THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog

23 June 2012

Quốc hội sẽ giám sát Bộ trưởng thực hiện lời hứa



22/06/2012 21:13:30
Tại kỳ họp Quốc hội cuối năm nay, các Bộ trưởng trả lời chất vấn ở kỳ họp thứ 2 và 3 sẽ phải báo cáo việc thực hiện lời hứa của mình.

Trả lời báo chí tại buổi họp báo sau khi kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa 13 bế mạc (chiều 21/6), Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 13 (dự kiến diễn ra vào tháng 10 tới), các Bộ trưởng, trưởng ngành đã trả lời chất vấn ở kỳ họp thứ 2 và 3 sẽ phải báo cáo về việc thực hiện lời hứa với cử tri cả nước.
Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc (Ảnh: Internet).

Ông Nguyễn Hạnh Phúc nhấn mạnh, sau khi có kết quả việc thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng, trưởng ngành thì “mới đánh giá được việc thực hiện lời hứa của Bộ trưởng với cử tri”. Tuy nhiên, cũng theo ông Phúc, Quốc hội sẽ giám sát việc thực hiện lời hứa của các Bộ trưởng, trưởng ngành.

“Tới đây việc bỏ phiếu tín nhiệm hàng năm với các vị trí mà Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn cũng là một tiêu chí xem xét uy tín của các vị Bộ trưởng, trưởng ngành - nếu các vị không thực hiện lời hứa với cử tri thì cũng ảnh hưởng đến uy tín của các vị” – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội nhận định.

Liên quan đến hoạt động chất vấn của Quốc hội, tại phiên bế mạc trước đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng nêu rõ, Quốc hội giao Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong thời gian giữa 2 kỳ họp Quốc hội tổ chức các phiên chất vấn, giải trình của các Bộ trưởng, Trưởng ngành về các vấn đề lớn nổi lên trong quản lý nhà nước.

Sau 25 ngày làm việc khẩn trương (trong đó có 42 phiên thảo luận tại hội trường và 7 phiên thảo luận tại tổ), “Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII đã thành công tốt đẹp” (Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định), cùng với đó, hoàn thành tốt chương trình nghị sự đề ra.

13 dự án luật và 1 Nghị quyết đã được Quốc hội xem xét thông qua, trong đó có Luật bảo hiểm tiền gửi, Luật phòng chống rửa tiền, Luật Giáo dục đại học, Luật phòng, chống tác hại thuốc lá, Bộ luật lao động, Luật giá, Luật xử lý vi phạm hành chính, Luật quảng cáo, Luật tài nguyên nước và Luật biển Việt Nam...

Cùng với đó, Quốc hội cũng cho ý kiến 6 dự án luật khác như Luật quản lý thuế, Luật điện lực, Luật Xuất bản…Quốc hội cũng đã xem xét, ban hành Nghị quyết về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội; Nghị quyết về các giải pháp thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân năm 2012; Nghị quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2010; Nghị quyết về bổ sung một số dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2012-2015; Nghị quyết về việc bãi nhiệm tư cách đại biểu Quốc hội đối với bà Đặng Thị Hoàng Yến, ĐBQH hội tỉnh Long An và xem xét, quyết định một số vấn đề quan trọng khác.
 
(Theo Bưu điện Việt Nam)

Interpol truy nã đỏ cựu chủ tịch VINALINES



2012-06-22
Cảnh sát Quốc tế Interpol đã phát lệnh truy nã đỏ, tức truy nã quốc tế, đối với ông Dương Chí Dũng, nguyên cục trưởng Cục Hàng Hải, Bộ Giao thông vận tải, nguyên chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Hàng Hải Việt Nam, Vinalines, về tội lừa đảo.
Lệnh truy nã thông báo: người bị truy nã quốc tế, ông Dương Chí Dũng, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1957, tức 55 tuổi, quê quán tỉnh Hải Dương, quốc tịch Việt Nam, nói tiếng Việt Nam, tóc đen, cao 1 mét 62, nặng 60 kilogram.
Ông Dương Chí Dũng bị tư pháp Việt Nam khởi tố và ra lệnh bắt giam về cáo buộc cố ý làm trái các qui định của Nhà Nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng trong vụ án tham nhũng ở Vinalines.
Đương sự đã bỏ trốn trước khi cơ quan cảnh sát điều tra của Bộ Công an đến nhà tìm bắt.

Lúng túng tìm lối sửa Luật đất đai



2012-06-22
Cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc nhận định: Việt Nam đã đi quá đà trong quá khứ, xác lập sở hữu đất đai toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, bây giờ lúng túng tìm lối ra.
RFA/phatluattp
Lực lượng công an, quân sự đã được huy động rầm rộ vào một vụ cưỡng chế đất đai ở Tiên Lãng: Luật Đất Đai ? (ảnh minh hoạ)
Sửa Hiến pháp rồi mới sửa Luật Đất đai
Trả lời Nam Nguyên tối 21/6, TS Nguyễn Đình Lộc phát biểu:
“Vấn đề là hình thức sở hữu về đất đai, nhiều người có nguyện vọng rất chính đáng là muốn có sở hữu tư nhân, sở hữu cá nhân về đất đai. Nhưng nó vướng mắc qui định của Hiếp pháp bây giờ phải chờ Quốc hội sửa Hiến pháp, phải bắt đầu sửa từ Hiếp pháp rồi mới đi tới sửa các luật được.
Vấn đề là bây giờ xã hội có những bức xúc như thế thì sắp đến phải như thế nào. Cả xã hội đang quan tâm thì chắc Đảng cũng quan tâm chứ không phải là không, còn vấn đề có tiến tới hình thức đa sở hữu hay không  thì dư luận hiện nay cũng đang có những ý kiến khác nhau, chứ không hẳn là một phía nào.”
Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương vừa công bố đề án “Thực hiện dân chủ, công bằng trong thuê đất và thu hồi đất” xác định thời điểm hiện nay là cơ hội tốt nhất để Việt Nam khắc phục những khuyết tật trong hệ thống pháp luật liên quan đến đất đai, vừa để tránh những tranh chấp căng thẳng phát sinh, vừa để tháo gỡ mọi trở ngại và tạo động lực mới cho nền kinh tế đột phá.
Vấn đề là hình thức sở hữu về đất đai, nhiều người có nguyện vọng rất chính đáng là muốn có sở hữu tư nhân, sở hữu cá nhân về đất đai. Nhưng nó vướng mắc qui định của Hiếp pháp bây giờ phải chờ Quốc hội sửa Hiến pháp, phải bắt đầu sửa từ Hiếp pháp rồi mới đi tới sửa các luật được
TS Nguyễn Đình Lộc
Báo Saigon Tiếp thị Online trong những ngày từ 16-20/6 đã có một loạt 4 bài báo giới thiệu những điểm quan trọng của công trình nghiên cứu “Thực hiện dân chủ, công bằng trong thuê đất và
Cưỡng chế đất tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia -Thanh Hóa 3 người bị bắn, 1 cháu Lê Xuân Dũng (12 tuổi) chết sau đó (tháng 5, 2010). Báo conganbinhthuan.gov
Cưỡng chế đất tại xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia -Thanh Hóa 3 người bị bắn, 1 cháu Lê Xuân Dũng (12 tuổi) chết sau đó (tháng 5, 2010). Báo conganbinhthuan.gov
thu hồi đất”, một vấn đề đầy tính thời sự sau hàng ngàn vụ khiếu kiện của người dân bị thu hồi đất. Nhất là những vụ gây chấn động dư luận như Tiên Lãng Hải Phòng, Văn Giang Hưng Yên.
Đề án liên quan tới đất đai của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quản lý Trung ương mà chúng tôi đọc được trên Saigon Tiếp thị Online hàm ý, tình hình quản lý đất đai mất ổn định và pháp luật đất đai phải thay đổi thường xuyên. Nguyên nhân là vì: “Việt Nam không còn dứt khoát giữa hai hệ chuẩn: hệ chuẩn kinh tế kế hoạch hóa tập trung, gắn với chế độ sở hữu toàn dân đối với tư liệu sản xuất nói chung và đất đai nói riêng; và hệ chuẩn kinh tế thị trường, gắn bó với đòi hỏi phải bảo vệ quyền tư hữu tài sản. Đây là vấn đề cốt lõi, quyết định sự ổn định của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực đất đai.”
Đáp câu hỏi của Nam Nguyên, liệu thời điểm hiện nay đã đến lúc Việt Nam phải thay đổi quan niệm về quyền tư hữu tài sản trong đó có đất đai hay chưa? TS Nguyễn Đình Lộc nhận định:
“Vấn đề không phải là ý kiến riêng, mong muốn hay không mong muốn mà là phải xuất phát từ thực tế. Thực tế bây giờ muốn đa sở hữu đất đai cũng không đơn giản, phải tính đến nó sẽ đưa tới những hậu quả gì cho xã hội, cho người dân. Không đơn giản bây giờ cứ đa sở hữu là vui vẻ với nhau đâu… không phải… Vì hiện nay dù chưa đa sở hữu thì trong tay một số người có tích tụ ruộng đất rất lớn, mà đa sở hữu thì những đất đai đó đối với xã hội sẽ như thế nào đó là vấn đề chưa tính ra được. Cho nên không đơn giản đâu, bây giờ việc phân hóa diện tích đất đai trong tay một số người thì không nhỏ, trong lúc đó nhiều người lại không có. Nếu bây giờ chúng ta tuyên bố đất đai không còn thuộc sở hữu toàn dân nữa mà là đa sở hữu thì thế nào, cách nào để mà làm, cách nào để có thể chuyển hóa điều đó, thành luật thì rất dễ nhưng bằng cách nào để làm điều đó thì
Đất ruộng của nông dân biến thành khu nhà cao cấp giá hàng tỷ đồng. (Ảnh minh hoạ)
Đất ruộng của nông dân biến thành khu nhà cao cấp giá hàng tỷ đồng. RFA/AFP(Ảnh minh hoạ)
không đơn giản.”
Những bất cập và mâu thuẫn
Nghiên cứu “Thực hiện dân chủ, công bằng trong thuê đất và thu hồi đất” của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương mà Saigon Tiếp Thị Online giới thiệu, đề xuất phải làm rõ lý luận quyền sử dụng đất với quyền sở hữu đất . Pháp luật đất đai hiện hành cho người dân đến bảy quyền đối với ruộng đất như: quyền sử dụng, quyền thừa kế, quyền thế chấp, quyền cho thuê, quyền chuyển đổi, quyền tặng, quyền góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, làm cho quyền sử dụng tiến sát đến quyền sở hữu, nhưng vẫn là quyền sử dụng. Như thế ruộng đất vẫn có thể bị thu hồi bất cứ lúc nào vì nhiều lý do như quốc kế dân sinh, nhưng cũng nhiều khi vì quyền lợi ý muốn của nhà đầu tư giàu có.
...bây giờ việc phân hóa diện tích đất đai trong tay một số người thì không nhỏ, trong lúc đó nhiều người lại không có. Nếu bây giờ chúng ta tuyên bố đất đai không còn thuộc sở hữu toàn dân nữa mà là đa sở hữu thì thế nào, cách nào để mà làm...thành luật thì rất dễ nhưng bằng cách nào để làm điều đó thì không đơn giản
TS. Nguyễn Đình Lộc
Đề án nghiên cứu cũng nhận định rằng, thời hạn sử dụng đất làm giảm quyền sử dụng đất và hạn điền mâu thuẫn với xu hướng tích tụ và tập trung.
Về những vấn đề liên quan, nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc nhận định:
“Bây giờ đang giao đất đai cho người dân có quyền sử dụng nhưng thời hạn nào? Và nói đến người dân tức là nói thế hệ này tiếp nối thế hệ khác. Bây giờ những người đang sống được giao quyền sử dụng đất, nhưng mà nay mai con họ cháu họ thì sao? Thì đó là vấn đề mà xã hội chúng tôi đang rất quan tâm. Bởi vậy đang có ý là phải kéo dài thời hạn sử dụng, hay là rút ngắn lại co lại hay, định kỳ phân chia lại như thế nào là cả một vấn đề không đơn giản.”
Một người trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long cho rằng, mở rộng hạn điền hay tăng thời hạn sử dụng đất vẫn chưa là điều kiện đủ để nông dân có thể yên tâm đầu tư tích tụ đất đai mở rộng sản xuất:
“ Tôi có tiền thì cũng không dám mở rộng nhiều, thí dụ cho 20 năm hay 50 năm thì người chủ vẫn không phải là mình. Nếu tôi có mở rộng thì cũng giới hạn phần nào thôi. Nếu 50 năm mình
Khổ từ bé, người nông dân chưa bao giờ được đền bù cho xứng đáng. AFP
Khổ từ bé, người nông dân chưa bao giờ được đền bù cho xứng đáng. AFP
không còn, nhưng đời con đời cháu của mình, tôi vẫn không thể là chủ tài sản của tôi, tôi đã xuất tiền ra mua nhưng tôi lại không được làm chủ. Cái khó là ở chỗ này.
Tôi có tiền thì cũng không dám mở rộng nhiều, thí dụ cho 20 năm hay 50 năm thì người chủ vẫn không phải là mình. Nếu tôi có mở rộng thì cũng giới hạn phần nào thôi. Nếu 50 năm mình không còn, nhưng đời con đời cháu của mình, tôi vẫn không thể là chủ tài sản của tôi, tôi đã xuất tiền ra mua nhưng tôi lại không được làm chủ
Người nông dân
Trước đây thời hạn giao đất cho tôi có 15 năm, có một lần hết hạn sử dụng tôi gặp khó khăn lắm, ngân hàng không cho vay. Mỗi lần đi điều chỉnh lại cũng hết 7-8 ngày, còn phải cho tiền bên địa chính nữa, nghĩa là tiền lót tay để họ làm nhanh cho mình, phiền phức lắm. Sắp tới đây có thể kéo dài 50 năm thì dù sao cũng đỡ cho mình.”
Trong nghiên cứu “Thực hiện dân chủ, công bằng trong thuê đất và thu hồi đất” các tác giả ở Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đã tổng kết được 6 loại bất cập, trong đó qui trình thu hồi đất chưa cụ thể chặt chẽ nhiều vướng mắc. cơ quan tổ chức thu hồi đất không thực hiện đúng luật và luôn thiếu công khai dân chủ trong xây dựng và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Ngoài ra còn nhiều bất cập về giá đền bù đối với đất được thu hồi, cũng như việc hỗ trợ tái định cư, chuyển đổi việc làm chưa được quan tâm đúng mức. Một điểm quan trọng được nêu lên là pháp luật đất đai hiện hành chưa giải quyết được mâu thuẫn giữa các bên tham gia trong quá trình thu hồi đất, giữa nhà nước, người dân và nhà đầu tư có công trình. Điểm bất cập thứ sáu được nêu lên là còn nhiều thiếu sót trong qui định giải quyết khiếu nại thu hồi đất, đặc biệt chưa có qui định về cơ chế giải quyết khiếu nại công khai, minh bạch về giá đất để người bị thu hồi đất có thể bảo vệ lợi ích của mình.
Trong nghiên cứu “Thực hiện dân chủ, công bằng trong thuê đất và thu hồi đất” Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đưa ra hai đề xuất, đó là xây dựng một bộ luật riêng về thu hồi đất, trong đó qui định chi tiết quyền, nghĩa vụ các bên liên quan, trong thu hồi đất cần tính đến việc sử dụng đất đã thu hồi như thế nào. Đồng thời thiết lập tòa án riêng trong lĩnh vực đất đai để giải quyết triệt để các tranh chấp liên quan.
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương được cho là cơ quan tham mưu chính sách cho Nhà nước. Cho đến nay gút thắt sở hữu đất đai toàn dân thực chất là sở hữu Nhà nước vẫn chưa được tháo gỡ. Có lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa thể dứt khoát giữa hai hệ chuẩn kinh tế kế hoạch hóa tập trung và hệ chuẩn kinh tế thị trường gắn với đòi hỏi phải bảo vệ quyền tư hữu tài sản.     

Việt Nam đang cố vô hiệu hóa công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc



2012-06-22
Cuối tháng trước, trên trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, có một bài viết bằng tiếng Anh, khẳng định, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam đã từng có hai quốc gia riêng biệt
RFA file
Công hàm ông Phạm Văn Đồng gửi Trung Quốc
và cũng vì vậy, công hàm do ông Phạm Văn Đồng – Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gửi ông Chu Ân Lai – Thủ tướng Trung Quốc, thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông, không có chút giá trị nào về mặt luật pháp quốc tế.
Đây là lần đầu tiên, một trang web thuộc chính quyền Việt Nam nêu chính kiến theo hướng này. Vì sao? Trân Văn – thông tín viên của Đài chúng tôi đã phỏng vấn ông Dương Danh Huy - một tiến sĩ đang sống tại Anh, thành viên sáng lập Qũy Nghiên cứu biển Đông – và cũng là người đã từng khuyến nghị chính quyền Việt Nam nên làm như thế, để tìm câu trả lời.
Thể diện chính quyền phải nhường chỗ cho chủ quyền quốc gia
Trân Văn: Thưa ông, trong các cuộc tranh luận kéo dài suốt nhiều năm qua về chủ quyền trên biển Đông, tuy Trung Quốc luôn dùng công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký hồi 1958 như một trong những bằng chứng để chứng minh rằng, Việt Nam đã chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, song gần như chưa bao giờ chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam – hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nêu quan điểm của họ về công hàm đó.
Cũng vì vậy, việc trang web của Chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, đăng một bài viết xác nhận sự tồn tại của công hàm này, cũng như phân tích về giá trị của công hàm đó rõ ràng là một sự kiện rất đáng chú ý.
Là một người chuyên nghiên cứu, theo dõi và phân tích các sự kiện liên quan đến tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, ông nghĩ thế nào về sự kiện vừa xảy ra ấy?
Bản đồ Việt Nam trước 1975 chia làm hai tại vĩ tuyến 17 : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa
Bản đồ Việt Nam trước 1975 chia làm hai tại vĩ tuyến 17 : Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa. RFA file
Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trong tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa (HSTS), Trung Quốc mặc nhiên cho rằng Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam(CHXHCN VN) là hậu thân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VN DCCH) và chỉ của VN DCCH. Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam  thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CH MNVN) mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Trên phương diện chính trị, có thể nói rằng, khi Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 thì ý thức hệ và lãnh đạo của CHXHCN VN chủ yếu là từ VN DCCH. Nhưng trên phương diện pháp lý, thì CHXHCN VN là hậu thân của hai quốc gia: Môt quốc gia phía Bắc vĩ tuyến 17 với tên VN DCCH và một quốc gia phía Nam với tên Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam mà trước đó có tên Việt Nam Cộng Hòa.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Đúng là cho tới gần đây truyền thông của Việt Nam tránh nói về vấn đề công hàm Phạm Văn Đồng (CH PVĐ) và tránh câu hỏi, trước khi Việt Nam thống nhất vào ngày 2/7/1976 thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là mấy quốc gia (?), từ thời VNCH đến CH MNVN, có phải là một quốc gia khác biệt với VN DCCH hay không.
Tôi cho rằng việc một trang mạng thuộc chính phủ Việt Nam đăng một bài phân tích về CH PVĐ với quan điểm trước khi Việt Nam thống nhất thì phía Bắc và phía Nam vĩ tuyến 17 là hai quốc gia khác biệt, là một bước đi đúng, theo hướng “công khai, công pháp quốc tế và công luận” mà một số nhà luật học Việt Nam đã đề cập đến. Tôi hy vọng rằng việc Học viện Ngoại giao đăng bài đó, cũng như việc tạp chí Tia Sáng đăng một bản tiếng Việt vào tháng 11 năm ngoái, sẽ góp phần mở rộng thêm không gian tranh luận, phân tích công khai về CH PVĐ.
Việt Nam Cộng hòa là “lõi” của kế hoạch vô hiệu hóa
Trân Văn: Bài viết bằng tiếng Anh, mới đăng trên trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, chỉ là bản dịch của một loạt ba bài do bà Nguyễn Thái Linh viết và đã từng được tạp chí Tia Sáng của Việt Nam, đăng hồi giữa tháng 11 năm 2011.
Sau sự kiện đó chừng một tuần, hôm 25 tháng 11 năm 2011, lần đầu tiên, một trong những viên chức cao cấp nhất của chính quyền CHXHCN VN - ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam, chính thức tuyên bố tại diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rằng chính phủ VNCH, đã từng thay mặt Việt Nam, duy trì chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, rằng năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền VNCH,…
Theo dõi tình hình thời sự tại Việt Nam, chúng tôi không nghĩ rằng, tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng nhắm vào mục tiêu hòa hợp, hòa giải, mà đơn thuần chỉ là chuẩn bị luận cứ, nhằm vô hiệu hóa các bằng chứng mà Trung Quốc đã, đang cũng như sẽ còn tiếp tục sử dụng để chứng minh rằng, Việt Nam đã từng chính thức thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc, đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong số các bằng chứng này, có công hàm mà ông Phạm Văn Đồng ký năm 1958.
Đối chiếu tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng hồi cuối năm ngoái và sự kiện trang web của chương trình Nghiên cứu biển Đông, thuộc Học Viện Ngoại giao Việt Nam, mới vừa minh định về sự hiện hữu của VNCH trong giai đoạn 1954-1975, với bài viết “Trong cuộc chiến 1954-1975, có một hay hai quốc gia trên hai miền Bắc, Nam?”, đã được ông công bố hồi giữa năm ngoái, chúng tôi có cảm giác, những khuyến nghị của ông qua bài viết ấy, đang được chính quyền Việt Nam hiện nay áp dụng để có thể ứng dụng hữu hiệu luật pháp quốc tế, vào việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên biển Đông. Bài viết của ông rất cặn kẽ, nhiều chi tiết, trong khi thời gian cho cuộc trao đổi này lại có giới hạn, ông có thể giải thích thật ngắn gọn, nhằm giúp thính giả của chúng tôi dễ hình dung rằng, tại sao, cần phải thừa nhận, trong giai đoạn 1954-1975, Việt Nam từng có hai quốc gia riêng biệt?
Ông Phạm Văn Đồng và ông Chu Ân Lai
Ông Phạm Văn Đồng và ông Chu Ân Lai (source chouenlai.lafeng.net)
Tiến sĩ Dương Danh Huy: Trước hết, tôi xin nêu quan điểm của tôi là trong thời kỳ Việt Nam chia đôi thì “Việt Nam là VN DCCH và VNCH”  chứ không phải “Việt Nam chỉ là VN DCCH”.
Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Đúng như ông nói, có lẽ chính phủ Việt Nam cảm thấy khó có thể làm ngơ trước việc Trung Quốc đang sử dụng vấn đề CH PVĐ trong việc tuyên truyền, họ cảm thấy Việt Nam phải phản biện nhiều hơn, và họ có thể cảm thấy rằng lập luận mạnh mẽ nhất để phản biện là dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS. Nhưng để dựa trên các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS thì phải dựa trên việc lúc đó miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia.
Trên thực tế, chính phủ Việt Nam đã viện dẫn các tuyên bố và hành động của VNCH về HSTS từ lâu, thí dụ như trong sách trắng của Việt Nam về HSTS năm 1981. Nhưng, có lẽ trên phương diện đối nội thì họ ngại, không dám công nhận thẳng thừng là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mặc dù đó là quan điểm mà cả ba chính thể: VN DCCH, CH MNVN và CHXHCN VN đã từng đưa ra với thế giới.
Việc miền Bắc và miền Nam là hai quốc gia cho đến ngày 2/7/1976 là rất quan trọng cho việc phản biện Trung Quốc, vì nó có nghĩa CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ không gây phương hại cho chủ quyền đối với HSTS mà một quốc gia khác, tức là miền Nam, đang duy trì lúc đó.
...nếu sự thống nhất đó là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.
Tiến sĩ Dương Danh Huy
Nói cách khác, nếu chính phủ Việt Nam cho rằng luôn luôn chỉ có một quốc gia, thì CH PVĐ và các hành vi bất lợi khác của VN DCCH sẽ gây phương hại cho chủ quyền Việt Nam đối với HSTS.
Ngoài ra, vấn đề không chỉ là miền Bắc và miền Nam đã từng là hai quốc gia, mà còn là cả tính cách pháp lý của sự thống nhất ngày 2/7/1976. Nếu sự thống nhất đó là VN DCCH mở rộng lãnh thổ về phía Nam, hấp thụ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17 thì sẽ bất lợi cho tranh cãi pháp lý về HSTS. Ngược lại, nếu sự thống nhất đó  là VN DCCH và CH MNVN cùng đồng ý thống nhất lại thành một quốc gia thì sẽ có lợi cho Việt Nam, vì sẽ không có vấn đề gì cản trở việc CHXHCN VN, thừa kế danh nghĩa chủ quyền đối với HSTS từ quốc gia phía Nam vĩ tuyến 17, tức là VNCH hay CH MNVN.
Điểm cuối cùng ở đây là điểm có thể gây tranh cãi giữa người Việt. Trên phương diện chính trị, có thể có quan điểm cho rằng CHXHCN VN chính là VN DCCH đã hấp thụ miền Nam và đổi tên thành CHXHCN VN. Nhưng, trên phương diện thủ tục pháp lý, theo quan điểm của các quốc gia khác lúc đó, bao gồm cả Trung Quốc, và của các cơ quan của Liên Hiệp Quốc, thì sự kiện Việt Nam thống nhất ngày 2/7/1976 là hai  quốc gia thống nhất lại thành một quốc gia mới.
Trân Văn: Xin cám ơn ông.

Campuchia – Việt Nam thúc đẩy quan hệ hợp tác đầu tư



2012-06-22
Ngày 24/6, Campuchia và Việt Nam sẽ tổ chức kỷ niệm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao của hai nước.
(ảnh Quốc Bình).cpv.org
Đoàn công tác đặc biệt của Ủy ban liên hợp biên giới hai nước Việt Nam – Campuchia tại vị trí 314 là vị trí mốc cuối cùng trên tuyến biên giới
Hội nghị xúc tiến đầu tư lần thứ 3 cũng sẽ diễn ra trong ngày nhằm thúc đẩy mối quan hệ hợp tác đầu tư, thương mại giữa hai nước. Từ Campuchia, thông tín viên Quốc Việt có bài tường trình như sau:
Thủ tướng Campuchia Hun Sen và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ đồng chủ trì lễ khánh thành cột mốc biên giới giữa hai nước, đồng thời kỷ niệm 45 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao (24/6/1967 – 24/6/2012).
Cột mốc biên giới số 314 dự kiến được Thủ tướng hai nước khánh thành nằm trên biên giới giữa huyện Kampong Trach, tỉnh Kampot của Campuchia và huyện Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang của Việt Nam.
Sau lễ khánh thành cột mốc vừa nói, Thủ tướng hai nước sẽ cùng chủ trì Hội nghị xúc tiến thương mại và đầu tư lần thứ ba, diễn ra tại huyện Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Dự kiến tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo các bộ, ngành và gần 200 doanh nghiệp hai nước.
Nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư Việt Nam
Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia, hai bên sẽ ký nhiều văn kiện pháp lý về hợp tác song phương trên hầu hết các lĩnh vực và hình thành các cơ chế hợp tác cần thiết, phù hợp với tình hình và yêu cầu phát triển của hai nước. Trong đó, cũng có văn kiện pháp lý thỏa thuận về việc xúc tiến đầu
Sản phẩm nước tương Nam Dương của Việt Nam tại hội chợ triển lãm ở thủ đô Phnom Penh ngày 11/8/2011
Sản phẩm nước tương Nam Dương của Việt Nam tại hội chợ triển lãm ở thủ đô Phnom Penh ngày 11/8/2011
tư và bảo vệ các nhà đầu tư giữa chính phủ Campuchia – Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Campuchia đã thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài rất mạnh. Đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam khi chính phủ của đảng Nhân dân đang cầm quyền có mối quan hệ mật thiết với ĐCS Việt Nam và tiếp tục đẩy mạnh việc thu hút luồng đầu tư từ Việt Nam. Chính phủ Phnom Penh cũng đang tiếp tục tiến hành cải tổ trên một số lĩnh vực nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư, nhất là những lĩnh vực mà Campuchia có thế mạnh như thủy điện, khoáng sản, viễn thông, trồng cao su…v.v.
..Campuchia đã thu hút lượng vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài rất mạnh. Đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam khi chính phủ của đảng Nhân dân đang cầm quyền có mối quan hệ mật thiết với ĐCS Việt Nam và tiếp tục đẩy mạnh việc thu hút luồng đầu tư từ Việt Nam
Ông Kong Putheara, Vụ trưởng vụ thống kê và thông tin thương mại thuộc Bộ Thương mại Campuchia cho biết Campuchia – Việt Nam là hai quốc gia láng giềng được thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1967. Chính phủ thường tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đến từ Việt Nam. Việt Nam là quốc gia có cơ hội làm ăn tại Campuchia nhiều nhất do điều kiện biên giới thuận lợi và người dân thấu hiểu nền văn hóa, truyền thống của dân xứ chùa Tháp.
Ngoài vấn đề biên giới, ông Kong Putheara cho biết thêm:“Còn có luật thương mại, ưu đãi thuế của chính phủ Campuchia và có chiến lược ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt, trong đó cũng có Việt Nam nhận được ưu đãi hạ thuế. Bên cạnh đó, chính phủ cần tạo việc làm cho dân, thứ nhất. Thứ hai, Campuchia có thị trường nước ngoài. Trong đó, quá trình xuất khẩu gạo sang Châu Âu (EU) thì giá khác, còn xuất sang Việt Nam thì giá khác. Ở đây, là do chính phủ hai nước có thương lượng ưu đãi thuế.
Ngoài ra, chính phủ còn tạo điều kiện cho Việt Nam để nhận được đất tô nhượng (land concession). Hiện nay, Việt Nam đang tập trung đầu tư vào lĩnh vực trồng cây cao su rất nhiều. Đặc biệt là ở các tỉnh giáp biên giới Việt Nam như tỉnh Mondolkiri, Ratanakiri, Kampong Cham… Đất đai ở Campuchia giàu tiềm năng hơn Việt Nam, còn giá đầu tư thì rất rẻ.”
Qua Hội nghị xúc tiến đầu tư lần thứ hai và các cuộc họp của Ủy ban hỗn hợp Campuchia – Việt Nam, lãnh đạo các bộ, ngành và doanh nghiệp hai nước càng tin cậy nhau hơn. Hai nước nhất trí thúc đẩy hợp tác về lĩnh vực thương mại, giáo dục và đào tạo, nông lâm và ngư nghiệp, công nghiệp mỏ và năng lượng, xây dựng cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải, lĩnh vực du lịch, y tế, văn hóa nghệ thuật và thể thao, an ninh quốc phòng, chương trình phát triển vùng tam giác Campuchia – Việt Nam – Lào, hoạt động tìm kiếm hài cốt quân tình nguyện Việt Nam…v.v.
Ngoài ra, chính phủ còn tạo điều kiện cho Việt Nam để nhận được đất tô nhượng (land concession). Hiện nay, Việt Nam đang tập trung đầu tư vào lĩnh vực trồng cây cao su rất nhiều. Đặc biệt là ở các tỉnh giáp biên giới Việt Nam như tỉnh Mondolkiri, Ratanakiri, Kampong Cham
ông Kong Putheara
Về công tác cắm mốc biên giới trên bộ, hai nước đã cắm được 280/314 cột mốc biên giới trên thực địa. Hai nước sẽ hoán đổi một số ngôi làng theo sự thỏa thuận của Ủy ban biên giới hỗn hợp Campuchia – Việt Nam sau kỷ niệm 45 năm hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và lễ khánh thành cột mốc số 314 vào ngày 24/6/2012.
Hai mặt của các hoạt động đầu tư kinh doanh
Ông Nguyễn Văn Định, Chủ tịch Hội doanh nghiệp người Việt tại Campuchia cho biết nguyên nhân khiến các doanh nghiệp Việt Nam tập trung đầu tư mạnh là do tình hình chính trị xã hội xứ này ổn định. Chính phủ xứ chùa Tháp có chính sách ưu đãi phát triển cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài còn các nhà đầu tư nước ngoài trong đó có Việt Nam đều tuân thủ luật đầu tư và quyền lợi công dân bản xứ.
Ông phát biểu: “Nói chung, bao giờ chúng tôi cũng có trách nhiệm tạo điều kiện, tạo cầu nối thông tin tốt cho các doanh nghiệp ở Việt Nam sang đầu tư Campuchia về những thông tin về đất nước Campuchia, tình hình Campuchia và kinh tế Campuchia. Và điều kiện ưu đãi của chính phủ Campuchia như thế nào để họ an tâm đầu tư. Về lợi ích, sau khi người nước ngoài đầu tư vào thì tạo công ăn việc làm cho dân Campuchia, tạo điều kiện phát triển kinh tế Campuchia trong những năm sau này.
Các công ty Việt Nam đã và đang tăng cường đầu tư vào lĩnh vực trồng cây cao su nhưng chính các công ty từ nước này đang chặt phá rừng bừa bãi, lấn chiếm đất dân và không đền bù thỏa đáng.
các tổ chức nhân quyền
Sau khi trồng cao su, 7 năm hoặc 10 năm sau đó mới khai thác thì kinh tế Campuchia có nguồn, xuất khẩu rất lớn. Nó tăng thu nhập ngoại tệ, tăng doanh thu trong ngân sách, tăng thuế cho ngân sách. Đặc biệt, tạo công ăn việc làm cho người dân khỏi phải thất nghiệp, thoát khỏi cảnh nghèo của người dân nông thôn.”
Tuy nhiên, các tổ chức nhân quyền và người quan sát vụ tranh chấp đất đai ở xứ chùa Tháp nói các doanh nghiệp đến từ Trung Quốc và Việt Nam đang làm xấu đi tình trạng nhân quyền và luật đất đai tại xứ này. Các công ty Việt Nam đã và đang tăng cường đầu tư vào lĩnh vực trồng cây cao su nhưng chính các công ty từ nước này đang chặt phá rừng bừa bãi, lấn chiếm đất dân và không đền bù thỏa đáng.
Riêng các doanh nghiệp Việt Nam thường gây khó dễ cho người dân địa phương. Các khu vực rừng xanh ở tỉnh Kampong Thom, Preah Vihear, Kratie và Strung Treng là một điển hình. Người dân phải kéo nhau hàng trăm người để khiếu nại chống đối các hoạt động lấn đất và khai thác gỗ trái phép
ông Our Virak
Giám đốc Trung tâm Nhân quyền Campuchia là ông Our Virak nhận xét: “Tất cả quan hệ hợp tác kinh tế với mọi nước trên thế giới, chúng tôi đều đặc biệt coi trọng vì đó là mục đích thành lập một cộng đồng ASEAN năm 2015. Song đó, chính phủ cũng phải có chính sách rõ ràng nhằm bảo vệ người dân bị tước đoạt quyền lợi, đất đai hay cưỡng chế nhà cửa sau khi các công ty nước ngoài nhận được đất tô nhượng.
Riêng các doanh nghiệp Việt Nam thường gây khó dễ cho người dân địa phương. Các khu vực rừng xanh ở tỉnh Kampong Thom, Preah Vihear, Kratie và Strung Treng là một điển hình. Người dân phải kéo nhau hàng trăm người để khiếu nại chống đối các hoạt động lấn đất và khai thác gỗ trái phép.”
Trong những năm qua, quan hệ Campuchia – Việt Nam có những bước phát triển tích cực và có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực. Đặc biệt kim ngạch buôn bán hai chiều giữa hai nước không ngừng tăng. Kim ngạch thương mại song phương năm 2011 đạt 2,4 tỷ USD. Chính phủ hai nước còn quyết tâm đưa kim ngạch hai chiều tăng gấp hai lần trong 5 năm tới, đạt 5 tỷ USD.
Nhân Hội nghị xúc tiến đầu tư lần thứ 3, các tổ chức ngoài chính phủ cũng yêu cầu Thủ tướng chính phủ hai nước kiểm điểm, đánh giá lại tình hình đầu tư. Hai bên phải tháo gỡ và giải quyết những khó khăn vướng mắc để giúp cho hoạt động đầu tư, kinh doanh đạt hiệu quả hơn.

Trung Quốc mạnh mẽ chống lại Luật Biển của Việt Nam



Quốc hội Trung Quốc hôm nay lên tiếng yêu cầu Việt Nam sửa lại Luật Biển mà quốc hội Việt Nam vừa thông qua với tuyệt đại đa số hôm 21/06/2012, và có hiệu lực từ đầu năm tới.
RFA
Khu vự lãnh hải tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Tân hoa xã loan tin Ủy ban đối ngoại của quốc hội Trung Quốc đã gửi cho ủy ban đối ngoại quốc hội Việt Nam lá thư bày tỏ quan điểm của phía Trung Quốc về Luật Biển của Việt Nam.
Nội dung lá thư đưa ra phản đối cho rằng việc thông qua luật biển của quốc hội Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Trung Quốc, vi phạm nguyên tắc đồng thuận mà lãnh đạo của hai phía đã đạt được cũng như vi phạm các nguyên tắc của Tuyên bố ứng xử tại Biển Đông.
Những phát biểu của quốc hội Trung Quốc tương tự điều mà Bộ Ngoại giao của chính quyền Bắc Kinh đưa ra sau khi Quốc hội Việt nam thông qua Luật Biển vào ngày 21 tháng 6 vừa qua.
Cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc
Cái gọi là “thành phố Tam Sa” của Trung Quốc .Courtesy Sgtt.vn
Như tin đã loan, Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm qua cũng đã lên tiếng bác bỏ những chỉ trích của Trung Quốc đối với việc thông qua Luật Biển của Quốc hội Việt Nam.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị, cho rằng những chỉ trích đó là vô lý.
Việt Nam lập luận rằng việc thông qua Luật Biển của quốc hội là một hoạt động lập pháp bình thường nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam. Hoạt động đó nhằm phục vụ việc sử dụng, quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định là Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm qua cũng lên tiếng chỉ trích việc Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập cái gọi là ‘thành phố Tam Sa’ với phạm vi quản lý cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định là Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Hiện có sáu nước tuyên bố chủ quyền tại khu vực Biển Đông gồm Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Copyright © 1998-2011 Radio Free Asia. All rights reserved.