câu tự bạch này không khỏi khiến lắm người tức giân nhưng cũng may không hiếm người khác lại rất đồng tình. Ông viết trong bài Tự bạch:

Tự bạch

…….
Nói thật với các bác
Điều vẫn giấu xưa nay.
Sẽ khối anh nhảy cẫng,
Mắng thế nọ thế này.
Nhẫy cẫng thì nhảy cẫng.
Việc họ làm cứ làm.
Tôi chưa hề, thú thật,
Tự hào người Việt Nam. 
Tôi đi bốn mươi nước,
Làm gì và đi đâu
Liên quan đến cái xấu,
Tôi bảo tôi người Tàu.
Một lần ở nước Bỉ,
Ngủ với một em Tây.
Nó bảo: Tàu giỏi quá!
Tôi suýt nói: Việt đây!
Duy nhất chỉ lần nọ,
Ở Havard, người ta
Khen tiếng Anh tôi giỏi.
Tôi đáp: Việt Nam mà.
Chứ nói chung là nhục.
Nhục phải làm thằng dân
Một nước giỏi nói phét,
Lãnh đạo thì ngu đần.
Riêng hai chữ “cộng sản”
Đã đủ nói phần nào.
Làm thằng dân cộng sản
Có gì mà tự hào?
Mà tự hào sao được
Khi mấy triệu dân ta
Vượt biên, thà chết biển
Hơn phải chết ở nhà!
Tự hào là yêu nước.
Yêu nước phải biểu tình.
Mà biểu tình nó oánh.
Quân ta oánh quân mình.
Nghe Thái Bá Tân kể chuyện bạn nghĩ sao? Riêng tôi khi đóng trang blog của ông lại nỗi cay đắng cứ dìm mình vào buồn bã chừng như không thề thoát ra. Thơ Thái Bá Tân rồi đây sẽ được rất nhiểu người thuộc vì nó dễ nhớ đã đành mà hơn thế nó làm cho người ta khóc người ta cười, giận dữ, khinh bỉ lẫn xót thương…chính điều này làm cho thơ Thái Bá Tân lấp lánh.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.