Trong hương thơm hoa nhài thoảng đưa từ Bắc Phi và Trung Đông, nghe âm vang lời kêu gọi dù lẻ loi nhưng rất dũng cảm của bác sỹ Nguyễn Đan Quế, bỗng nhớ đến cô gái Hải Phòng từng gửi đơn lên nhà nước Việt Nam xin biểu tình. Và, chính cô đã từng đi từ Hải Phòng lên Hà Nội, xuống đường biểu tình. Thầy giáo Nguyễn Thượng Long nhớ lại: " Tôi còn nhớ vào hồi 19h 42 phút ngày 07/12/2007 trong lúc tôi đang thả bộ trên đường Lê Văn Lương thì điện thoại của tôi nhận được một tin nhắn của một số máy lạ có nội dung: "Sẽ có cuộc biểu tình trước đại sứ quán Trung Quốc vào 9h ngày 9/12/2007".[1] Ngày ấy, hình ảnh cô gái " mảnh mai, gầy yếu đeo cặp kính trắng rất giản dị. Tôi thấy mỗi lần cháu hô to: "Hoàng Sa – Trường Sa !", lập tức các bạn cháu đồng thanh hô đáp lại: "Việt Nam!" " đã làm ông thấy " Từ giây phút đó cảm hứng về Tổ quốc, về Đất nước, về Dân tộc…như bừng sáng, như rực cháy … " . Ngày ấy: "Tôi nhớ tôi đã lọt thỏm vào một đám đông thanh niên, sinh viên và học sinh đang vô cùng phấn khích trước cổng đại sứ quán Trung Quốc. ….Đứng gần tôi là một cháu gái mảnh mai, gầy yếu đeo cặp kính trắng rất giản dị. Tôi thấy mỗi lần cháu hô to: "Hoàng Sa – Trường Sa !", lập tức các bạn cháu đồng thanh hô đáp lại: "Việt Nam!". Tiếng gọi tên Tổ Quốc vang lên từ những lồng ngực trẻ nhanh chóng cộng hưởng thành một trường âm thanh hào hùng lay động, lan ra xa tắp. Bất ngờ cháu gái đó nhận ra tôi, cháu hét lớn: "Các bạn ơi! đưa mic cho thầy Long đi !". Tôi bỗng quên cả tuổi tác, nhanh chóng hoá thân tuyệt đối vào sinh hoạt của các em. Từ giây phút đó cảm hứng về Tổ Quốc, về Đất Nước, về Dân Tộc… như bừng sáng, như rực cháy trong tôi nhanh chóng đưa tôi chìm sâu vào trạng thái như bị thôi miên đến nghẹt thở ".[2] Theo Phạm Thanh Nghiên: " Sự kiện ngày 9/12/2007 biểu thị cho quyết tâm của người Việt Nam kiên quyết bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, hải đảo của tổ quốc chúng ta. Nó cũng gửi lời cảnh cáo đến những kẻ bạc nhược trong chính quyền, hy vọng họ có thái độ mạnh mẽ hơn nữa với chính phủ Trung Quốc, khiến họ phải dè chừng trong mục tiêu lấy quyền lợi chung của dân tộc hay quyền lợi riêng của đảng thống trị đặt lên hàng đầu trong mối quan hệ với Trung Quốc. Nó cũng cảnh báo rằng, bất chấp ngăn cấm, người dân Việt Nam đã bắt đầu có ý thức tham gia các sinh hoạt chính trị thay vì bỏ mặc, buông xuôi cho chính phủ ".[3] Cô lên án: " Đảng cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc cấm đoán người dân tham gia vào các sinh hoạt chính trị, trong biểu tình. Chính sách này đã làm cho người dân thấp kém cả về dân trí lẫn dân khí, đẩy cộng đồng vào tâm thế ỉ lại, phó mặc ".[4] Cô tiếp tục công khai xin biểu tình vì hiểu rằng: " Biểu tình, là hành vi hợp pháp, chính đáng của quần chúng để tỏ thái độ phản đối một chủ trương, chính sách đối nội hoặc đối ngoại của nhà cầm quyền can dự tiêu cực đến quyền lợi chung của cộng đồng. Biểu tình đã được thừa nhận trong Hiến pháp Việt Nam và trong Công Ước Quốc tế về quyền con người mà Việt nam đã tham gia ký kết. ……điều 69 trong Hiến pháp Việt Nam- 1992 ghi: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin, có quyền được hôi họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật".[4] Ngày 17 tháng 6 năm 2008, cô chính thức đệ đơn lên chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội xin biểu tình. Lời lẽ trong đơn thật rành rọt: "Chiếu theo quy định dưới luật trong Nghị định 38/CP, chúng tôi làm đơn này xin tổ chức một buổi biểu tình. Mục đích, ý nghĩa, thời gian và địa điểm như sau: 1- Mục đích, ý nghĩa: Yêu cầu Chính phủ có biện pháp kiềm chế lạm phát (Các băng rôn có những câu mang nội dung trên) Cô tố cáo sự tráo trở: "Đảng cộng sản Việt Nam khi chưa cầm quyền đã cổ vũ cho quyền biểu tình của quần chúng nhân dân. Lịch sử đảng cộng sản Việt Nam đều ghi lại những cuộc biểu tình do người cộng sản xúi giục đòi "dân cày có ruộng", đòi "dân sinh dân chủ", đòi "tăng lương, giảm giờ làm"… Nhưng khi đảng cộng sản nắm được quyền hành trong tay, dù khi thảo Hiến pháp họ công nhận người dân có quyền "đòi" nhưng thực tiễn thì họ cấm người dân đòi bất cứ điều gì. Ngay cả đòi Trung Quốc ngừng thôn tính lãnh thổ, hải đảo của tổ tiên để lại cho dân tộc ta, trong đó có cả họ nữa" [4]. Thái độ đàng hoàng như vậy, lý lẽ đanh thép như vậy lẽ ra phải được nghiêm túc tiếp thu hoặc tỏ thái độ trân trọng, nhưng không, người ta đã sai công an sách nhiễu, trấn áp, đe dọa rất nhẫn tâm: " …Ngoài hai lần tôi được mời lên cơ quan công an thì thỉnh thoảng người của phòng PA38 lại đến nhà. Họ gặp riêng anh trai của tôi, gần như chỉ thị anh trai tôi phải giám sát tôi. Theo như họ nói thì họ phát hiện được âm mưu các ông Nguyễn Thanh Giang, Vũ Cao Quận, Nguyễn Xuân Nghĩa cử tôi đưa tài liệu "phản động" vào miền Nam cho ai đó…. Họ cảnh báo chung cho cả gia đình tôi biết rằng những đối tượng "phản động" kia nếu bị bắt thì dù chỉ có mối quan hệ dân sự, tôi cũng bị liên đới. Anh trai tôi cũng sợ, mẹ tôi lại càng sợ hơn. Từ đó tôi như bị cầm tù tại nhà" [3]. Không được biểu tình tuần hành, cô biểu tình ngồi. Cô tuyên bố: "Trong sự ý thức về trách nhiệm của một công dân Việt Nam, trong tinh thần Tổ Quốc trên hết, tôi quyết định sẽ toạ kháng ngay trước nhà của tôi khởi từ ngày 14 tháng 9 năm 2008 trở đi để phản đối hành động bán nước, dâng hiến Hoàng Sa và Trường Sa" [6] Cô tự ý thức: "Giải giang sơn gấm vóc mà chúng ta có được ngày hôm nay đã nhuộm thắm mồ hôi, xương máu của biết bao công dân Việt Nam đầy lòng ái quốc. Trong trách nhiệm của một con dân Việt Nam, trong sự biết ơn và trân quý những hy sinh xương máu của tổ tiên, tôi tự cho mình có bổn phận phải tiếp nối truyền thống bảo vệ và gìn giữ đất nước. Sự gìn giữ và bảo vệ không chỉ đơn thuần ở từng mét vuông lãnh thổ mà còn là danh dự và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Sự gìn giữ và bảo vệ này nằm trong tinh thần Tổ Quốc trên hết, đứng trên mọi bất đồng về ý thức hệ, chính kiến, tổ chức và đảng phái ". [6] Cô ký thác sứ mệnh thiêng liêng ấy vào tất cả chúng ta và tin tưởng: " Chúng ta không thể buông xuôi. Vì mọi sự thờ ơ và buông xuôi sẽ dẫn đến những hành động bán nước tiếp diễn trong tương lai. Chúng ta, không những phải nỗ lực lấy lại những gì đã mất, mà còn phải ngăn chận những gì sẽ mất trong tương lai. Một người, chúng ta sẽ không thành công. Một ngày, một tháng, một năm … Một ngày, một tháng, một năm là quá ngắn để đạt được mục đích. Nhưng với nhiều công dân Việt Nam, bằng trách nhiệm, lương tâm và lòng yêu nước, bằng chiều dài cuộc sống của chúng ta, chúng ta sẽ thành công trong việc tiếp nối sự nghiệp cứu nước và giữ nước của tiền nhân" [6]. Cô chỉ ngồi tọa kháng trong nhà cô, thế mà người ta đã huy động một lực lương công an hùng hậu đông tới trên dưới 20 người vây bắt cô. Tại phiên tòa, luật sư Trần Vũ Hải đã trình bày lý lẽ rất thuyết phục: " …. chị Nghiên có trữ một số tài liệu của một số nhà hoạt động nổi tiếng như ông Nguyễn Thanh Giang, ông cựu chiến binh Vũ Cao Quận, cố trung tướng Trần Độ – bài 'Rồng Rắn'. Họ cho rằng đó là những tài liệu chống nhà nước. Phía Viện Kiểm sát cho rằng những tài liệu đó Bộ Văn Hóa- Thông tin cấm. Chúng tôi đã kiểm tra lại và thấy chỉ cấm lưu hành mà thôi, không thấy nói gì về vấn đề nội dung; không kết luận là những bài viết đó có nội dung chống nhà nước hay không. Có thể có phê phán; nếu những bài viết đó có nội dung chống nhà nước thì phải chăng các tác giả cũng phải chịu trách nhiệm; nhưng ở đây có ai yêu cầu chịu trách nhiệm về các tác phẩm ấy đâu! Viện Kiểm sát trong cáo trạng cũng chưa nêu rõ các tác phẩm ấy chống nhà nước ở điểm gì? Tôi lập luận là có những tác phẩm của những nhà hoạt động nổi tiếng cũng không được lưu hành như hồi ký của ông Đoàn Duy Thành nhưng không ai có thể nói chống nhà nước XHCN được, có thể có phê phán nhưng không phải chống" [7]. Về phần Phạm Thanh Nghiên, cô đã từng bộc bạch tâm can: " Tôi mong các anh hiểu rằng chúng tôi đấu tranh để có nền Dân chủ thật sự, để có một thể chế chính trị đa nguyên đa đảng thay thế thể chế chính trị độc đảng chứ không phải để lật đổ đảng cộng sản. Và khi có sự cạnh tranh lành mạnh trên chính trường thì đảng cộng sản Việt Nam vẫn có thể lãnh đạo đất nước nếu thật sự xứng đáng và được nhân dân tin tưởng. Cá nhân tôi biết rằng trong hàng ngũ đảng cộng sản Việt Nam có nhiều những người tài giỏi và đức độ. Và ngay cả những người công an các anh cũng có những người rất nhân hậu. Tôi không đồng tình với ai đó cho rằng tất cả những đảng viên đảng cộng sản đều xấu. Hay phải xoá bỏ đảng cộng sản, tôi không đồng tình như vậy. Các anh có biết khi tôi gặp gỡ các nhà Dân chủ, họ nói với tôi những gì không? Họ luôn muốn tôi ghi nhớ rằng, khi làm việc với công an phải tỏ ra khiêm tốn, lễ phép. Và nhất là phải ghi nhớ công an cũng là đồng bào ruột thịt của mình, phải thương yêu họ. Họ đã dặn tôi phải như thế đấy, trong khi chính những con người này đã bị chính công an đàn áp chỉ vì họ dám lên tiếng đấu tranh, nhiều ngườì trong số đó đã bị tù đày, vậy mà họ vẫn nhắc nhở nhau điều đó. Khi tôi tiếp xúc với những người đấu tranh Dân chủ, tôi cảm nhận được đó là những con người rất nhân hậu, dũng cảm và có nhân cách cao thượng. Chúng tôi gặp nhau để cùng thăm hỏi, động viên nhau, để nhắc nhau những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống chứ không phải để bàn chuyện lật đổ đảng cộng sản như các anh vẫn gán ghép. Tôi mong các anh hiểu được điều này.Và đó cũng là cách hành xử rất khác nhau giữa những người đấu tranh Dân chủ và những người công an các anh.Tôi ước mong một ngày các anh hiểu ra điều ấy và đối xử với chúng tôi như chúng tôi đã đối xử với các anh" [8] Thế mà họ vẫn đang tâm kết án cô 4 năm tù giam và 3 năm quản chế, để rồi cho đến hôm nay, giữa những ngày lạnh giá này cô vẫn co ro trên sàn lạnh trại giam Ba Sao ở Thanh Hóa mà hậu quả của nó không chỉ hủy hoại sức khỏe của cô, khống chế nghiệt ngã đời sống vật chất của cô mà có thể sẽ kéo dài đến vô tận số phận đơn lẻ của một người phụ nữ nay đã ba mươi tư tuổi! Không biết cái ông Nông Đức Mạnh, bây giờ nghỉ việc, nhàn rỗi hơn, có lúc nào lương tâm chợt tỉnh thức để nghĩ đến một nạn nhân vô cùng oan khuất dưới triều đại ông không? Không biết ông có rùng mình rợn người trước khoảng thẳm sâu hun hút giữa cái " thiên đường gian dối " mà con trai ông đang chễm chệ và cái " địa ngục oan khiên " mà Pham Thanh Nghiên đang lê lết không? Nước mắt tôi giàn giụa. Phạm Thanh Nghiên bé nhỏ, gầy yếu quá ! Cách đây hơn 3 năm, trong nhập nhoạng tối, Nghiên bước vào nhà tôi run lập cập. Cháu nội của tôi vội đưa quần áo của mình, dẫn cô vào phòng tắm. Mặc dù Nga My mới có 11 tuổi nhưng Nghiên mặc quần áo của cháu không chỉ vừa mà còn đẹp nữa. Hôm ấy, Nghiên kể cho chúng tôi nghe một chuyến vi hành gian nan, quả cảm như một trích đoạn Đường Tăng thỉnh Kinh trong Tây Du ký. Chuyện của Nghiên hấp dẫn đến nỗi tâm tư tôi như dập dềnh trở lại vùng biển Lạch Trường nghèo khổ ngày nào cùng những ngư dân từng phải muối mặt khổ tâm nhận ruột tượng gạo của tôi để nấu ăn cho tôi, một cán bộ Đoàn được điều động về địa phương mình làm "Phát động giảm tô", trước cải cách ruộng đất. Thuở ấy nghèo khổ đến mức khi tôi hỏi một em nhỏ: " Cháu ăn cơm chưa? " thì cháu trả lời: "Sao thầy hỏi dại thế!". Tìm hiểu mãi tôi mới biết hàng ngày dân ở đây chỉ ăn khoai trừ bữa. Ăn cơm tức là nhà có đám ma, đám giỗ. Mấy hôm sau, tôi được đọc trên mạng bài viết của Nghiên, kể lại: "Khởi hành lúc 8 giờ từ Hà Nội, đúng 12 giờ trưa, hai chúng tôi mới đến được Thanh Hoá. Cho đến hôm nay, tôi cũng khó lý giải tại sao một người vốn mắc bệnh "say xe" như tôi lại có thể ngồi lì trên ô-tô hơn 4 giờ đồng hồ như vậy …… Việc tìm kiếm không mấy dễ dàng. Chúng tôi chỉ được biết họ thuộc hai xã Hoằng Trường và Hoà Lộc. Sau khi ăn trưa tại một quán ven đường, con trai người chủ quán chở chúng tôi bằng xe tắc-xi đến xã Hoằng Trường với chặng đường ngót ba mươi cây số. Số tiền phải trả cho chuyến tắc-xi gấp gần ba lần số tiền đi từ Hà Nội về Thanh Hoá. Đến Hoằng Trường, hai người chúng tôi bắt đầu cuộc hành trình bằng đôi chân trên con đường đất ghồ ghề gần 10km, tìm tới nhà của các ngư phủ bị nạn. Càng đi sâu vào làng, cái nghèo của làng chài càng hiện rõ. Khác hẳn những hình dung trước kia của tôi về một phiên chợ tấp nập của miền quê biển. Ở đây, chợ chiều vắng ngắt, vài quán lá lụp xụp, hàng hoá nghèo nàn…" [9]. Ký ức xưa mang mang buồn trong tôi bỗng trào sôi căm uất với những đoạn kể tội ác của bọn giặc Trung Quốc: "Thuyền ra biển được hai ngày thì gặp tầu chiến Trung Quốc. Họ rượt đuổi chúng tôi. Chúng tôi không hiểu tại sao họ rượt đuổi. Đây là ngư trường chúng tôi vẫn hành nghề từ bao năm nay. Trước đó, họ không bắn pháo hiệu hay có bất cứ tín hiệu gì cảnh cáo trước, càng không có bất cứ biểu hiện gì để chúng tôi tin là họ sẽ tấn công chúng tôi cả.". Anh Nguyễn Văn Dũng, một trong tám người sống sót kể lại. …… "Hôm đó là sáng ngày 8 tháng 1 năm 2005…". Trương Đình Thái, kể với một tâm trạng vẫn còn kinh hãi: " Chúng bắn vào các đồng nghiệp của em, sau đó xả hơi cay vào các nạn nhân. Tám người chết, còn em và chủ tầu bị thương ". Khi tôi gặng hỏi để biết chi tiết hơn, Tháí không thể nói gì thêm: " Hồi em được chúng thả về, thi thoảng em la hét, ai hỏi em cũng nói không biết gì. Những tràng súng bắn quá gần và xác đồng nghiệp đổ vật xuống boong thuyền khiến em bị chết lâm sàng. Vết thương của em nặng, gia đình phải vay mượn tiền để mang em ra Hà Nội mổ lại. Bây giờ vẫn đau ". Thật không dễ quên đi quá khứ kinh hoàng, không phải ai cũng đủ can đảm để kể lại. Còn đang bối rối thì đột nhiên Thái bất ngờ nói với tôi: " Chị ơi, họ làm sống em chị ạ". Phút chốc tôi rùng mình. Nhìn gương mặt của Thái, tôi linh cảm cụm từ "làm sống" là thế nào. "Sau khi thực hiện tội ác, chúng trói những người còn sống lại và cho tám xác chết vào tám túi ni-lông ". Anh Dũng kể thay cho Thái: " Lúc tàu Trung Quốc đuổi thì tôi cũng biết, nhưng đang ở dưới khoang thuyền. Khi tôi lên, cảnh tượng thật hãi hùng, người chết, người bị thương, người bị còng tay. Tôi là người cuối cùng bị còng ". Anh Dũng còn cho biết thêm: Lên thuyền của các anh có bảy tên lính hải quân Trung Quốc cao lớn, tên nào tay cũng lăm lăm một khẩu súng. Buổi chiều, chúng đưa các anh về đảo Hải Nam, cho mỗi người một tô mì, sau đó nhốt mỗi người vào một buồng riêng biệt. Hai ngừơi bị thương thì chúng "làm sống", tức là xử lý vết thương không dùng thuốc gây tê. Sau một vài phút để trấn tĩnh trở lại, Thái nói: "Chúng dùng dao khoét vào đùi em, lấy viên đạn ra; em bị bắn 2 phát, một phát vào đùi phải đau đớn vô cùng. Khi chúng khoét xong, cho em tô mì. Sáng hôm sau chúng lôi em đi lấy cung". ….. "Tháng 1 năm 2005, mười sáu con người cùng đi đánh cá trên một chiếc thuyền, tám người vĩnh viễn ra đi, tám người còn lại trở về với nỗi kinh hoàng tột độ" [9]. Đọc bài viết, tôi bàng hoàng. Hờn căm sôi sục và xúc động lặng người. Trong những cô hồn tha phưong kia, trong những người bị "làm sống" kia có ai đã từng đổi khoai lấy cơm của tôi rồi giúp tôi dán khẩu hiệu trong đợt công tác "Phát động giảm tô" ngày ấy? Bài viết thật xuất sắc. "Uất ức- biển ta ơi" của Phạm Thanh Nghiên là một phóng sự điều tra xứng đáng xếp vào tuyển tập thể loại này của Việt Nam. Nhưng, oái oăm thay, chính vì vậy mà người ta quá sợ hãi và đã quyết định phải tống con người tài năng này vào tù! Với tinh thần khoa học nghiêm túc, tôi chân thành đề nghị mọi người hãy tìm đọc lại và lưu giữ để khi có điều kiện thì kiến nghị Nhà nước trao tặng giải thưởng lớn cho bài viết và suy tôn tác giả. Một trí thức yêu nước nổi tiếng đã viết: "Tôi không biết chị Nghiên và cũng chưa một lần đối diện hay đìện đàm cùng chị Nghiên, nhưng tôi theo dõi rất kỹ những việc chị Nghiên làm cho người Việt Nam trong nước, đặc biệt là ngư dân Việt Nam đánh bắt cá ở biển Đông. Năm 2005 lũ giặc cướp biển Đông tự do bắn giết ngư dân VN ta trong phần lãnh hải thuộc về chủ quyền VN nhưng nhà nước … không dám mỡ miệng lên tiếng phản đối lũ giặc cướp man rợ phương Bắc. Chị Nghiên lặn lội đường xa đi từ Hải Phòng về Thanh Hoá thăm hỏi, an ủi những gia đình ngư dân VN bị bọn hải tặc biển Đông giết hại, chị Nghiên chụp hình, viết phóng sự "nóng hổi" phổ biến trên Internet toàn cầu tố cáo bộ mặt dã man của bọn bành trướng Bắc Kinh và đòi công lý, lẽ phải cho những ngư dân VN thấp cổ bé mồm. Nhẽ ra nhà nước CHXHCN VN phải trao tặng chị Nghiên huy chương vàng về tinh thần yêu nước, yêu nhân dân mới đúng lẽ nhưng lại ngược đãi trù dập chị Nghiên … Chị Nghiên đúng là một nữ anh thư thế kỷ XXI xứng đáng con cháu Bà Trưng – Bà Triệu.Và tinh thần yêu nước của nữ anh thư Phạm Thanh Nghiên bất diệt !!!" [10] Hà Nội 15 tháng 3 năm 2011 [1] Nguyễn Thượng Long – "Phạm Thanh Nghiên và những kỉ niệm…" Chúng ta là Cù Huy Hà Vũ! Chúng ta là Cù Huy Hà Vũ, 20/3/2011 |
THÔNG BÁO !
TM Ban Điều Hành Blog
27 March 2011
Phạm Thanh Nghiên uất ức cùng biển quê tôi
Biến động toàn cầu có xẩy ra không?
Dân oan
Ngày 30/01/2011, Thanh tra Chính phủ cảnh báo 835 đơn khiếu kiện của dân về dự án Tân Sơn Nhất – Bình Lợi nếu không giải quyết dứt điểm có nguy cơ trở thành điểm nóng. Đại biểu Quốc hội, Bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng đi khiếu kiện về đất đai. Trong 5 năm, nhà nước đã giải toả thu hồi đất 500.000 ha đất đai, đẩy 2 triệu 60 vạn dân khỏi nơi chôn nhau cắt rốn, 87,5% người bị thu hồi đất đều bị giảm thu nhập, nhiều người không có nơi định cư, màn trời chiếu đất. Nhiều khu vực định cư cũng là cuộc sống đầy đọa, nhà cửa chật chội, không đất canh tác, không nước, không nhà vệ sinh, chết không có chỗ chôn… nợ nần chồng chất, tệ nạn xã hội phát triển, gia đình lục đục, con cái không được chăm sóc. Trên đây tôi chỉ mới lấy ví dụ sơ bộ về việc khiếu kiện đất đai và một số "loại hình sở hữu" liên quan thôi. Các lĩnh vực khác của đời sống xã hội còn gay cấn hơn thế nữa. Chẳng hạn như các vấn đề liên quan đến chữ "tam dân" mà lâu nay các vị lãnh đạo (được xem như "thượng tầng kiến trúc" trong bộ máy xã hội) vẫn lấy làm kim chỉ nam như : dân tộc đã độc lập thật sự chưa? Những mất mát thật sự về chữ độc lập. Dân sinh thực sự bị xâm hại hạnh phúc như nào? Dân quyền mà dám nói đến tự do dân chủ trong lúc này sao? Hãy nghe chính "rường cột" của khối kiến trúc đó nói: Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Vĩnh Trọng: "…về phía người dân khiếu kiện tố cáo họ cũng rất cực, rất vất vả, không phải bà con có ý xấu muốn chống lại chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước. Cực chẳng đã vì quá bức xúc nên họ phải đội nắng, đội mưa khi khiếu kiện thế này". (1) Theo báo cáo của Chính phủ ngày 29/10/2010 trước Quốc hội, người khiếu kiện năm 2010 tăng 23,7% so với năm 2009. (Trích từ "Thư ngỏ gửi quý vị Đại biểu Quốc hội khoá 12"- Bùi Như Thủy) Ông Trương Vĩnh Trọng cũng cho rằng: "Trong những người tham gia khiếu kiện, có những người khiếu tố đúng, mong muốn được pháp luật giải quyết công minh; nhưng cũng có một số người mặc dù tranh chấp liên quan đến mình đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý đúng pháp luật, nhưng hoặc vì thiếu hiểu biết, hoặc vì cố chấp mà vẫn cố tình khiếu nại kéo dài; một số phần tử quá khích thậm chí coi thường pháp luật, ngang nhiên thách đố, xâm phạm trụ sở cơ quan công quyền, xúc phạm, đe dọa những người thi hành công vụ. Một số kẻ xấu, trong đó có cả những phần tử có tiền án, tiền sự không chịu hối cải, lợi dụng khiếu tố để cò mồi, kích động nhằm "đục nước béo cò" tìm kiếm lợi ích riêng; một số ít đối tượng cơ hội chính trị cũng nhân dịp này tìm mọi cách kích động gây rối, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đáng tiếc là một số bà con mình đã nhẹ dạ để bọn xấu lôi kéo, tham gia vào những hành động sai trái này." Mục đích khiếu kiện của dân oan, thiết nghĩ không cần phải nhắc lại. Thiết thực gần thì họ đòi quyền lợi sát sườn, đến cơm áo hàng ngày, không khí thở hàng giây của họ. Hoàn toàn chính đáng trên cơ sở pháp lý được "dựng" sẵn. Xa hơn, họ muốn có được "một hệ thống kiến trúc thượng tầng" hoàn chỉnh, hợp lý hơn. Như những gì vốn họ được nghe: Dân chủ công bằng văn minh, không cần phải nhẩm cũng thuộc. Họ đã làm gì? Họ muốn sự thực thi đúng với cam kết như các văn bản mang tính pháp luật dưới góc hiểu đúng của họ. Không phải chỉ có dân trí thấp thì mới bị oan trái hay xử tệ. Bởi vậy, những nhu cầu của họ, được cân nhắc kỹ càng chứ không hời hợt như các vị lãnh đạo vẫn nói. Hành vi của họ được kiểm soát bởi tư duy, không thụ động. Tóm lại, những người dân gặp oan khuất – họ đang có nhu cầu… Cuối cùng thì những người dân oan ức cũng vẫn bị quy về một mối là nhẹ dạ, bị xúi giục lôi kéo. Dân oan thực sự cần điều gì? Chắc chắn không phải chỉ là những buổi biểu tình, tập trung đông người, bởi để giải quyết vấn đề khiếu kiện một cách tận gốc không phải chỉ bằng cách xuống đường, biểu tình một vài ngày, vài tuần, vài tháng là xong. Trong lịch sử, và thực tế đã chứng minh. (Sách giáo khoa chính thống phát hành) Bất kỳ một cuộc cách mạng nào không dựa vào sức mạnh của dân đều thất bại. Dân ở đây dược hiểu là số đông quần chúng có chung một mục đích và nhu cầu. Đảng Cộng sản lúc đầu, đã dương (đúng ra là viết giương) ngọn cờ độc lập dân tộc, lợi ích dân tộc rất cao. Hoàn cảnh lịch sử đã ủng hộ họ mà ai cũng biết là: nhân dân đã đứng về phía họ. Đảng Cộng sản đã thành công bước đầu khi dựa vào sức mạnh quần chúng. Thế nhưng, sau khi thiết lập được "thượng tầng kiến trúc" màu sắc thật của ngọn cờ trên lộ rõ. Lợi ích đã bị xáo trộn. Lợi ích giai cấp đã được đặt lên trên. (viết đến đây lại nhớ ông Trần Phú…) Nguyên nhân rất sâu của những bất công dẫn đến khiếu kiện kéo dài, dân bị oan ức càng tăng về "số" cũng như "chất". Liệu có đạt đỉnh điểm để dẫn tới mức nảy (nhảy) hay không? Rõ ràng , nhà cầm quyền hiện tại không hề muốn. Sức mạnh tư duy con người dần đẩy dân trí lên cao, mặt bằng nhận thức đã khác trước cộng với xu thế lịch sử xã hội. Vậy sự thay đổi cần có là gì? Ai sẽ thực hiện điều đó? Sức mạnh của bước tác đông không lực lượng nào khác là dân. Có một vài "trào lưu" đã làm vậy. Nhưng dựa vào sự "quẫn bách" của một nhóm người mà gọi là "sức mạnh quần chúng" thì không thể gọi là đúng được. Về mặt nào đó, lần theo vết cũ của "các cuộc cách mạng" trước. Thành công là không thể, còn hệ lụy như sau bởi : Người dân đi khiếu kiện thật sự cần được lắng nghe, được tư vấn về mặt thủ tục pháp lý, được giúp đỡ , hướng dẫn các quy trình khiếu nại, tố cáo dựa trên cơ sở luật pháp hiện hành. Họ cần được biết hướng giải quyết nỗi oan của mình. Muốn đồng hành cùng dân oan thực sự phải xác định được nhu cầu của họ. Dân oan đã đủ oan ức lắm rồi, đừng bắt họ phải gánh thêm trên mình nỗi oan khiên bị lợi dụng, xúi giục, lôi kéo vì thiếu hiểu biết và nhẹ dạ nữa. Ông bà ta dạy : "Thương nhau như thế bằng mười hại nhau." Quay trở lại với trần tình của ông Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, khi ông cho rằng "bà con nhẹ dạ", có lẽ ông quên rằng những người gặp oan sai sau nhiều lần, nhiều năm trời khiếu nại ròng rã, sự kiên nhẫn và niềm tin vào sự công minh của pháp luật dần dần trở thành con số không. Con người ta sống và tồn tại được là nhờ vào niềm tin – mất niềm tin là mất tất cả, một thế hệ mất niềm tin dẫn đến tương lai của những thế hệ sau không có gì là tươi sáng. Trong phát biểu tiếp theo ông Trọng cho rằng: "Tranh chấp dân sự và khiếu kiện của dân là do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về chính sách, luật pháp chưa hoàn chỉnh; trong lãnh đạo, quản lý kinh tế, xã hội, một số ít cán bộ hoặc cấp uỷ và chính quyền các cấp có những khuyết điểm, sai phạm (quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, giải quyết một số vụ việc chưa đúng chính sách, luật pháp, chưa thoả đáng, công bằng, minh bạch v.v.). Việc xử lý những cán bộ mắc khuyết điểm, sai phạm như vậy lại không nghiêm và cũng không minh, khiến dân càng bức xúc. Nhưng, nguyên nhân trực tiếp gây ra những vụ khiếu kiện vượt cấp, đông người… là do một số ít cấp uỷ đảng, chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc tiếp nhận, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của dân; giải quyết nhiều vụ việc chậm và có những việc qúa chậm, chưa nghiêm túc, thấu đáo, chưa đúng chính sách, pháp luật, tức là tình cũng chưa thấu mà lý cũng chưa đạt, làm cho dân bất bình, giảm lòng tin vào lãnh đạo địa phương và cơ quan công quyền." Phải khen ông Trọng bởi ở phần mào đầu, ông đã "dũng cảm" chỉ ra nguyên nhân chủ yếu đẩy người dân từ cuộc sống bình thường trở thành dân oan. Tuy nhiên, cũng vẫn như mọi lần, lúc kết luận vấn đề cũng chỉ có một số ít cá nhân phải chịu trách nhiệm cho cái sai toàn cục như thế. Đây là kiểu "nói giảm – nói tránh" thường thấy.
Ông đổ lỗi cho người dân nhẹ dạ bị lợi dụng mà không nhận thấy rằng chính sự vô trách nhiệm và thiếu công bằng trong quản lý của bộ máy nhà nước mà ông đang đứng chân trong đó đã góp phần đưa điểm yếu kém của mình ra cho các "thế lực thù địch" lợi dụng. Hiện tượng xã hội, thực trạng cụ thể như ta thấy được ví như một khối ung nguy cấp. Nguồn cơn con bệnh đã được chẩn đoán và xác định cụ thể bằng các biện pháp khoa học. Triệu chứng phát ra bề ngoài, chỉ sơ sơ cận lâm sàng cũng đã biết. Nếu cứ cố tình chưa chạy theo kiểu "bôi, xoa" thì có thể vẻ bề ngoài được dịu. Cảm giác "mát mẻ" chỉ đánh lừa chút ít thời gian thôi. Bệnh âm ỉ phát, ngày càng nguy. Đến lúc cái u thực sự vỡ. Liệu sự chạy chữa còn kịp hay không? Tôi xin ví von hiện thức bằng một hình ảnh cụ thể như trên để gần gũi và dễ hiểu hơn. Cụ thể hơn, con bệnh có "bảo bối" là "súng ống và chuyên chính". Giai đoạn lờn thuốc đã thấy rõ. Thầy thuốc có tâm, chân tâm thì sẵn sàng trang bị kiến thức để có giải pháp chữa chạy, thành công là cứu cánh. Còn, ngụy tâm? Dẫu kiến thức đầy mình cũng sẽ thất bại. Chưa nói đến đó là thứ vắc-xin ngược cho con bệnh, tăng thêm độ lờn thuốc. Vấn đề xã hội muốn giải quyết phải bắt đầu xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh. Phải lấy thực tiễn và các cứ liệu khẳng định khoa học làm cơ sở. Muốn giải quyết được vấn đề một cách triệt để hãy hãy xây dựng CỨU CÁNH trước khi bắt tay vào thực hiện. Khi đó, câu nói : Cứu cánh biện minh mục đích, mới khả dĩ đúng – khả dụng! 0 0 Rate This |



