THÔNG BÁO !

Trang blog diễn đàn đã được dời sang địa chỉ mới http://ptlambao.blogspot.com/ . Vui lòng vào đây để theo dõi tin tức mới và tiện việc ủng hộ. Trang này sẽ lưu giữ những thông tin cũ . Xin cả ơn sự ủng hộ của mọi người

TM Ban Điều Hành Blog

02 September 2011

Xem Lại - TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA !

Hỡi đồng bào cả nước,

Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
 
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
 
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
 
Thế mà hơn tám mươi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.
 
Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
 
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
 
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
 
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
 
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
 
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
 
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều.
 
Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
 
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn, trở nên bần cùng.
 
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên.
 
Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
 
Mùa thu năm 1940, phát-xít Nhật đến xâm lăng Đông - Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng trị đến Bắc kỳ hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc bỏ chạy hoặc đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không bảo hộ được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng dã man bán nước ta hai lần cho Nhật.

Trước ngày mồng 9 tháng 3, biết bao lần Việt minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng, lại thẳng tay khủng bố Việt minh hơn nữa.

Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.

Tuy vậy, đối với nước Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày mồng 9 tháng 3, Việt minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
 
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
 
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần một trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mưới thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa.
 
Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
 
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
 
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu-kim-sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
 
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn tám mươi năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do ! Dân tộc đó phải được độc lập !
 
Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:

Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.

Nguồn: http://www.cpv.org.vn/
 và TranNhuong.com

TRUNG QUỐC CAN THIỆP VÀO NỘI BỘ VIỆT NAM: SẴN SÀNG GẠT BỎ MỌI SỰ QUẤY NHIỄU TẠI VIỆT NAM ?

Phamvietdao.net:
 
Qua thông tin vừa đưa trên Đài CRI cho thấy: người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc đã cho biết chuyến thăm Việt Nam sắp tới của ông Đới Bỉnh Quốc là nhắm mục đích can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; nhằm “gạt bỏ những sự quấy nhiễu” để “thúc đẩy quan hệ Trung-Việt vào quỹ đạo đúng đắn “ ? 
 
Sự quấy nhiễu quan hệ Việt-Trung mà Trung Quốc tuyên bố "sẵn sàng gạt bỏ những quấy nhiễu..." phải chăng là của những người tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc; hay những ý kiến phản biện có chừng mực, có lý có tình trên các trang mạng cá nhân? Hay Trung Quốc sẽ gạt bỏ vô hiệu những hành vi cắt cáp, tống tiền ngư dân Việt Nam của đám hải tặc Trung Hoa, ngừng đưa các tàu hải giám, tàu chiến vào sâu trong lãnh hải Việt Nam thưa ngài Mã Chiêu Húc?
 
Ngài tuyên bố sẽ đưa quan hệ Trung-Việt phát triển theo quỹ đạo đúng đắn? Thế thì từ bấy lâu nay, những động thái trên Biển Đông do phía Trung Quốc gây ra là đúng đắn cả hay sao? Việc các trang mạng Trung Quốc, các tướng lĩnh Trung Quốc hô hào sử dụng sức mạnh quân sự để đánh Việt Nam nên buộc lòng một số trí thứ, một số thanh niên Việt Nam phải xuống đường phản đối; theo ngài thì đó là hành vi quấy nhiễu quan hệ Trung-Việt của phía Việt Nam ư; hành động đó của phía Việt Nam là không đúng đắn ư ???
 
Không biết kẻ ngu đần này có hiểu sai “ thiện ý “ của ngài Mã Chiêu Húc không, rất mong được tiên sinh chỉ giáo: như thế nào là hành động quấy nhiễu, như thế nào là không đúng đắn để con dân đất Việt còn biết mà đề phòng ?

Trung Quốc sẵn sàng gạt bỏ mọi quấy nhiễu thúc đẩy quan hệ Trung-Việt phát triển theo quỹ đạo đúng đắn

Theo tin Đài chúng tôi: Ngày 1/9, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc cho biết, Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc thăm Việt Nam sẽ gặp các Nhà lãnh đạo khoá mới của Việt Nam, Trung Quốc sẵn sàng nỗ lực cùng Việt Nam, tăng cường giao lưu hữu nghị, sâu sắc hợp tác thiết thực, gạt bỏ mọi quấy nhiễu, thúc đẩy quan hệ Trung-Việt mãi mãi phát triển lên phía trước theo quỹ đạo đúng đắn.
Ông Mã Chiêu Húc cho biết, quan hệ Trung-Việt hiện nay nhìn chung phát triển tốt đẹp. Trung Quốc tin tưởng rằng, chuyến thăm này sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung-Việt phát triển vững chắc và ổn định.

( Theo Đài CRI- http://vietnamese.cri.cn/421/2011/09/01/1s160935.htm)
------------------------------------------------------------
Tin thêm:

Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc sẽ thăm Việt Nam và đồng chủ trì phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác Trung Quốc-Việt Nam

2011-08-31 16:35:20     Xin Hua
Theo Tân Hoa xã: Ngày 31/8, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mã Chiêu Húc tuyên bố, nhận lời mời của Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân, Uỷ viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc sẽ thăm Việt Nam từ ngày 5-9/9, và cùng Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đồng chủ trì phiên họp lần thứ 5 Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Trung-Việt.
( Nguồn: http://vietnamese.cri.cn/421/2011/08/31/181s160856.htm )

Hải quân Trung Quốc chặn chiến hạm Ấn Độ

(Dân trí) - Một tàu chiến của Trung Quốc đã chặn một tàu của Hải quân Ấn Độ trong vùng biển quốc tế khi tàu này vừa rời vùng biển Việt Nam hồi cuối tháng 7, tờ Financial Times của Anh hôm qua đưa tin.
 
Chiếm hạm INS Airavat của Ấn Độ.

Tờ báo có trụ ở tại London (Anh) đưa tin rằng 5 người biết về vụ việc cho hay cuộc chạm trán xảy ra tại vùng biển quốc tế ngay sau khi tàu đổ bộ tấn công INS Airavat của Ấn Độ hoàn thành chuyến thăm cảng Việt Nam.

Theo Financial Times, sau khi vừa ra khỏi vùng biển Việt Nam, một tàu chiến không rõ số hiệu của Trung Quốc đã ra tín hiệu đòi chiến hạm INS Airavat của Ấn Độ phải trình báo danh tính và giải trình lý do có mặt trong vùng biển quốc tế.

New Delhi xác nhận rằng Trung Quốc liên lạc với tàu Ấn Độ, nhưng bác bỏ thông tin về một “cuộc đối đầu”.
Chính phủ Ấn Độ cho biết trong một tuyên bố rằng, vào ngày 22/7, sau khi vừa đi vào vùng biển quốc tế, tàu INS Airavat nhận được điện đàm từ một người gọi tự xưng là “Hải quân Trung Quốc” cảnh báo rằng tàu này “đang tiến vào hải phận Trung Quốc”.

Tuyên bố nói thêm rằng không nhìn thấy tàu hay máy bay nào quanh khu vực đó, và INS Airavat tiếp tục hải trình như đã định.

“Ấn Độ ủng hộ tự do lưu thông trong các vùng biển quốc tế, trong đó có Biển Đông, quyền tự do hàng hải phù với các quy định của luật lệ quốc tế. Các quy định này cần được tất cả các bên tôn trọng”, Delhi cho biết.
Ðây là lần đầu tiên xảy ra một sự việc như vậy của Hải quân Ấn Độ và Trung Quốc tại Biển Ðông.

Vụ việc diễn ra giữa những lo ngại trong khu vực về tuyên bố chủ quyền hàng hải của Bắc Kinh.

Một loạt các hành động của Trung Quốc tại Biển Đông đã gây lo ngại cho các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Việt Nam và Philippines.

Trong những tháng gần đây, Philippines và Việt Nam lên tiếng phản đối những hành động quấy nhiễu của Trung Quốc các tàu thăm dò dầu khí và các ngư dân tại Biển Đông.

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton hồi tháng 7 đã lên án những hành động “hăm dọa” tại Biển Đông.

Một báo cáo của Lầu Năm Góc hồi tuần trước nói rằng Trung Quốc đang ngày càng tập trung vào quyền lực hải quân trong khi đòi chủ quyền đối với nhiều khu vực rộng lớn trên Biển Đông.

Phía Trung Quốc thì khẳng định chương trình hiện địa hóa quân đội của họ chỉ nhằm mục đích phòng thủ.
 
An Bình
Theo AFP

Huỳnh Ngọc Sĩ được giảm án còn 20 năm tù !

Dù luôn kêu oan nhưng đến giờ phút cuối ông Sĩ đã tha thiết xin Tòa được hưởng án nhẹ nếu... phạm tội. Gia đình ông này cũng đã khắc phục 3 tỷ đồng thu lợi bất chính nên được HĐXX xem là những tình tiết giảm nhẹ mới.


> Huỳnh Ngọc Sĩ được đề nghị giảm án vì nộp 3 tỷ đồng /Huỳnh Ngọc Sĩ: 'Tôi đã bị PCI đổ tội'

Ngày 1/9, Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại TP HCM đã chấp nhận một phần đơn kháng cáo, tuyên giảm hình phạt từ chung thân xuống còn 20 năm (mức cao nhất của án tù có thời hạn) đối với ông Huỳnh Ngọc Sĩ (nguyên giám đốc BQL dự án Đại lộ Đông - Tây) về tội "nhận hối lộ".

Tòa cũng chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phan Thị Lịch Sa (vợ ông Sĩ), giải tỏa kê biên một căn nhà, tiếp tục kê biên căn nhà còn lại của vợ chồng ông Sĩ để đảm bào thi hành án.

Trước đó, trong lời nói sau cùng, ông Sĩ vẫn kêu oan và kể lể nhiều đóng góp của bản thân và gia đình cho xã hội, cho đất nước. Nhưng đến phút cuối, ông này lại cho rằng: "Trong trường hợp Tòa vẫn tuyên bị cáo có tội thì xin xem xét lại mức án cho bị cáo. Mức án 20 năm tù mà VKS đã đề nghị giảm xuống cho bị cáo vẫn còn quá nặng".
Ông Sĩ căng thẳng trước giờ tuyên án. Ảnh: Vũ Mai

Theo HĐXX, vụ án tham nhũng của Huỳnh Ngọc Sĩ được phát hiện từ tài liệu do phía Nhật Bản cung cấp và những chứng cứ điều tra khách quan của Bộ công an. Đây là hai nguồn chứng cứ hoàn toàn hợp pháp, phù hợp với nhiều tài liệu khác.

Theo đó, khi biết Nhật Bản sẽ tài trợ vốn ODA cho dự án này, các quan chức PCI quyết định phải đưa hối lộ cho các “sếp” phụ trách để nhận được các gói thầu tư vấn dự án và có thể rút tiền từ ngân hàng đại diện chính phủ Nhật Bản làm vốn thực hiện gói thầu.

Do vậy, ban lãnh đạo PCI tìm cách tiếp cận ông Huỳnh Ngọc Sĩ (giám đốc Ban quản lý dự án Đại lộ Đông - Tây, là người có quyền quyết định những vấn đề liên quan đến dự án) để thỏa thuận "chung chi" kèm theo những yêu cầu: Được "dễ dãi" khi đấu thầu, hưởng mức lương chuyên gia tư vấn nước ngoài cao hơn quy định; được chỉ định thầu, thanh toán tiền nhanh. Theo đó, PCI chấp nhận "lót tay" cho ông Sĩ 10% giá trị hợp đồng lần thứ nhất (tương đương 900.000 USD) và 11% hợp đồng lần 2 (tương đương 1.700.000 USD).

HĐXX cho rằng, dù ông Sĩ không thừa nhận đã thỏa thuận nhận tiền để làm những việc có lợi cho PCI mà chỉ làm đúng theo trách nhiệm, theo thẩm quyền, nhưng rõ ràng ông này đã khiến mức lương của chuyên gia nước ngoài cao hơn, việc làm này là có lợi cho PCI.

"Tại sao BQL dự án không tổ chức đấu thầu mà lại chỉ định thầu cho PCI? Sao không chỉ định nhà thầu khác? Phải chăng vì nhận tiền từ PCI và phải làm đúng theo yêu cầu của họ? Vô tình hay cố ý?... HĐXX khẳng định bị cáo đã làm lợi cho PCI theo đúng yêu cầu của họ sau khi đưa tiền", bản án nêu.

Theo tòa, PCI tổng cộng đã 7 lần đưa tiền cho Huỳnh Ngọc Sĩ và cơ quan điều tra chỉ chứng minh được một lần. Mọi căn cứ có trong vụ án, lời khai những người liên quan, nhân chứng đều khai rất rõ về lần “đi đêm” này. Những lời khai phù hợp về thời gian, địa điểm, số tiền rút từ ngân hàng (140.000 USD mang từ ngân hàng về, 40.000 USD đổi từ tiền Việt Nam, 80.000 USD mang từ Nhật sang); họ cũng nhận diện được ông Sĩ qua ảnh và mô phỏng phòng làm việc của "cựu" giám đốc dù chỉ qua Việt Nam một lần…

"Cấp sơ thẩm xác định Huỳnh Ngọc Sĩ đã nhận 262.000 USD là có căn cứ. Bị cáo nhận số tiền này khi đang giữ chức vụ giám đốc BQL dự án Đại lộ Đông - Tây, bị cáo đã lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để làm lợi cho PCI. Cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội nhận hối lộ là đúng, không oan", HĐXX nhận định.

Ông Sĩ đã thoải mái hơn nhiều sau phiên tòa phúc thẩm được giảm án. Ảnh: Vũ Mai. 

Cũng theo Tòa phúc thẩm, tội danh mà ông Sĩ phạm phải là tội nguy hiểm nhất trong các tội tham nhũng, gián tiếp xâm hại lợi ích của nhân dân, gây bất bình dư luận, số tiền phạm tội là đặc biệt lớn (262.000 USD tương đương hơn 5 tỷ đồng)... Cấp sơ thẩm phạt ông Sĩ mức án chung thân là thỏa đáng.

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình ông Sĩ đã nộp 3 tỷ đồng thu lợi bất chính. Dù suốt quá trình điều tra và xét xử ông Sĩ đều kêu oan, phủ nhận mọi tội lỗi nhưng trong lời nói sau cùng ông Sĩ lại nói "nếu có tội thì xin được giảm nhẹ hình phạt". Bản thân bị cáo có nhiều cống hiến trong hơn 30 năm công tác, gia đình có công cách mạng... Từ đó, HĐXX cho rằng chỉ cần áp dụng mức án cao nhất của hình phạt tù có thời hạn đối với ông Sĩ.

Về phần kháng cáo của bà Sa, HĐXX cho rằng cấp sơ thẩm đã xử đúng khi kê biên 2 căn nhà của vợ chồng ông Sĩ. Nhưng hiện nay bà Sa đã nộp 3 tỷ đồng thi hành án (trong số hơn 5 tỷ đồng ông Sĩ phải nộp) mà giá trị thực của các căn nhà đến hơn 10 tỷ. Vì vậy chỉ cần kê biên một căn cũng đủ đảm bảo thi hành án.
Ngoài vụ án này, ông Sĩ đang thụ án 6 năm tù về tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ do có sai phạm về tài chính trong quản lý dự án đại lộ Đông - Tây.
Vũ Mai

Việt Nam không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền!

TT - Đối thoại chiến lược quốc phòng an ninh Việt - Trung cấp thứ trưởng lần 2 đã diễn ra ngày 28-8 tại Bắc Kinh dưới sự đồng chủ trì của trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và thượng tướng Mã Hiểu Thiên, phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc.
 
Tại đối thoại, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và thượng tướng Mã Hiểu Thiên đã thẳng thắn trao đổi những vấn đề còn khác biệt trong quan hệ hai nước. Theo thượng tướng Mã Hiểu Thiên, hiện nay điểm bất đồng và nhạy cảm nhất trong quan hệ hai nước là tranh chấp chủ quyền ở biển Đông, hai nước cần xử lý thỏa đáng vấn đề này vì đại cục quan hệ Việt - Trung và ổn định khu vực: “Hòa bình hai bên đều có lợi. Đối đầu hai bên đều thiệt hại” - thượng tướng Mã Hiểu Thiên nói.
Khẳng định Việt Nam luôn coi trọng quan hệ đại cục với Trung Quốc và mong muốn tìm được giải pháp “cùng thắng”, trung tướng Nguyễn Chí Vịnh đã nêu rõ vấn đề biển Đông có ba khía cạnh khác nhau nhưng liên quan mật thiết, đó là Tuyên bố chủ quyền của các nước liên quan, Xử lý mối quan hệ giữa Việt Nam - Trung Quốc, Xử lý trên các diễn đàn đa phương.

Tôn trọng luật pháp quốc tế
Việt Nam và Trung Quốc có nhiều tuyên bố chủ quyền vào nhiều thời điểm, nội dung và phạm vi khác nhau. Giải quyết vấn đề phải tôn trọng lịch sử nhưng dù thế nào đi chăng nữa cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cho rằng các vấn đề trên biển Đông cần được xử lý theo luật pháp quốc tế, đó là những vấn đề mang tính quốc tế theo Luật biển phải giải quyết trên bình diện quốc tế, những vấn đề liên quan đến nhiều nước cần phải giải quyết giữa những nước liên quan, những vấn đề liên quan đến hai nước cần giải quyết song phương.

Những tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc cần giải quyết hai nước với nhau, theo luật pháp quốc tế và công khai minh bạch: “Việt Nam không có ý định quốc tế hóa các vấn đề giữa Việt Nam và Trung Quốc vì chính lợi ích của chúng tôi” - trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nói. Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng chia sẻ: để bảo vệ và xây dựng đất nước chỉ có một con đường là giữ gìn độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ và quan hệ tốt với cộng đồng thế giới, không thể có những điều đó nếu dựa vào nước này để chống nước kia: “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nhưng nếu Việt Nam cần sự ủng hộ, đồng cảm, hợp tác và phát triển thì còn có ai hơn một nước Trung Quốc xã hội chủ nghĩa láng giềng, với hơn 1 tỉ 350 triệu dân, đang phát triển, có vị thế và uy tín ngày càng cao trên thế giới, một khi Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền của Việt Nam và mong muốn Việt Nam cùng phát triển?”.

Công khai minh bạch
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu bật việc cần phải công khai, minh bạch trên các diễn đàn để nhân dân hai nước và cộng đồng quốc tế hiểu rõ bản chất vấn đề biển Đông trong mối quan hệ hữu nghị tổng thể giữa hai nước. “Có thông tin đầy đủ và chính xác là nhu cầu của hơn 80 triệu người dân Việt Nam và hơn 1 tỉ 350 triệu người dân Trung Quốc - Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu và nhấn mạnh thêm - Một thực tế hiển nhiên là Trung Quốc cam kết không lấy đất, lấy biển của Việt Nam và Việt Nam cũng không bao giờ nhượng bộ vô nguyên tắc về chủ quyền. Và Việt Nam cũng không bao giờ dựa vào bất kỳ một nước nào để chống Trung Quốc!”.

Việt Nam sẵn sàng hợp tác cùng phát triển với Trung Quốc ở những khu vực thật sự có tranh chấp theo luật pháp quốc tế quy định, và về lâu dài sẽ tìm giải pháp xử lý mà hai bên có thể chấp nhận được, nhưng “trong lúc chưa phân định được, hai bên tuyệt đối không được sử dụng vũ lực và thậm chí cũng không được nghĩ đến việc sử dụng vũ lực” - trung tướng Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh.
MỸ LOAN (Theo TTXVN)

ĐÀI TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI VI PHẠM ĐIỀU KHOẢN NÀO CỦA LUẬT BÁO CHÍ?

Phạm Viết Đào
Căn cứ vào khoản 4 Điều 10 của Luật Báo chí quy định về Những điều không được thông tin trên báo chí: “Không được đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống nhằm xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân”; Bản tin của Đài truyền hình Hà Nội tối 22/8 đã đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của các tổ chức và cá nhân sau đây:

1/ Cơ quan Công an Hà Nội và các cơ quan an ninh Việt Nam

- Nếu đúng có các thế lực thù địch có âm mưu lật đổ chính quyền, giật giây những hoạt động biểu tình vừa qua tại Hà Nội; thế mà các cơ quan chức năng của Hà Nội và của Việt Nam không phát hiện ra được, điều này có nghĩa là năng lực chuyên môn của các cơ quan này có vấn đề; hoặc phát hiện ra mà lại không nghiêm trị tức là can tội bao che, dung túng…Nếu quả có điều đó thì thật sự đó là một vấn đề hệ trọng liên quan tới an ninh quốc gia?

- Nếu các hoạt động biểu tình vừa qua tại Hà Nội không do thế lực thù địch, phản động nào giật giây, đây chỉ là hành động tự phát, bột phát của một số trí thức, thanh niên; nếu đúng như vậy, (bản thân Giám đốc Công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh trước đó 1 tuần đã từng tuyên bố: biểu tình ở Hà Nội là hành động biểu thị lòng yêu nước nên công an Hà Nội không tiến hành trấn áp, bắt giữ mà chỉ theo dõi để giữ trật tự);
Trong thực tế, các bộ phận chức năng của Công an Hà Nội cũng đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ cần thiết như: theo dõi, giám sát, điều tra, tạm giữ để điều tra, khoanh vùng đối tượng để theo dõi…nhưng cho đến khi Đài truyền hình Hà Nội đưa lên sóng thông tin tối 22/8, phía cơ quan công an chưa hề đưa ra bất kỳ lệnh khởi tố điều tra, khởi tố bị can nào đối với những người tham gia biểu tình. Do đó, việc đưa tin như Đài truyền hình Hà Nội trong bản tin 22/8 là một việc hoang báo, gây hoang mang dư luận không cần thiết và nguy hiểm, làm ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, du lịch, sinh hoạt bình thường tại Thủ đô…

2/ Căn cứ vào Nghị định 02/NĐ-TTG/2011 thì TBT-TGĐ Đài truyền hình Hà Nội đã vi phạm Khoản e, Mục 1 Điều 7: “Đăng phát ảnh của cá nhân mà không được sự đồng ý của người đó hoặc thân nhân của người đó…”

Trong chương trình tối ngày 22/8 Đài truyền hình Hà Nội đã đưa lên sóng hình ảnh của một số người khá rõ nét mặt, đó là các ông: Nguyên Ngọc, Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Khải và một số người mà người viết bài này không biết tên…

Hành vi này là hành vi vừa vi phạm Nghị định 02, là Nghị định cụ thể và cá thể hóa các hành vi vi phạm Luật báo chí và các hình thức xử phạt tương đương…Mặt khác hình ảnh của các cá nhân này đã được Đài sử dụng để minh họa một cách lập lờ của một số thông tin mà Đài đã đưa; đó là việc đưa ra thong tin: một số thế lực phản động đã kích động người biểu biểu tình…Đây là “ đưa tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống xúc phạm danh dự của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của công dân…” của những người có hình ảnh được đưa kèm vào bản tin…

Hành vi này của TBT Đài truyền hình Hà Nội đã bị một số vị lên tiếng, gửi đơn khiếu nại và Đài đã có công văn giải trình về việc này nhưng không hề nhận ra sai phạm: TBT Đài truyền hình Hà Nội đã vi phạm Luật Báo chí như đã phân tích ở trên. Bởi theo Khoản 3 Điều 13 của Luật Báo chí định: “Người đứng đầu cơ quan báo chí lãnh đạo và quản lý cơ quan báo chí về mọi mặt, bảo đảm thực hiện tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí và chịu trách nhiệm trước thủ trưởng quy cơ quan chủ quản và trước pháp luật về mọi hoạt động của cơ quan báo chí…” Theo quy định này, TBT có sử dụng tin bài, ý kiến của bất kỳ ai thì đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc đưa các tin bài này !

Trong công văn số 1111 ký ngày 31/8/2011 của Tổng Giám đốc-Tổng Biên tập Đài truyền hình Hà Nội gửi các ông Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Huệ Chi,Nguyễn Quang A và một số người gửi đơn khiếu nại về bản tin tối 22/8/2011; TBT Đài truyền hình có giải trình một số nội dung nhưng không thừa nhận việc vi phạm Luật Báo chí của Đài, không cải chính xin lỗi những thông tin đã phát sai là một vi phạm mới của TBT-TGĐ Đài truyền hình Hà Nội…

Điều 9 của Luật Báo chí quy định về việc Cải chính trên báo chí:

1. Báo chí khi thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân thì phải đăng, phát sóng lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả. Trong trường hợp có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng kết luận đó.

2. Tổ chức, cá nhân có quyền phát biểu bằng văn bản về những nội dung đề cập trên báo chí khi có căn cứ cho rằng báo chí đã thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến mình. Cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân đối với thông tin đã được đăng, phát sóng trên báo chí của mình.

Lời phát biểu của tổ chức, cá nhân không được xúc phạm cơ quan báo chí, danh dự, nhân phẩm của tác giả.

Kể từ khi nhận được lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì trong thời hạn năm ngày đối với báo ngày, đài phát thanh, đài truyền hình, mười ngày đối với báo tuần, trong số ra gần nhất đối với tạp chí, cơ quan báo chí phải đăng, phát sóng lời phát biểu đó.

3. Lời cải chính, xin lỗi của cơ quan báo chí, của tác giả và lời phát biểu của tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được đăng, phát sóng tương xứng với thông tin do báo chí đã đưa ra theo quy định của Chính phủ.

4. Trong trường hợp cơ quan báo chí không cải chính, xin lỗi hoặc cải chính, xin lỗi không đúng các quy định của Luật này, không đăng, phát sóng lời phát biểu của tổ chức, cá nhân thì tổ chức, cá nhân đó có quyền khiếu nại với cơ quan chủ quản báo chí, cơ quan quản lý nhà nước về báo chí hoặc khởi kiện tại Tòa án.

Như vậy, Tổng Giám đốc-TBT Đài truyền hình Hà Nội đã thiếu nghiêm túc, “ ngoan cố “ coi thường luật pháp và cửa quyền trong việc thực hiện các quy định của luật pháp về chế độ thông tin trên báo chí…

Trong khi đó thì theo Basam, thông tin cho biết:” Không biết qua đường nào, ông Phạm Quang Nghị (Bí thư Thành ủy Hà Nội) đã biết được thư này và tối 25-8 đã đến nhà tôi, (tức nhà văn Nguyên Ngọc) trong khi tôi đi vắng. Sáng 26-8 ông ấy đã gọi điện thoại cho tôi, nói rằng có thể Đài Phát thanh-Truyền hình Hà Nội “đã non nớt” trong khi phát phóng sự (về những người biểu tình)”…
 
(Qua cử chỉ này cho thấy ông Phạm Quang Nghị đã có thái độ ” cầu thị ” theo kiểu ” con dại cái mang “; Đáng tiếc TGĐ-TBT Đài truyền hình Hà Nội vẫn cứ  tỏ ” đầu bò, đầu bướu ” ???)

3/ Kết luận:
 - TGĐ-TBT Đài truyền hình Hà Nội phải chịu trách nhiệm phát ý kiến cải chính, xin lỗi những thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự của các tổ chức và cá nhân: Công an thành phố Hà Nội, các ông Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Văn Khải, Nguyên Ngọc và những người nhìn rõ mặt trong bản tin tối 22/8/2011…

- Thanh tra Bộ Thông tin-Truyền thông tiến hành làm thủ tục xử phạt vi phạm hành chính đối với TGĐ –TBT Đài truyền hình Hà Nội theo các quy định tại Nghị định 02/NĐ-TTG/2011.

- TGĐ-TBT Đài truyền hình Hà Nội bố trí gặp mặt những người bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm vì đã đưa hình ảnh của họ kèm vào bản tin 22/8, một bản tin đưa những thông tin chưa kiểm chứng, chưa được cơ quan chức năng xác nhận; TBT-TGĐ tiến hành thương lượng với những người bị hại mức bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm theo các quy định của pháp luật hiện hành…

Nếu sự bồi thường thiệt hại này không được những người bị thiệt hại chấp nhận, họ có thể đưa vụ việc này ra tòa Hành chính để yêu cầu Tòa phân xử…(1)

———
(1) Cách đây 6 năm, một tờ báo điện tử đưa tin về vụ án Bùi Tiến Dũng có một chi tiết không đủ cơ sở: đó là chuyện Bùi Tiến Dũng tặng cho 1 cô bồ 1 chiếc ôt…Cô này đã kiện lại cuối cùng tờ báo kia phải cải chính, xin lỗi, bồi thường danh dự nghe đâu 200 triệu…
Đưa tin sai liên quan tới danh dự của người ta liên quan tới vốn tự có không chính xác còn bị phạt 200 triệu, còn đây lại liên quan tới chuyện bán nước…Hậu quả chắc to…

Không thể mài quyền lực để tư lợi

Đôi lời: Một độc giả mách bài báo này và gửi cho bản sao vì nó vừa được Tiền phong đưa lên hồi sáng, nhưng tới chiều thì không thấy nữa. BS vội tìm trên mạng, may mà còn có Tạp chí Pháp lý đăng lại. A, đây rồi! 18h30′: Một số độc giả cho biết, nó đã xuất hiện trở lại.

GS-TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý:

Không thể mài quyền lực để tư lợi


Ngày đăng bài: 1/ 9/ 2011
Nhân dịp Quốc khánh 2- 9, GS- TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) trao đổi với PV xung quanh câu chuyện xây dựng Nhà nước pháp quyền và việc sửa đổi Hiến pháp sắp tới.

 GS TS Lê Hồng Hạnh, Viện trưởng Viện Khoa học Pháp lý:  Không thể mài quyền lực để tư lợi
GS- TS Lê Hồng Hạnh
Dân chủ là mục tiêu tối thượng
Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên khẳng định việc xây dựng “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, ông có thể nói cụ thể về mục tiêu này?


Thực ra, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập từ trước khi nhà nước kiểu mới ra đời. Khi chỉ đạo và trực tiếp soạn thảo Hiến pháp 1946, Bác Hồ đã cố gắng thể hiện sâu sắc những nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền trong điều kiện của đất nước vừa thoát khỏi chế độ nửa thực dân, nửa phong kiến.


Mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN chính là tạo ra một nền dân chủ thực sự. Dân chủ là nguồn tài sản, nguồn động lực vô cùng to lớn và không thể thay thế đối với sự phát triển của bất cứ đất nước nào. Chúng ta thử điểm xem trên thế giới này có đất nước nào phồn thịnh, giàu mạnh, bình đẳng mà không dựa trên nền dân chủ.


Bác Hồ định nghĩa dân chủ rất cụ thể và chính xác trong những bối cảnh khác nhau. Trong Hiến pháp 1946, mục tiêu dân chủ được thể hiện ngay trong tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong Điều 1 Hiến pháp 1946 do Bác chỉ đạo biên soạn đã thể hiện mục tiêu dân chủ như sau: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.


Không hề có sự ngẫu nhiên trong thứ tự của từ “Dân chủ” trong tên nước. Đó là tuyên ngôn về mục tiêu của Nhà nước Việt Nam lúc đó. Không có nền dân chủ thì không thể có nền cộng hòa. Có được dân chủ thì có được tất cả. Ở khía cạnh này, nền dân chủ thực sự chính là mục tiêu tối thượng, mục tiêu cuối cùng của Nhà nước pháp quyền XHCN.


Để hoàn thiện nhà nước pháp quyền, cần những yêu cầu gì, thưa ông?


Nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến nhà nước dựa trên pháp luật mà phải là pháp luật thể hiện ý chí của đại đa số nhân dân. Khó có thể coi là Nhà nước pháp quyền khi mà lãnh đạo Nhà nước có thể quyết những việc “động trời” chỉ dựa vào ý chí của cá nhân, của một doanh nghiệp hay một ngành, mà không tính đến các qui định của pháp luật.


Sẽ là nguy cơ nếu những quyết định gây thiệt hại cho nền kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống và quyền tự do dân chủ của nhân dân được đưa ra không dựa trên cơ sở luật định và hiến định. Vì thế, xây dựng Nhà nước pháp quyền cần phải có ít nhất những giải pháp sau đây:


Thứ nhất, phải xây dựng được một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch, có khả năng hạn chế tối đa sự lạm quyền của cán bộ, công chức nhà nước, đảm bảo tốt nhất quyền tự do dân chủ của nhân dân.


Thứ hai, phải có một hệ thống cơ quan Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả, và tuân theo pháp luật, chỉ làm những việc mà pháp luật qui định và đặc biệt là biết vì dân và sợ dân. Một bộ máy Nhà nước nếu chỉ bao gồm các quan chức hoạt động và hành xử dựa trên tư duy “trị dân”, vì lợi ích riêng thì không có khả năng thực hiện dân chủ.


Thứ ba, trong điều kiện một Đảng cầm quyền, cần phân định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động của Bộ máy Nhà nước. Đảng hóa Nhà nước hay nhà nước hóa Đảng không thể giúp thực hiện những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền.


Không thể “mài quyền lực” để tư lợi
Ông từng cho rằng, điều đầu tiên để đảm bảo dân chủ là bộ máy nhà nước và con người. Bộ máy nhà nước phải dân chủ để dân có quyền quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước. Còn nếu hô khẩu hiệu chung chung, những giải pháp chung chung thì không tạo ra được bước phát triển cho đất nước trong những năm tới?


Đúng vậy! Dân trao cho Nhà nước quyền lực. Nhà nước là hệ thống các cơ quan tổ chức với những con người cụ thể được lựa chọn để thay dân thực hiện quyền lực. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là quyền lực là thứ dễ làm con người tha hóa, đặc biệt những người đã nắm quyền lực lại càng dễ tha hóa hơn. Điều này càng dễ xảy ra khi thiếu sự kiểm soát hiệu quả cả từ bên trong Nhà nước lẫn từ bên ngoài xã hội.


Không thể để đất nước trong tình trạng hễ ai có chút quyền lực là cố tìm cách “mài quyền lực” để làm lợi. Ký duyệt dự án, ký cấp đất, ký quyết định bổ nhiệm cán bộ, xét xử, truy tố đều có thể bị “mài bán”. Dân sẽ như thế nào sau khi dự án được thực hiện, đất được cấp, cơ quan tổ chức được điều hành quản lý như thế nào nếu những cán bộ, công chức như vậy được bổ nhiệm.


Như vậy là cần có sự thay đổi trong phương thức điều hành, thưa ông?
 
Đúng vậy! Cách thức điều hành quản lý Nhà nước cần thay đổi ở nhiều phương diện. Không thể để tình trạng doanh nghiệp, cá nhân nào đó tiếp cận lãnh đạo xin “bút phê” hay “ý kiến chỉ đạo” thì cầm chắc dự án của mình được duyệt hay việc của mình được giải quyết, thậm chí không cần phải qua các bước thẩm tra, thẩm định mà pháp luật qui định.
 
Hậu quả ra sao thì những người đặt bút phê vào đó đâu hề chịu trách nhiệm. Chỉ có dân là khổ với những “lưu bút” như vậy thôi. Điều này có nghĩa là cán bộ, công chức vẫn quen làm việc với những qui trình “gia đình”, bỏ qua các qui trình luật định. Tham nhũng cũng từ cách thức điều hành như vậy mà ra.


Quan tâm đến niềm tin của dân
Muốn cải cách gì thì cuối cùng khâu quyết định vẫn là công tác cán bộ, thưa ông?
 
Bác Hồ từng nói: “Cán bộ là gốc của công việc”. Con người là nhân tố quyết định và vì vậy phát triển nguồn nhân lực được coi đó là một trong 3 điểm đột phá của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020. Tuy nhiên, cách mà các cơ quan Đảng và Nhà nước ta tuyển chọn và sử dụng cán bộ cần thay đổi cơ bản mới có thể thực hiện được đột phá này.


Chính sách cán bộ hiện nay được xác định là chọn người tài đức. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc lựa chọn cán bộ khó đạt mục tiêu này. Quan hệ thân quen, tiền bạc đều có dấu ấn lớn trong quá trình lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo trong không ít các cơ quan, tổ chức Nhà nước, nhất là những nơi nắm giữ và có quyền phân phối các nguồn lực của đất nước.


Một điểm đáng ngại khác nữa cần nhận thấy là việc sử dụng cán bộ. Đừng bắt một con người gánh vác quá nhiều trọng trách. Có người hỏi tôi: “Ông nghĩ gì khi hiện nay trong Quốc hội có 38 doanh nhân?” Thật khó trả lời cho đúng song tôi nghĩ rất nhiều về vấn đề sau: Không hiểu các doanh nhân sẽ kết hợp như thế nào vai trò của một đại biểu Quốc hội- một chính khách chuyên lo về xây dựng chính sách, pháp luật vĩ mô với vai trò của chủ doanh nghiệp mong muốn tối đa hóa lợi nhuận. Con số nêu trên đồng nghĩa với tính chuyên trách, chuyên nghiệp của đại biểu Quốc hội không được tăng cường.


Ngoài ra, niềm tin của dân đối với cán bộ hiện nay cũng có vấn đề. Muốn dân tin, Nhà nước cần có được những công chức biết gần dân, thương dân. Không có niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, không có sức mạnh của nhân dân được tạo nên từ niềm tin đó thì không thể phát triển đất nước, không thể bảo vệ được chủ quyền đất nước.


Vậy theo ông để cộng hưởng sức mạnh tổng hợp bảo vệ độc lập và chủ quyền ấy, chúng ta cần phát huy tối đa quyền của dân như thế nào trong việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sắp tới?


Đất nước đang đứng trước những thách thức vô cùng lớn. Chủ quyền quốc gia có nguy cơ bị xâm phạm, nền kinh tế đang trong sự khủng khoảng, tham nhũng chưa được đẩy lùi, đời sống nhân dân xuống thấp. Giúp đất nước vượt qua những thử thách đó chỉ có thể là nhân dân được đoàn kết lại trong niềm tin đối với Đảng và Nhà nước.


Hiến pháp cực kỳ quan trọng nhưng không phải có Hiến pháp là có ngay sức mạnh tổng hợp và sự đoàn kết của cả dân tộc. Song với tư cách là cương lĩnh chính trị- pháp lý tối cao của đất nước, Hiến pháp có thể giúp phát huy tối đa quyền lực của nhân dân bằng việc tuyên bố quyền lực Nhà nước tối cao thuộc về nhân dân và tập trung ở nhân dân, tạo ra những cơ chế pháp lý thích hợp để nhân dân thực hiện quyền lực tối cao của mình.
 
Phải thấy rằng không có cơ quan Nhà nước nào là tối cao trước nhân dân cả. Các cơ quan quyền lực Nhà nước đều chỉ thực hiện những sứ mệnh khác nhau do nhân dân ủy thác. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi sắp tới cần phải qui định cả quyền phúc quyết, tức quyền quyết định của nhân dân đối với những vấn đề trọng đại của đất nước chứ không đơn thuần chỉ là trưng cầu dân ý.


Trong Hiến pháp sửa đổi sắp tới cần gỡ hết những qui định có thể dẫn đến các hành vi mà về bản chất là vi hiến. Nói ngắn gọn thì Hiến pháp sửa đổi phải thực sự hướng tới những đảm bảo thực chất cho quyền tự do dân chủ của công dân.


Xin cám ơn ông!


Ngọc Tiến thực hiện
Theo tiền phong

Giá trị đích thực của nền độc lập

Cập nhật: 07:00 GMT - thứ năm, 1 tháng 9, 2011

Ông Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945
Việt Nam kỷ niệm 66 năm ngày Tuyên ngôn Độc lập

Ngày nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã giành được độc lập và có chủ quyền.

Để giành được độc lập dân tộc, nhiều dân tộc trên thế giới đã phải hy sinh xương máu của nhiều thế hệ.
Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại.

Giá trị đích thực của nền độc lập là nhân dân có quyền làm chủ đất nước của mình bằng cách lựa chọn hay thay đổi quốc hội, chính phủ thông qua cuộc bầu tự do và công bằng.

Nhân dân có tự do ngôn luận, có quyền làm báo chí tư nhân, có quyền lập đảng, lập hội, hội họp, có quyền biểu tình hòa bình mà không bị đàn áp, bắt bớ…

Những dân tộc, những quốc gia may mắn trên thế giới là ngay sau khi giành được độc lập, họ đã tiến hành dân chủ hóa xã hội và xây dựng lên một hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, tôn trọng phẩm giá con người và các giá trị của quyền con người.

Trên nền tảng căn bản đó, nền kinh tế của họ phát triển đúng hướng và mạnh mẽ nên đã đảm bảo cho nhân dân các nước đó có cuộc sống sung túc, quốc gia hùng mạnh về kinh tế, chính trị và quân sự.

Xã hội phát triển hài hòa và ổn định giúp cho người được hưởng thụ những giá trị đích thực của một quốc gia độc lập. Ví dụ như những nước trong khu vực châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,…

Bức tranh Đông Âu

Có những dân tộc, quốc gia không may mắn thì sau khi giành được độc lập, những lực lượng lãnh đạo cách mạng đã phản bội lại nhân dân, họ đã không thực hiện dân chủ hóa xã hội, không xây dựng hệ thống chính trị dân chủ đa đảng, mà xây dựng nên một chính thể có thể là chính quyền độc tài, độc tài quân sự, hay chế độ độc đảng toàn trị.
"Nền độc lập của một quốc gia là vô giá, nhưng điều quan trọng hơn cả là nhân dân phải được hưởng những thành quả đích thực mà nền độc lập đó mang lại. "
LS Nguyễn Văn Đài

Ở trong các chế độ này thì các quyền con người không được tôn trọng và hầu hết các quyền con người về chính trị bị hạn chế hoặc tước đoạt.

Ví dụ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí: khi người dân chỉ trích hay phê phán chính quyền thì bị qui chụp tội danh tuyên truyền chống Nhà nước, quyền tự do làm báo của công dân bị tước đoạt nên không có các tờ báo tư nhân; khi người dân thực hiện quyền lập đảng, lập hội hay tham gia các đảng phái thì bị qui chụp tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền; khi người dân thực thi quyền biểu tình thì bị qui chụp tội danh phá rối trật tự nơi công cộng hay tội chống người thi hành công vụ…

Hệ quả là nhân dân các quốc gia này phải tiếp tục tiến hành cuộc cách mạng dân chủ để thay đổi các chế độc tài, độc đảng toàn trị bằng một chế độ dân chủ, tôn trọng các quyền con người.

Ví dụ ở các nước Đông Âu: sau Thế chiến thứ II, một loạt các nước Đông Âu thoát khỏi hiểm họa của chủ nghĩa phát xít và giành được độc lập.

Thay vì tiến hành dân chủ hóa xã hội, tôn trọng các quyền con người thì đảng cộng sản ở các nước này thực hiện chuyên chính vô sản, xây dựng chế độc đảng toàn trị.

Sau nhiều thập kỷ bị mất quyền làm người thì vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, nhân dân các nước đông Âu đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ mà người ta còn gọi là Cách mạng nhung để thay thế các chế độc đảng toàn trị bằng các chế độ dân chủ đa đảng.

Kết quả là ngày nay các nước Đông Âu đang dần hội nhập toàn diện với các nước Tây Âu về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.

Độc lập và dân chủ

Ở các nước Trung Đông và Bắc Phi hầu hết đều là các quốc gia độc lập, nhưng nhiều chính thể ở các quốc gia đó là chính phủ độc tài hoặc độc đảng toàn trị.

Biểu tình ở Libya
Người dân Libya biểu tình chống chế độ độc tài

Sau nhiều thập kỷ phải chịu đựng sự cai trị hà khắc của các chế độ này thì gần đây nhân dân các nước Ai Cập, Tunisia đã đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ và đã thành công.

Nhân dân Libya cũng sắp thành công và sớm hay muộn thì cuộc cách mạng dân chủ ở Yemen và Syria cũng sẽ thành công.

Tuy nhân dân các nước này sẽ gặp những khó khăn ngắn hạn trước mắt, nhưng chắc chắn cuối cùng những giá trị đích thực của độc lập sẽ đến với họ.

Trên thế giới có gần 200 quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhưng không phải tất cả nhân dân các nước đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập.

Độc lập dân tộc phải gắn liền với tiến trình dân chủ hóa xã hội và tôn trọng các quyền con người thì nhân dân mới từng bước được hưởng những giá trị của nền độc lập.

Còn có độc lập dân tộc mà không có dân chủ thì nhân dân đã làm cuộc cách mạng vô ích để thay thế sự cai trị của giặc ngoại xâm bằng sự cai trị độc ác hơn và tàn bạo hơn của giặc nội xâm.

Ngày 2/9/2011, chúng ta sẽ kỷ niệm 66 năm ngày độc lập.

Quí vị nghĩ gì về hiện tình đất nước? Chúng ta phải làm gì để tất cả mọi người dân Việt Nam đều được hưởng những giá trị đích thực của nền độc lập?

Bài viết phản ánh quan điểm của tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang thi hành lệnh quản chế tại gia ở Hà Nội.

BBC: TRUYỀN HÌNH HÀ NỘI KHÔNG XIN LỖI

Cập nhật: 03:48 GMT - thứ năm, 1 tháng 9, 2011
Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và nhà văn Nguyên Ngọc trong cuộc biểu tình hôm 14/8
Nhà văn Nguyên Ngọc và Giáo sư Huệ Chi đã tham gia một số cuộc biểu tình
Tổng giám đốc Đài PT-TH Hà Nội (HTV) vừa phản hồi khiếu nại của nhóm người biểu tình chống Trung Quốc, nói đã 'rút kinh nghiệm' nhưng không xin lỗi.
Trong chương trình Thời sự hàng ngày từ 18:30 tới 19:00 hôm 22/8/2011, đài này đã phát một phóng sự nói về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, trong đó có trích phỏng vấn một số người dân.
Nội dung phóng sự, cũng như ý kiến của bốn người dân được phỏng vấn, chỉ trích các cuộc biểu tình và người tham gia biểu tình, thậm chí gọi họ là "phần tử phản động".
Đặc biệt, trong một khuôn hình, các phóng viên HTV chiếu cận mặt ba nhân sỹ nổi tiếng trong nước là nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Tiến sỹ Nguyễn Văn Khải.
Cùng lúc, phát thanh viên đọc lời bình: "... việc tham gia biểu tình lại trở thành tấm bia che chắn cho các thế lực thù địch phản động đằng sau đang ráo riết chia rẽ khối đại đoàn kết, kích động tư tưởng hằn thù dân tộc..."
Ngày 26/8 một nhóm người tham gia biểu tình, trong có hai trong ba vị nêu trên, đã gửi thư tới Tổng giám đốc HVT yêu cầu cải chính và xin lỗi.
Thư viết rằng nội dung phóng sự của HTV "rõ ràng đã xuyên tạc, vu khống, xúc phạm đến chúng tôi".

Không cải chính

Đài Hà Nội, sau khi nhận được thư khiếu nại, đã tổ chức gặp mặt đại diện cho nhóm người biểu tình và cuối cùng ngày 31/8 đã có thư phúc đáp họ.
Bức thư, do Tổng giám đốc HTV Trần Gia Thái ký, viết rằng các cuộc "tụ tập biểu tình, tuần hành tự phát đã làm ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự của thủ đô".
Thư cũng viết tình trạng tiếp tục biểu tình đã "gây bất bình trong dư luận xã hội".
HTV cho rằng phóng sự của họ là thể theo yêu cầu của "nhiều tầng lớp nhân dân thủ đô", vốn "mong muốn chính quyền sớm có biện pháp chấm dứt biểu tình tự phát".
"Ở nước ta, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ."
Nhà văn Nguyên Ngọc
Đài này còn đoan chắc "mới chỉ đưa bốn trong hàng trăm ý kiến đã ghi hình".
Về hình ảnh của ba vị nhân sỹ bị đưa lên trong phóng sự, HTV nói đây chỉ là "để minh họa cho nội dung trong bản tin chứ không nêu đích danh những người này là phản động, ch́ông đối như trong thư của các ông".
Thư của HTV thừa nhận "việc đưa bức ảnh trên không phù hợp với nhân thân một số người", và nói "đã kịp thời rút kinh nghiệm" với các phóng viên thực hiện phóng sự.
Tuy nhiên, Tổng giám đốc Trần Gia Thái trong bức thư đã không ngỏ lời xin lỗi.

Xúc phạm nặng nề

Sau khi nhận được thư của HTV, nhà văn Nguyên Ngọc, một trong những người yêu cầu cải chính xin lỗi, đã lên tiếng trên một diễn đàn mạng, bình luận rằng trả lời của ông Trần Gia Thái là "phủi tay và vô liêm sỉ".
Hiện chưa rõ nhóm người biểu tình có định tiếp tục khiếu nại của mình hay không.
Nhà văn Nguyên Ngọc cũng công bố bức thư ông gửi cho Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị trước khi nhận được phản hồi của HTV.
Biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội
Đã có tổng cộng 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội
Trong thư đề ngày 25/8, ông Ngọc viết: "Tôi năm nay đã 80 tuổi. Cho đến nay, trong suốt cuộc đời 80 năm qua của tôi, chưa có ai dám vu khống và xúc phạm tôi nặng nề như Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội".
"Ở nước ta, như chắc chắn ông biết, gọi một người là phản động cũng tức là kết tội người ấy là một tên phản quốc. Đối với tôi, đây là một sự lăng nhục cực kỳ nghiêm trọng, nhất quyết không thể tha thứ."
Nhà văn Nguyên Ngọc cũng nói với người đứng đầu cơ quan Đảng của thành phố, rằng HTV đã "sử dụng một thủ đoạn ti tiện" từng được áp dụng từ thời cải cách ruộng đất và Nhân văn Giai phẩm, là "dùng những người không được bất cứ ai cử ra nhưng lại được coi là đại biểu của “quần chúng nhân dân" lớn tiếng vu khống và chửi bới chúng tôi trên một phương tiện truyền thông chính thức của Đảng bộ và Chính quyền Hà Nội".
Được biết không chỉ HTV mà một số cơ quan truyền thông khác của Hà Nội cũng đăng tải các bài viết, phóng sự chỉ trích các cuộc biểu tình, gọi đây là do 'thế lực thù địch giật dây'.
Tổng cộng 11 cuộc tuần hành chống Trung Quốc đã diễn ra tại Hà Nội, với hàng trăm người tham gia.

Xét Giải thưởng Nhà nước: Cụm tác phẩm của ông Vũ Ngọc Liễn cần được cân nhắc

Hoàng Minh (TN&MT) - Ông Vũ Ngọc Liễn chỉ có công sưu tầm, ông có vài ba bài phân tích với số lượng trang rất khiêm tốn. Quy chế Giải thưởng Nhà nước không dành cho người sưu tầm... Về mặt bản quyền, sự cóp nhặt của nhiều tác giả thành của mình rồi khai báo xin giải thưởng là không trung thực, lấy quyển đã in nhiều tác giả thành sách của mình là vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm đạo đức người cầm bút....

*

Tôi đọc website của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, thấy có các quyển: Đào Tấn, thơ và từ; Đào Tấn, tuồng hát bội; Đào Tấn qua thư tịch là cụm công trình của ông Vũ Ngọc Liễn đã được Hội đồng cấp Bộ đề nghị Giải thưởng Nhà nước.

Về quyển Đào Tấn thơ và từ, NXB Sân khấu 2003 ghi "Vũ Ngọc Liễn biên khảo" là phiên bản của cuốn Thơ và từ Đào Tấn, NXB Văn học 1987, của nhóm biên soạn gồm 7 người: Vũ Ngọc Liễn (chủ biên) Nguyễn Thanh Hiện, Tống Phước Phổ, Mạc Như Tòng, Đỗ Văn Hỷ (hiệu đính), Xuân Diệu (giới thiệu), Hoàng Trung Thông (bạt). Về nội dung, quyển xuất bản 2003 ngoài lời bạt của Hoàng Trung Thông có thêm lời bạt của Thanh Thảo. Nhưng về tác giả bỏ bớt 6 người, chỉ ghi trang đầu Vũ Ngọc Liễn.

Vậy về mặt bản quyền, 2 quyển có vấn đề không minh bạch. Những người trong nhóm biên soạn là GS. Đỗ Văn Hỷ, nhà thơ Xuân Diệu, nhà thơ Hoàng Trung Thông, tác gia Tống Phước Phổ, ông Mạc Như Tòng đều đã mất từ trước 2003 nên không ai biết quyển NXB Sân khấu 2003 in tên một mình Vũ Ngọc Liễn.

Hơn nữa, đây là tuyển tập các tác phẩm của Đào Tấn, ông Vũ Ngọc Liễn chỉ có công sắp xếp lại. Nếu nói phần nghiên cứu thì là của Xuân Diệu, Đỗ Văn Hỷ, Hoàng Trung Thông - những người hiệu đính và viết tựa, bạt. Nếu nói dịch thuật thì của các nhà thơ Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông, Yến Lan, Mịch Quang, Hoàng Châu Ký...

PGS. Trần Nghĩa ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, trong một bài khảo cứu in báo đã viết: "Đào Tấn thơ và từ, ở phần Phụ lục, đã in lại nguyên văn chữ Hán toàn bộ các bài thơ hiện có trong Tiên nghiêm Mộng Mai thi thảo (do Tịnh Ba chép bằng bút sắt vào năm 1964) và Mộng Mai thi tồn (do Nguyễn Tòng chép bằng bút lông) cùng với 4 bài thơ đến từ các nguồn khác (cũng do Nguyễn Tòng chép bằng bút lông)". Vậy thì Thơ và từ Đào Tấn có được hôm nay là do bản chép của Nguyễn Tòng và Tịnh Ba.

Trên website Văn hóa Nghệ An, có bài của Phạm Văn Ánh "Sự thực về Mộng mai từ lục của Đào Tấn": "Cũng như sáng tác của hàng loạt tác gia Trung đại khác, sáng tác từ của Đào Tấn hiện không còn bản thảo gốc do đích thân tác giả chấp bút, các tác phẩm được chép rải rác trong nhiều sách khác nhau, bản đầy đủ hơn cả và được coi là "đáng tin cậy hơn hết" do hai con gái của tác giả là Trúc Tiên và Chi Tiên kí lục, Tịnh Ba (hay Tĩnh Ba) phụng sao vào thượng tuần tháng Chạp năm Giáp thìn (1964)(1). Nhờ sự nỗ lực của một số dịch giả, nhà nghiên cứu, 24 bài từ của Đào Tấn đã được dịch, giới thiệu lần đầu vào năm 1987, qua sách Thơ và từ Đào Tấn (Nhà xuất bản Văn học, H, 1987), và được giới thiệu toàn bộ (60 bài) vào năm 2003, qua sách Đào Tấn thơ và từ (Nhà xuất bản Sân khấu, H, 2003)".

Như vậy sự việc này, các nhà học thuật đã phân tích rõ. Con gái cụ Đào Tấn đã gửi bản chép tay của Nguyễn Tòng và Tịnh Ba cho các nhà nghiên cứu làm tài liệu nghiên cứu chứ không hề gửi cho ông Vũ Ngọc Liễn ! Một vấn đề khác là một số bài từ trong cuốn này cũng chưa ai khẳng định chắc chắn là của Đào Tấn.

Tương tự như thế là quyển Đào Tấn, tuồng hát bội, ông Vũ Ngọc Liễn sưu tầm lại từ con cháu Đào Tấn chứ đâu phải quyển nghiên cứu tuồng của Vũ Ngọc Liễn. Rồi quyển Đào Tấn qua thư tịch là tập hợp những bài nghiên cứu và tham luận Hội thảo về Đào Tấn của khoảng 30 tác giả khác gồm Cường Để, Phan Bội Châu, Tự Đức, Quách Tấn, Sơn Tùng, Mịch Quang, Mạc Như Tòng, Nguyễn Khắc Phê, Trần Văn Thận, Hồ Đắc Bích, Huỳnh Lý, Nguyễn Thanh Mừng, Hoàng Châu Ký, Lê Xuân Lít, Từ Lương, Phan Xuân Hoàng, Nguyễn Thị Nhung, Tất Thắng, Nguyễn Đức Lộc, Tống Phước Phổ, Lê Ngọc Cầu, Nguyễn Lai, Hoàng Chương, Nguyễn Văn Chương, Lưu Trọng Lư, Hồ Ngọc, Nguyễn Huệ Chi, Hà Xuân Trường... ông Vũ Ngọc Liễn sưu tầm, sắp xếp in thành sách và khai báo nhận thưởng.

Như vậy, các tác phẩm ông Vũ Ngọc Liễn đề nghị xét Giải thưởng Nhà nước là các tác phẩm của Đào Tấn và nhiều tác giả nghiên cứu, dịch thuật, hiệu đính tác phẩm Đào Tấn. Ông Vũ Ngọc Liễn chỉ có công sưu tầm, ông có vài ba bài phân tích với số lượng trang rất khiêm tốn. Quy chế Giải thưởng Nhà nước không dành cho người sưu tầm. Có chăng là ở lĩnh vực sưu tầm nghiên cứu văn nghệ dân gian, chứ không phải sưu tầm tác phẩm của đồng nghiệp.

Về mặt bản quyền, sự cóp nhặt của nhiều tác giả thành của mình rồi khai báo xin giải thưởng là không trung thực, lấy quyển đã in nhiều tác giả thành sách của mình là vừa vi phạm pháp luật, vừa vi phạm đạo đức người cầm bút.

Mặt khác, văn bản Thơ và từ Đào Tấn còn nhiều tồn nghi, lẫn lộn với các văn bản, cần có sự thẩm định về văn bản học.

Vì những lý do trên và cũng là để tránh những kiện cáo hậu giải thưởng đảm bảo uy tín cho Hội đồng cấp Nhà nước, việc xét Giải thưởng Nhà nước cho cụm tác phẩm của ông Vũ Ngọc Liễn cần được cân nhắc.


“Trường ca biển”- Một tác phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo của Hữu Thỉnh sắp được giải thưởng Hồ Chí Minh

Trần Mạnh Hảo (danlambao) - Trên các trang mạng, chúng tôi vừa công bố bài viết : “Hai tác phẩm của ông Hữu Thỉnh dự giải thưởng Hồ Chí Minh 2011; một tác phẩm dở và một tác phẩm phạm quy”.Trong bài báo này, chúng tôi đã phân tích cặn kẽ và chứng minh rõ ràng rằng tập thơ “Thương lượng với thời gian” của Hữu Thỉnh dự xét giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2011 là một tập thơ dở, nhạt nhẽo, ít có giá trị nghệ thuật. Nay chúng tôi xin mời qúy độc giả cùng chúng tôi khảo sát thêm một tập thơ khác là “Trường ca Biển” của Hữu Thỉnh (do NXB Quận đội nhân dân in năm 2004 – trong đó in kèm hai trường ca: “Đường tới thành phố” và “Sức bền của đất”). Trong tập “Trường ca Biển”, trường ca này in từ trang143 đến trang 202, chia làm sáu chương.

Chúng tôi buộc lòng phải làm khổ bạn đọc là xin trích nguyên chương một “Trường ca Biển” ra đây để nhờ qúy vị độc giả, hoặc nhờ quý vị trong hội đồng xét đề cử giải thưởng văn học Hồ Chí Minh 2011 của Hội nhà văn Việt Nam, quý vị trong hội đồng xét giải thưởng văn học nghệ thuật Hồ Chí Minh của nhà nước có con mắt xanh chỉ dùm cho chúng tôi xem, trong “biển thơ” dài dằng dặc của chương một mở đầu này, chất thơ nằm ở đâu, chất nghệ thuật nằm ở đâu ? Chứ chúng tôi, vốn người trần mắt thịt, chỉ thấy toàn bộ chương “Dốc biển” mở đầu “Trường ca Biển” này của Hữu Thỉnh toàn chữ là chữ mà tịnh không thấy một câu thơ. 

Xin trích :


“Chương một: Dốc biển
Đi hết Trường Sơn ra với đảo
Dốc lại dựng lên trong mỗi ngày thường
Mỗi ngọn sóng một đỉnh đèo thác trắng
Bóng mát thật hiền dưới vành mũ gian nan

Đến một ngày kia những người lính đã tới biển của mình. Cuộc gặp gỡ của triệu năm với đứa con trận mạc. Không chỉ là người lính lạ lẫm, chính biển lạ lẫm đầu tiên. Biển thốt lên: "Người sắp thắng trận sao mà hốc hác quá". Những người lính cầm le ta cành sú hoe vàng, cầm luôn cả một miền che chở mới. Người lính nói: "Tôi đi qua nhiều bóng mát để về đây". Bóng mát đã lùi xa. Mực tím đã trải lại cho tuổi học trò. Tiếng gàu sòng đã trả về cho cơn hạn hán. Trước mặt là biển, bốn bề là biển, hình như phải nói một câu gì với biển.Và người lính nói:- Hôm nay tôi thấy biển lần đầu. Biển nói:- Mái gianh nhà anh không nói thế.Vại nước gốc cau nhà anh không nói thế. Người lính nói:- Tôi phải làm gì.Biển nói:- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.

Đó là, nghi lễ đầu tiên và nghi lễ cuồi cùng. Người lính nói:- Mẹ dặn tôi: Ra sông lấy sóng mà yêu. Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin.Tôi đã tin và chưa hề bị ngã. Biển nói:- Không ngã chưa chắc đã khỏi chìm. Người lính nói:- Có bí quyết gì sau sóng kia chăng? Biển nói: - Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.Người lính nói: Tôi đã đi suốt hai đầu đất nước. Biển hiu hiu thán phục- Những vết thương của tôi nhiều hơn cả tuổi đời.Biển hiu hiu thán phục. Và biển chỉ hỏi anh đơn giản điều này:- Anh có biết bơi không? Người lính nói:- Không phải ai cũng biết bơi. Thế mà sao vẫn rất nhiều cái huơ tay hãnh tiến. Biển nói: - Họ đang bơi trên số phận của mình. Một nửa trí khôn của con người là tìm cách chứng nhận mình và chứng nhận lẫn nhau. Người lính nói: - Cây không đi tìm gió, nhưng kẻ thù sẽ đến tìm ta. Ta lấy gì để che mắt chúng? Màu cát hay màu biển. Biển nói- Còn lại một mình anh. Người lính nói"- Tôi phải làm gì? Biển nói: - Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói: - Tôi có nhiều bạn.
Tôi cầm tay nhiều người Nhiều người cầm tay tôi
Tôi sẽ gọi tên ai đầu tiên trong cơn khát biển? Biển nói:- Kẻ thù nói ngoài khơi có vàng và tìm cách cướp vàng.Bạn bè nói ngoài khơi có sóng dữ và chia sóng cùng anh. Hãy gọi ai không biến sóng dữ của kẻ khác thành quà tặng cho mình. Người lính nói:- Bao năm rồi tôi nhìn mây biết giớ nhìn cỏ biết mưa, cả cánh buồm cũng giúp tôi chạy thóc và nhà trước khi cơn giông đến. Gió đấy, cỏ ấy và cánh chuồn mau mắn ấy có giúo gì tôi ở biển? Biển nói:- Đó là những đồng tiền để tiêu trên mặt đất. Người lính nói:- Bao vốn liếng cả một đời góp nhặt. Bước xuống tàu bỗng thành kẻ tay không. Biển nói:- Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ Sống với nước hãy bắt đầu từ nước. Người lính nói:- Xin tạm biệt những dây hòm dây cóc day mai.
Đến thay đôi thiếu đứt
Giúp ta xong buổi cày
Xin tạm biệt những cử nâu me mệt ngủ
Chín dần bên dấu chân voi.
Xin tạm biệt những buổi trưa bát vở những buổi tối hết dầu những ban mai thổi lửa.
Tạm biệt em, nỗi éo le của anh, dang dở của anh, cay đắng của anh; tạm biệt cơn khát tình vằng vặc.
Em đã đến thở than trên sáo trúc
Xua đêm đi thành mộng mị đời anh...

Lời sóng I

Những người lính ra đảo/Có dòng sông đồng hành/Năm dài và đất rộng/Vui buồn sau chiến tranh/Có người lính xây thành/Lẫn vào lau biên ải/Có bao người con gái/Đến thăm nàng Vọng Phu../.Biển thành nắng thành mưa/ Của đất liền vòi vọi/ Biển thành đêm thành ngày/ Nồng nàn trên gối cưới/ Em muốn đem tóc xanh/ Buộc trời cho đỡ bão/ Em muốn gửi tròn tay/ Gối mềm trên cát đảo…” ( hết trích)


Giả sử như năm chương sau của “Trường ca Biển”, Hữu Thỉnh viết thật hay, thì cũng không cứu nổi trường ca này rơi xuống biển nhạt nhẽo mất tăm vì toàn chương một là những con sâu lớn làm rầu nồi canh mất rồi. Chẳng lẽ, chúng tôi phải in lại toàn bộ “Trường ca biển” trong bài viết này để tra tấn bạn đọc, đành phải trích thêm một đoạn khá nhất của chương hai có tên là “ Cát” để các vị trong các hội đồng xét giải thưởng dùng con mắt xanh chỉ cho chúng tôi xem đoạn trích dưới đây thơ nằm ở đâu, nghệ thuật nằm ở đâu, xúc động nằm ở đâu ? Xin trích : “…

Cát ở đây là lối đi
Cát là chỗ ăn cơm chiêu ngụm nước
Cát là giường nằm gối đầu lên cát
Cát theo lá thư đồng đội gửi về

Cát ở đây là tất cả
Cát là tiền duyên cát là điểm tửa
Nơi chạm súng đầu tiên chốt cặn sau cùng
Sống cát là bệ tì
Chết cát là hoa tươi và nước mắt
Sống cát là màu che mắt địch
Chết cát là màu tang
Không có chỗ nào không có cát
Không có điều gì không có cát
Cúng tôi bắt đầu ngả bóng của mình lên

Bóng ngả về Đông về Tây về Nam về Bắc
Bóng chúng tôi nóng lên dưới cát
Bóng chúng tôi che lên Đất Nước
Giữ nguyên lời dặn của ông bà

Chúng tôi vốc cát lên
Chúng tôi nghe cát nói
Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa

*

- Cấm đi câu ti tắm một mình
Xuống nước phải mang theo dao găm
Lũ cá he hay bổ từ trên xuống

- Cấm bơi xa miệng vực
Ở đấy nhiều sóng ngầm nhiều cá mực
Và nếu chẳng may
Nhất thiết phải bơi đứng
Cá mập không quen săn mồi thẳng

- Không được lệnh quân y
Cấm ăn một thứ lạ
Những mệnh lệnh lạnh lùng
Chúng tôi học từ máu người đi trước
Chúng tôi học để làm quen và đứng vững
Để có thể nói rằng tôi đang ở Trường Sa.

Tôi đang ở Trường Sa
Trong đội hình Song Tử Đông, Song Tử Tây, An Bang Nam Yết

Kết bạn với vô cùng
Đảo rập rờn chìm nổi những quả cân
Cân người lính và hiểm nguy đời lình

Bạn tôi đang thổi sáo sau hầm
Bỗng ngừng bặt
Giữa chừng réo rắt
Chúng tôi chạy ra
Chấp chới cánh tay ngoài năm sải nước
Tiểu đội xếp hàng chuyển gạo
Sóng lườn quanh thân
Bỗng
Một tiếng thét
Một vũng máu
Một khoảng trống

Tôi gào lên
Im ắng rợn người

Tìm qua sóng
Gặp đàn cá mập
Rong rêu nhiều
Mà mất bạn
Bạn ơi!

Hôm đó đảo có thêm gạo mới
Chúng tôi đầu bỏ cơm
Hôm đó đất liền ra thư
Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc
Gạo chiều nay thành cơn cúng đưa tang
Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu
Ngày mai lại có đoàn văn công
Em hãy đến
Ngổn ngang
Cùng im lặng!  


( hết trích)

Hầu hết những cái gọi là câu thơ trên đều chỉ là những câu nói dẫn chuyện (tự sự) năng xuống dòng mà thành. Đã nhiều lần chúng tôi cho rằng, trong thơ có nói, nhưng chỉ là những câu nói thông thường năng xuống dòng thì dứt khoát không phải là thơ.


Xin trích thêm một đoạn gọi là “thơ toàn nói” của Hữu Thỉnh trong chương ba có tên “Tự thuật của người lính”, như sau:

“…
Tôi được ăn bữa no đầu tiên
Cha phá kho thóc Nhật
Dòng khẩu hiệu trên nong nia thúng mẹt
Năm làng tôi đi cướp quyền
Tôi nhập tâm những chữ cái đầu tiên

Ngồi tránh đạn trong chiếc hầm thước thợ
Tôi còn dễ mất hơn
Hòn cuội trắng trong chiếc bao diêm nhõ
Một đứa trẻ bị bỏ quên và dễ vỡ
Vẫn bị rầy vì cài cúc so le
Tôi đã lớn để trở thành người lính
Thọc đôi tay vào chiếc túi của rừng
Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn được
Để có giấc ngủ yên mười lăm hai mươi phút
Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm

Đã đem theo những căn nhà mái thấp
Đường vào Nam mưa mỗi lúa mỗi to
Đã giấu mình trong lá lau lá chít
Đã nấu nung để chớp giật không ngờ

Chúng tôi chưa bao giờ yên tĩnh
Đi như song hiếu động như rừng
Đã để lại thảnh thơi cho cỏ
Và nhận về giông bão trên lưng

Đã khắc vào cây để nhớ một ngày
Để nhớ một người để thương đất nước
Đã để ít đời mình nơi ngã ba khốc liệt
Đã bông đùa xen kẽ với bom rơi

Tôi đã ăn những quả cà kho mặn
Hái trong vườn có nắng xiên quai
Có chú ve sầu làm tổ gốc cây
Kêu sốt ruột những ngày tôi đi vắng

Cố nhóm lửa lại vội vàng qiấu khói
Cơm chín rồi cứ ngân ngấn thương nhau
Tiếng nai tác đi ăn than ngoài rẫy
Sao ta hoài thắc thỏm đâu đâu

Sao hay nhớ hay thương va hay vấp
Bước say mê trên sông núi hữu tình
Chiếc lá mở trước của hầm thân mật
Thưa của trời súc tích chỉ màu xanh

Tôi đeo quanh cây của đất nước mình
Làm chùm quả dưới vòm trời nhiệt đới
Những chùm quả có nắng vào làm lõi
Cứ ngày ngày thơm thảo với quê hương


(hết trích)

Câu gọi là thơ nôm na hơn cả câu nói đời thường kiểu: “Đường vào Nam mưa mỗi lúc mỗi to”…là dáng tiêu biểu những “câu thơ toàn nói” của Hữu Thỉnh trong “Trường ca biển”.

Xin trích thêm một đoạn trong chương năm:

“Cho những buổi trưa đàn trâu mộng dầm mình trong nước sánh. Cho bên lở bên bồi tạo hóa buộc lòng bất công dằng dặc. Cho lóng một lóng đôi rổ rá giần sàng, che chắn gió biến thành kẻ ăn người ở.

Cho bên ấy bên này diệu vợi, cả tiếng gọi đò cũng là quà tặng của dòng sông
Khi gặp biển đó là lúc sông đem cho lần cuối, một cuộc cho trọn vẹn huy hoàng như thơ cho, như mùa dâng quả, cô gái biến thành nàng dâu để lại sau lưng bao tiếng thở dài. Và khi không còn gì để cho, sông như tráng sĩ không còn vũ khí, giáo chủ không còn mật kinh, võ sư không còn bí quyết; sông như nghệ sĩ đã nắm xong vai, một kẻ trắng tay giàu có đo mình bằng kích thước của biển.

Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu không cùng
Sông - những cây nước khổng lồ
Bóng mát mệt mê mang mang bồi đắp
Sông góp củi cho nồi cơm lớn
Lòng vị tha là người khách sau cùng

Dưới đáy biển
Sông lang thang tìm lại các dòng sông
Trên mặt sóng
Đảo đang vào mùa nắng


*

Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tụng lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt; Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui’’

( hết trích)

Hữu Thỉnh ưa triết lý, mà hầu như toàn triết lý sống sượng, buồn cười, ví dụ :

“Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu khôn cùng”

Bốn câu gọi là thơ này của Hữu Thỉnh nếu đem đi dự thi báo “Tuổi Trẻ Cười” chắc sẽ được giải cao.

Triết lý như những “câu thơ” này của Hữu Thỉnh còn chết cười hơn nữa :

“Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tụng lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt; Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui”

Hữu Thỉnh quả là có óc hài hước, có tài về thơ chọc cười ngay trong khi chơi thơ trữ tình quả là xưa nay hiếm có.

Thường trong “Trường ca biển”, Hữu Thỉnh hay triết lý rất ngô nghê, dông dài, lẩm cẩm, buồn cười, như sau :

“Dưới bầu trời khắc nghiệt của chiến tranh
Tôi ít nói nhường lời cho súng nổ
Chính khẩu súng cũng giúp tôi gạt bỏ
Tính hiếu kỳ như một sự trớ trêu
”

Có khi Hữu Thỉnh “triết lý” rất chi là bí hiểm, y như đánh đố, sao lại : “Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống không phải mẹ”…


“thế lày nà thế lào” thưa nhà thơ Hữu Thỉnh ? Xin trích cả đoạn này, để quý độc giả suy luận, khỏi mang tiếng cắt xén :

“Mẹ ơi , khi con đau đớn nhận ra cái ác là vô cùng
Cũng là lúc con nhận ra sự hữu hạn của lòng tốt

Mảnh ván con bơi là lòng tốt cuối cùng
Trên thế gian đầy bất trắc
Ngày thứ tư con "đi" trên biển

Bằng đôi tay của mình
Số phận biến con thành một chú bọ gậy ngang tàng

Không chịu chết vì chán nản
Và khi cả người con dán chặt vào đất
Như một - con - tem - người
Dán vào dòng đời
Con bỗng nhận ra không phải lá cờ ta
Không phải mẹ
Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống không phải mẹ”

(hết trích)

Nói cho công bằng, trong “Trường ca biển” nếu chịu khó đãi cát tìm vàng, vẫn có thể tìm thấy một vài đoạn thơ khá, ví dụ :

“Đom đóm ơi đom đóm dẫn đi đâu
Đêm là tàu lá sen che nửa phần trái đất
Ấy là lúc những vì sao xa lắc
Nối với tôi qua một sợi dây diề
u”

Và câu hay :
“ Ngày anh về
Lúa đồng cúi hạt”


Nhưng những câu hay, câu khá như trên quả là hiếm hoi trong thi phẩm này của Hữu Thỉnh.

Trong “Trường ca biển”, ta bắt gặp lối viết, cách nói phúng chỉ, ví von thẽo thọt, tủi phận …lặp lại từ các tập thơ trước của chính tác giả, ví dụ :

“Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm còn quá rộng / Đêm như là vắt kiệt các vì sao”, “Đồng vắt kiệt nằm than trong gió bấc”, “Không không mẹ dặn tôi không/ Ngọt chả sợ đường đường không sợ lội”, “Chim ngói cả tin mắc lồng oan nghiệt/ Ngọn tơ hồng chết nghẹn giữa bòng bong”…. Hoặc một câu lục bát thất vận : “Cầu vồng xanh đỏ tím vàng/ Chim cu toan đổi chuỗi cườm trời cho”…

Nói tóm lại “Trường ca biển” là một thi phẩm làng nhàng, nhạt nhẽo, thiếu hẳn giá trị nghệ thuật vì tác giả viết bằng sự khéo tay, thiếu xúc cảm, thiếu một trái tim chân thành của một thi sĩ đúng nghĩa. Chẳng lẽ người ta lại đi tôn vinh hai tác phẩm dở tệ này của Hữu Thỉnh là “ Trường ca biển” và “ Thương lượng với thời gian” bằng giải thưởng Hồ Chí Minh, để tìm cách hạ thấp giá trị của giải thưởng này đến mức không còn từ gì để nói thế này ư ?

Sài Gòn ngày 01-9-2011